Thực tiễn công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài?

Bùi Thị Như Ý 514 lượt xem
16:27 | 10/04/2025
Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài? Thực tiễn bản án yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài?
Nội dung chính
  1. Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài?
  2. Thực tiễn bản án yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội?

Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài?

Căn cứ Điều 464 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định như sau:

Nguyên tắc áp dụng

1. Phần này quy định về thẩm quyền, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài; trường hợp Phần này không có quy định thì áp dụng các quy định khác có liên quan của Bộ luật này để giải quyết.

2. Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài;

b) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;

c) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.

3. Các hoạt động tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp.

Căn cứ Điều 424 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định như sau:

Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

1. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:

a) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài;

b) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại.

2. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành.

3. Trọng tài nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định của Luật trọng tài thương mại của Việt Nam.

Theo đó, thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài là thủ tục tố tụng quốc tế.

Khi xem xét thẩm quyền của Tòa án thì căn cứ Mục 2 Chương 2 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Theo đó, Tòa án cấp tỉnh là tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành.

Xác định quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành thì căn cứ Điều 425 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định như sau:

Quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài

1. Người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài, nếu cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài có tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu.

...

Theo quy định trên, thẩm quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài là người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ.

Tuy nhiên, cá nhân phải thi hành cần cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến việc thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài có tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu.

Xác định thời hiệu yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài theo quy định tại Điều 451 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 như sau:

Thời hạn gửi đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành

1. Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày phán quyết của Trọng tài nước ngoài có hiệu lực pháp luật, người được thi hành, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên không quy định hoặc không có điều ước quốc tế liên quan để yêu cầu Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết đó.

2. Trường hợp người làm đơn chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể gửi đơn đúng thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn.

Theo đó, thời hạn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài là 03 năm kể từ khi phán quyết của Trọng tài nước ngoài có hiệu lực.

Đơn yêu cầu được tiến hành gửi đến Bộ Tư pháp Việt Nam hoặc Tòa án có thẩm quyền, hoặc theo quy định tại Điều ước quốc tế của 02 quốc gia.

Trừ trường hợp bất khả kháng thì thời hạn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài được kéo dài thêm.

Việc công nhận và cho thi hành phụ thuộc vào 02 quốc gia có cùng là thành viên của một Điều ước quốc tế có quy định về công nhận và cho thi hành tại quốc gia được yêu cầu phán quyết của Trọng tại nước ngoài tại quốc gia có yêu cầu.

Tòa án không công nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài khi xét thấy chứng cứ do bên phải thi hành cung cấp cho Tòa án để phản đối yêu cầu công nhận là có căn cứ, hợp pháp và phán quyết trọng tài thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 459 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 như sau:

Những trường hợp không công nhận

1. Tòa án không công nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài khi xét thấy chứng cứ do bên phải thi hành cung cấp cho Tòa án để phản đối yêu cầu công nhận là có căn cứ, hợp pháp và phán quyết trọng tài thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Các bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực để ký kết thỏa thuận đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên;

b) Thỏa thuận trọng tài không có giá trị pháp lý theo pháp luật của nước mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo pháp luật của nước nơi phán quyết đã được tuyên, nếu các bên không chọn pháp luật áp dụng cho thỏa thuận đó;

c) Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thi hành không được thông báo kịp thời và hợp thức về việc chỉ định Trọng tài viên, về thủ tục giải quyết vụ tranh chấp tại Trọng tài nước ngoài hoặc vì nguyên nhân chính đáng khác mà không thể thực hiện được quyền tố tụng của mình;

d) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được tuyên về một vụ tranh chấp không được các bên yêu cầu giải quyết hoặc vượt quá yêu cầu của các bên ký kết thỏa thuận trọng tài. Trường hợp có thể tách được phần quyết định về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại Trọng tài nước ngoài thì phần quyết định về vấn đề được yêu cầu giải quyết có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;

đ) Thành phần của Trọng tài nước ngoài, thủ tục giải quyết tranh chấp của Trọng tài nước ngoài không phù hợp với thỏa thuận trọng tài hoặc với pháp luật của nước nơi phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được tuyên, nếu thỏa thuận trọng tài không quy định về các vấn đề đó;

e) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài chưa có hiệu lực bắt buộc đối với các bên;

g) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài bị cơ quan có thẩm quyền của nước nơi phán quyết đã được tuyên hoặc của nước có pháp luật đã được áp dụng hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành.

2. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài cũng không được công nhận, nếu Tòa án Việt Nam xét thấy:

a) Theo pháp luật Việt Nam, vụ tranh chấp không được giải quyết theo thể thức trọng tài;

b) Việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Như vậy, sau khi chủ tọa phiên tòa xem xét đảm bảo đầy đủ các trình tự, thủ tục và không thuộc các trường hợp không công nhận và cho thi hành sẽ tiến hành chấp nhận yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài.

 

Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài? (Hình từ Internet)

Thực tiễn bản án yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội?

Tham khảo nội dung tại Quyết định về yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài số 05/2017/QĐKDTM-ST như sau:

Tóm tắt bản án:

"Bên được thi hành và Công ty CP đầu tư và phát triển T ký Hợp đồng số CXL44594 ngày 10/12/2014 về việc Mua bán buôn than cốc Úc, sửa đổi bởi Phụ Lục số 1 ngày 08/01/2015 và Phụ lục số 2 không ghi ngày nhưng được Rolf Stuessi ký thay mặt Bên được thi hành vào khoảng ngày 11/5/2015 và được Bên phải thi hành nhất trí vào khoảng thời gian cùng ngày, Bên được thi hành nhất trí bán và Bên phải thi hành nhất trí mua và nhận bàn giao 50.000 tấn than cốc sạch Oaky Creek của Úc, +/- 10% sai số do vận chuyển.

Hội đồng trọng tài đã ban hành Phán quyết một phần số 060 năm 2016 vào ngày 16/5/2016 và Phán quyết cuối cùng số 101 năm 2016 vào ngày 31/08/2018. Theo các Phán quyết này Bên phải thi hành có các nghĩa vụ như sau:

Bên phải thi hành phải trả cho Bên được thi hành số tiền bồi thường là 2.255.00,00 USD cho tổn thất giá trị thị trường và 776.000,00 USD cho số tiền phải trả để thanh toán cho yêu cầu về giữ tàu quá hạn và các yêu cầu khác. Tổng cộng là 3.031.000,00 USD.

Bên phải thi hành phải trả cho Bên được thi hành:

- Số tiền lãi cho số tiền 2.225.000,00 USD nêu trên liên quan đến tổn thất giá trị thị trường cho đến và tính cả ngày 06/6/2016 với tổng số tiền là 56.816,14 USD.

- Số tiền lãi cho số tiền 776.000,00 USD nêu trên liên quan đến số tiền phải trả để thanh toán cho yêu cầu về việc giữ tàu quá hạn và các yêu cầu khác cho đến và tính cả ngày 06/6/2016 với tổng số tiền là 18.283,89 USD.

- Số tiền lãi tiếp theo kể từ và kể cả ngày 07/6/2016 cho đến khi thực hiện chi trả với số tiền lãi theo ngày là 220,89 USD."

Sau khi yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài, Tòa án Việt Nam quyết định như sau:

Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Phán quyết một phần số 060 năm 2016 ngày 16/5/2016 và Phán quyết cuối cùng số 101 năm 2016 ngày 31/08/2018 của Trung tâm trọng tài quốc tế Singapore (SIAC) tại Việt Nam.

Hiện nay, Việt Nam và Singapore đều là thành viên của Công ước New York 1958, nên yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài sẽ tiến hành xem xét những điều kiện dựa trên Điều ước quốc tế.

Tóm lại, yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài hoàn toàn không thuộc bất kỳ trường hợp không công nhận và cho thi hành nên Tòa án nhân dân Hà Nội chấp nhận yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài là hoàn toàn có căn cứ.

Bùi Thị Như Ý
Bùi Thị Như Ý Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất