Công văn 6051/CT-VP Cục Thuế đề xuất phương án tổ chức bộ phận một cửa của hệ thống ngành dọc ra sao?

14:30 | 22/08/2026
Công văn 6051/CT-VP Cục Thuế đề xuất phương án tổ chức bộ phận một cửa của hệ thống ngành dọc ra sao? Nguyên tắc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông như thế nào?
Nội dung chính
  1. Công văn 6051/CT-VP Cục Thuế đề xuất phương án tổ chức bộ phận một cửa của hệ thống ngành dọc ra sao?
  2. Nguyên tắc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông như thế nào?
  3. Người nộp thuế sau khi nộp hồ sơ đăng ký giao dịch bằng phương thức điện tử thì bao lâu nhận được phản hồi từ cơ quan thuế?

Công văn 6051/CT-VP Cục Thuế đề xuất phương án tổ chức bộ phận một cửa của hệ thống ngành dọc ra sao?

Ngày 19/08/2026, Cục Thuế đã có Công văn 6051/CT-VP năm 2026 về việc triển khai thực hiện Nghị định 309/2026/NĐ-CP thực hiên thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa.

>> Tải về Công văn 6051/CT-VP năm 2026

Ngày 05/8/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 309/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 118/2025/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 367/2025/NĐ-CP.

Cục Thuế đề nghị các Thuế tỉnh, thành phố, các Ban, đơn vị thuộc Cục Thuế nghiên cứu, triển khai thực hiện các nội dung tại Nghị định 309/2026/NĐ-CP, cụ thể về tổ chức bộ phận một cửa của hệ thống ngành dọc như sau:

Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 309/2026/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung Điều 7 Nghị định 118/2025/NĐ-CP), việc tổ chức Bộ phận Một cửa (BPMC) đối với cơ quan tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương được quy định cụ thể như sau:

Thẩm quyền quyết định tổ chức BPMC đối với cơ quan tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương: Người đứng đầu cơ quan ngành dọc quyết định tổ chức Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả (Bộ phận Một cửa) tại cơ quan mình. Trường hợp người đứng đầu cơ quan ngành dọc không tổ chức Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả tại cơ quan mình, thì phải bố trí cán bộ, công chức, viên chức đến Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã nơi cơ quan ngành dọc đặt trụ sở để tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính.

Căn cứ quy định trên thi Cục trưởng Cục Thuế sẽ xem xét quyết định tổ chức BPMC tại cơ quan thuế các cấp hoặc Trung tâm phục vụ hành chính công cấp tỉnh, xã. Để kịp thời xem xét quyết định, Cục Thuế đề nghị các đơn vị, Thuế tỉnh, thành phố rà soát, đánh giá thực trạng việc tiếp nhận, trả kết quả thủ tục hành chính thuế tại các Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp. Trên cơ sở rà soát nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị tại cơ quan thuế các cấp để đề xuất phương án tổ chức việc tiếp nhận và trả kết quả TTHC theo một trong hai phương án sau:

- Phương án 1: Tổ chức Bộ phận Một cửa tại trụ sở Cơ quan Thuế cấp tỉnh, cấp cơ sở để thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết TTHC thuế;

- Phương án 2: Tiếp tục bố trí công chức thuế thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết TTHC thuế tại các Trung tâm Phục vụ hành chính công.

Đề xuất của Thuế tỉnh, thành phố báo cáo gửi về Cục Thuế (qua Văn phòng) trước ngày 21/8/2026 để tổng hợp.

Công văn 6051/CT-VP Cục Thuế đề xuất phương án tổ chức bộ phận một cửa của hệ thống ngành dọc ra sao?

Công văn 6051/CT-VP Cục Thuế đề xuất phương án tổ chức bộ phận một cửa của hệ thống ngành dọc ra sao? (Hình từ Internet)

Nguyên tắc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông như thế nào?

Căn cứ Điều 4 Nghị định 118/2025/NĐ-CP được bổ sung bởi Điều 2 Nghị định 309/2026/NĐ-CP quy định nguyên tắc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông như sau:

(1) Lấy sự hài lòng của tổ chức, cá nhân là thước đo chất lượng và hiệu quả phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức và cơ quan có thẩm quyền.

(2) Việc giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông được quản lý tập trung, thống nhất.

- Cơ quan tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính có trách nhiệm khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu đã có trong các cơ sở dữ liệu để thay thế thành phần hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính; không yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp thành phần hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính mà các thông tin trong thành phần hồ sơ đã có dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu được cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu công bố, kết nối chia sẻ theo quy định. Trường hợp không khai thác được dữ liệu do sự cố, thảm họa hoặc thông tin chưa chính xác để giải quyết thủ tục hành chính thì cơ quan tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính được yêu cầu tổ chức, cá nhân bổ sung thông tin, giấy tờ cần thiết theo quy định.

- Khuyến khích cơ quan, tổ chức triển khai ki-ốt thông minh tại Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả, Trung tâm Phục vụ hành chính công, Điểm tiếp nhận và trả kết quả để hỗ trợ tổ chức, cá nhân tiếp cận, thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến; đảm bảo việc sử dụng ki-ốt thông minh không làm thay đổi thẩm quyền, trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết, trả kết quả thủ tục hành chính của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

(3) Giải quyết thủ tục hành chính kịp thời, nhanh chóng, thuận tiện, đúng pháp luật, công bằng, bình đẳng, khách quan, công khai, minh bạch và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

(4) Quá trình giải quyết thủ tục hành chính được đôn đốc, kiểm tra, theo dõi, giám sát, đánh giá bằng các phương thức khác nhau trên cơ sở đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và có sự tham gia của tổ chức, cá nhân.

(5) Không làm phát sinh chi phí thực hiện thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân ngoài quy định của pháp luật.

(6) Cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan có thẩm quyền thực hiện trách nhiệm giải trình về thực thi công vụ trong giải quyết thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật.

(7) Tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và các thỏa thuận, điều ước quốc tế có liên quan đến thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập.

Người nộp thuế sau khi nộp hồ sơ đăng ký giao dịch bằng phương thức điện tử thì bao lâu nhận được phản hồi từ cơ quan thuế?

Căn cứ khoản 3 Điều 13 Thông tư 89/2026/TT-BTC quy định như sau:

Đăng ký, thay đổi, bổ sung thông tin và ngừng giao dịch thuế điện tử
...
3. Trường hợp người nộp thuế đăng ký giao dịch thuế điện tử thông qua Hệ thống thông tin quản lý thuế:
a) Người nộp thuế thực hiện kê khai theo mẫu số 01/ĐK-TĐT Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư này. Người nộp thuế cung cấp số điện thoại, một địa chỉ thư điện tử chính thức, đang hoạt động và thuộc quyền sử dụng của người nộp thuế, để nhận thông báo của cơ quan thuế. Đồng thời, người nộp thuế có thể đăng ký số điện thoại hoặc tài khoản điện tử khác để đảm bảo các thông báo bằng hình thức điện tử của cơ quan thuế được người nộp thuế tiếp nhận kịp thời.
Chậm nhất 15 phút kể từ khi nhận được hồ sơ, cơ quan thuế thông báo chấp nhận kèm tài khoản giao dịch thuế điện tử hoặc không chấp nhận theo mẫu số 04/TB-TĐT Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư này qua Hệ thống thông tin quản lý thuế và địa chỉ thư điện tử chính thức đã đăng ký;
...

Như vậy, chậm nhất 15 phút kể từ khi nhận được hồ sơ, cơ quan thuế thông báo chấp nhận kèm tài khoản giao dịch thuế điện tử hoặc không chấp nhận theo mẫu số 04/TB-TĐT Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư này qua Hệ thống thông tin quản lý thuế và địa chỉ thư điện tử chính thức đã đăng ký.

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Quản lý thuế Xem thêm

Bài viết mới nhất