Không thực hiện đóng bảo hiểm do ảnh hưởng của lũ lụt thì không phải trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có đúng không?

— 164 lượt xem
13:48 | 22/11/2025
Có phải mọi trường hợp không đóng bảo hiểm đều là hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không? Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động có thể bị xử lý ra sao?
Nội dung chính
  1. Không thực hiện đóng bảo hiểm do ảnh hưởng của lũ lụt thì không phải trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có đúng không?
  2. Người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động có thể bị xử lý như thế nào?

Không thực hiện đóng bảo hiểm do ảnh hưởng của lũ lụt thì không phải trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có đúng không? 

Tại Điều 39 Luật bảo hiểm xã hội 2024 quy định về trường hợp trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc gồm những hành vi sau:

- Sau 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật bảo hiểm xã hội 2024 này mà người sử dụng lao động không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc;

- Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật bảo hiểm xã hội 2024;

- Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật bảo hiểm xã hội 2024;

- Các trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.

Theo đó, không đóng bảo hiểm là một trong những hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều tình huống không thể lường trước được, gây tác động nhất định làm cho người sử dụng lao động không thể thực hiện đóng thuế. Ở đây là trường hợp khách quan không do lỗi của người sử dụng lao động nhưng khi bị xem là trốn đóng thì phải bị xử lý theo quy định, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của họ. 

Do đó, những trường hợp ngoại lệ không bị xem là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc do hoàn cảnh khách quan được quy định tại Điều 4 Nghị định 274/2025/NĐ-CP như sau:

Điều 4. Các trường hợp không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp

Các trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Luật Bảo hiểm xã hội không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp khi có một trong các lý do sau theo công bố của cơ quan có thẩm quyền về phòng, tránh thiên tai, tình trạng khẩn cấp, phòng thủ dân sự và phòng, chống dịch bệnh, bao gồm:

1. Bão, lũ, ngập lụt, động đất, hỏa hoạn lớn, hạn hán kéo dài và các loại thiên tai khác ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.

2. Dịch bệnh nguy hiểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và khả năng tài chính của cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động.

3. Tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật gây ảnh hưởng đột xuất, bất ngờ đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động.

4. Các sự kiện bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật dân sự.

Như vậy, không thực hiện đóng đóng bảo hiểm do lũ lụt thì không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.Tuy nhiên phải đảm bảo yếu tố “theo công bố của cơ quan có thẩm quyền” để tránh người sử dụng lao động lợi dụng quy định mà thực sự trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động.

Không thực hiện đóng bảo hiểm do lũ lụt thì không phải trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có đúng không? (Hình từ Internet)

Người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động có thể bị xử lý như thế nào?

Bảo hiểm xã hội bắt buộc là bảo hiểm mà người sử dụng lao động và người lao động bắt buộc tham gia để người lao động được hưởng bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, khi nghỉ hưu hoặc chết. Do đó, người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội mà không thuộc trường hợp ngoại lệ tại Điều 4 Nghị định 274/2025/NĐ-CP là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người lao động và sẽ bị xử lý theo quy định.

Hiện nay, hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội sẽ bị xử lý theo Điều 41 Luật bảo hiểm xã hội 2024 như sau:

(1) Bắt buộc đóng đủ số tiền trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp trốn đóng và số ngày trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

(2) Xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

(3) Không xem xét trao tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng.

Trong đó, xử phạt vi phạm hành chính sẽ áp dụng mức phạt tại khoản 7 Điều 39 Nghị định 12/2022/NĐ-CP như sau:

Điều 39. Vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp

…

7. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

b) Sửa chữa, làm sai lệch văn bản, tài liệu trong hồ sơ đề xuất được áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

…

Trong trường hợp hành vi trốn đóng đủ các yếu tố cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động tại Điều 216 Bộ luật Hình sự 2015 với các khung hình phạt cụ thể như sau: 

Điều 216. Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động

1. Người nào có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên thuộc một trong những trường hợp sau đây, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng năm đến 03 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Trốn đóng bảo hiểm 1.000.000.000 đồng trở lên;

...

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng.

Như vậy, người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động ngoài phải nộp đủ số tiền trốn đóng và nộp thêm một khoản khác theo quy định thì còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nghiêm trọng nhất có thể bị xử phạt 07 năm tù đối với cá nhân và phạt tiền cao nhất 3 tỷ đồng đối với pháp nhân thương mại.

Logo Thư viện Pháp luật
— Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất