Công tác phòng ngừa hoạt động sử dụng công nghệ cao trên không gian mạng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản thế nào?

—
08:32 | 11/04/2025
Công điện số 29/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Đẩy mạnh công tác phòng ngừa, xử lý hoạt động sử dụng công nghệ cao trên không gian mạng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Nội dung chính
  1. Công tác phòng ngừa hoạt động sử dụng công nghệ cao trên không gian mạng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản thế nào?
  2. Hành vi sử dụng công nghệ cao trên không gian mạng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị xử phạt thế nào?

Công tác phòng ngừa hoạt động sử dụng công nghệ cao trên không gian mạng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản thế nào?

Ngày 03/4/2025 Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện số 29/CĐ-TTg để khắc phục tình trạng hoạt động sử dụng công nghệ cao trên không gian mạng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu như sau:

Công điện số 29/CĐ-TTg: https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/DanLuat-BanAn/2025/3/cong-dien-29-C%C4%90-TTg.pdf

(1) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan có liên quan tập trung thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ được giao tại Công điện số 139/CĐ-TTg hướng dẫn việc tăng cường phòng ngừa, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng công nghệ cao, trên không gian mạng.

(2) Bộ Công an

- Chỉ đạo công an các đơn vị, địa phương tập trung triển khai có hiệu quả đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm sử dụng công nghệ cao, lợi dụng không gian mạng hoạt động phạm tội, đặc biệt là tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất là trong giai đoạn sắp xếp tổ chức bộ máy công an địa phương (không tổ chức công an cấp huyện).

- Thường xuyên rà soát, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xóa bỏ các nội dung, trang web, đường dẫn, ứng dụng, hội, nhóm, tài khoản trên không gian mạng liên quan đến hoạt động lừa đảo, cuộc gọi, tin nhắn nghi vấn lừa đảo, nhất là các cuộc gọi từ nước ngoài, cuộc gọi sử dụng công nghệ VoIP, ứng dụng OTT...

(3) Bộ Quốc phòng

- Chỉ đạo các lực lượng tổ chức trinh sát, giám sát, thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, nắm chắc tình hình trên không gian mạng để kịp thời có biện pháp đối phó với các hoạt động ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh; phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ động phát hiện, nhận diện, ngăn chặn, xử lý các trang web, địa chỉ IP, ứng dụng, phần mềm độc hại sử dụng trong hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

- Chỉ đạo các lực lượng tăng cường tuần tra, kiểm soát chặt chẽ các khu vực biên giới, đặc biệt là các đường mòn, lối mở, khu vực rừng núi, sông ngòi. Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng Công an, Hải quan và chính quyền địa phương thường xuyên trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và phối hợp phát hiện, đấu tranh, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, nhất là các đối tượng tổ chức, môi giới đưa người xuất cảnh trái phép. Ứng dụng các công nghệ hiện đại, như: Camera giám sát, thiết bị bay không người lái, hệ thống định vị GPS... để tăng cường khả năng giám sát và phát hiện các hành vi vượt biên trái phép; xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu về các đối tượng có nguy cơ vượt biên trái phép để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn.

(4) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

- Chỉ đạo hệ thống các ngân hàng thương mại, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán khẩn trương kiểm tra, đối chiếu xác thực sinh trắc học người đại diện hợp pháp đối với các giao dịch trực tuyến của tài khoản doanh nghiệp; loại bỏ tài khoản không chính chủ, tài khoản có thông tin sai lệch; triển khai giải pháp kỹ thuật để phát hiện, phân loại, cảnh báo các tài khoản có giao dịch bằng địa chỉ IP tại nước ngoài. Khẩn trương tổ chức kết nối thông tin, dữ liệu về tài khoản (cá nhân, doanh nghiệp) với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để xác thực, phòng ngừa tội phạm.

- Yêu cầu các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán phối hợp Bộ Công an kết nối hệ thống, tiếp nhận thông tin về danh sách tài khoản, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động vi phạm pháp luật để cảnh báo cho khách hàng khi thực hiện giao dịch, kịp thời phòng ngừa, ngăn chặn thiệt hại xảy ra; kết nối hệ thống tiếp nhận, trả lời yêu cầu cung cấp thông tin bằng văn bản điện tử để tiết kiệm nguồn lực xã hội, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

(5) Bộ Khoa học và Công nghệ

- Rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực viễn thông; phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có phương án đối khớp thông tin chủ tài khoản, người đại diện hợp pháp với thông tin chủ thuê bao di động theo số điện thoại di động đã đăng ký trong hồ sơ mở tài khoản thanh toán, ví điện tử.

- Chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông thực hiện xác thực, lưu giữ, sửdụng thông tin thuê bao viễn thông và xử lý SIM có thông tin thuê bao viễn thông chưa đầy đủ, không chính xác theo quy định.

- Phối hợp Bộ Công an triển khai giải pháp số hóa quy trình cung cấp thông tin thuê bao, thông tin chủ thể tên miền... được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khi được yêu cầu.

(6) Bộ Tài chính

- Chủ trì nghiên cứu, đề xuất biện pháp tăng cường kiểm tra việc góp vốn điều lệ của doanh nghiệp sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; rà soát, hoàn thiện quy trình, quy định thành lập doanh nghiệp; tăng cường hậu kiểm, phát hiện doanh nghiệp sau khi được thành lập không phát sinh hoạt động kinh doanh thực tế; phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an để xác thực thông tin người đại diện pháp luật và người được ủy quyền, “làm sạch” dữ liệu về thông tin doanh nghiệp; chủ động cung cấp thông tin, tài liệu cho Bộ Công an nhằm phòng ngừa, xử lý việc lợi dụng thành lập doanh nghiệp để hoạt động vi phạm pháp luật. Tổ chức kết nối thông tin, dữ liệu về thuế của cá nhân, doanh nghiệp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để xác thực, phòng ngừa tội phạm.

(7) Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch

- Chỉ đạo các cơ quan thông tấn, báo chítăng cường các hình thức tuyên truyền về phương thức, thủ đoạn mới của hoạt động sử dụng công nghệ cao trên không gian mạng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản giúp người dân nâng cao ý thức cảnh giác, chủ động phòng ngừa.

(8) Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

- Chỉ đạo các lực lượng chức năng tiếp tục triển khai quyết liệt, hiệu quả, thực chất các biện pháp phòng, chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất là tội phạm sử dụng công nghệ cao, lợi dụng không gian mạng; đổi mới công tác tác tuyên truyền, phù hợp với đặc thù từng địa phương; quan tâm đầu tư, hỗ trợ kinh phí, trang thiết bị công nghệ hiện đại cho các lực lượng trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao.

- Các địa phương có đường biên giới đất liền chỉ đạo lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng và các lực lượng liên quan tăng cường quản lý địa bàn, kịp thời phát hiện, xử lý các đối tượng xuất cảnh, nhập cảnh để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

(9) Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Cổng Thông tin Điện tử Chính phủ và các cơ quan thông tấn, báo chí

- Tăng cường thông tin về âm mưu, phương thức, thủ đoạn mới, cách thức xử lý với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất là lừa đảo trên không gian mạng; kết quả phòng ngừa, xử lý của các lực lượng chức năng để người dân nâng cao nhận thức, kịp thời cung cấp thông tin, tố giác hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

(10) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan liên quan

- Tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc Công điện này. Bộ Công an theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Công điện này; định kỳ hằng quý, các bộ, ngành, địa phương báo cáo tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao về Bộ Công an để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

(11) Văn phòng Chính phủ 

- Phối hợp với Bộ Công an theo chức năng, nhiệm vụ được giao thường xuyên theo dõi, đôn đốc, báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình, kết quả thực hiện Công điện số 29/CĐ-TTg.

Công tác phòng ngừa hoạt động sử dụng công nghệ cao trên không gian mạng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản thế nào? (Hình từ Internet)

Hành vi sử dụng công nghệ cao trên không gian mạng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị xử phạt thế nào?

Căn cứ tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

(1) Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của  Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

- Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

(2) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

- Có tổ chức;

- Có tính chất chuyên nghiệp;

- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

- Tái phạm nguy hiểm;

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

- Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

(3) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

- Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

(4) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

(5) Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, đối với các hành vi cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì sẽ bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tùy theo số tiền chiếm đoạt mà phải chịu các khung hình phạt khác nhau, mức hình phạt cao nhất là tù chung thân.

Đồng thời, căn cứ tại Điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như sau:

(1) Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong những hành vi sau đây, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

- Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;

- Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;

- Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;

-  Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản;

- Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản.

(2) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

- Có tổ chức;

- Phạm tội 02 lần trở lên;

- Có tính chất chuyên nghiệp;

- Số lượng thẻ giả từ 50 thẻ đến dưới 200 thẻ;

- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

- Gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

- Tái phạm nguy hiểm.

(3) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

- Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

- Số lượng thẻ giả từ 200 thẻ đến dưới 500 thẻ.

(4) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

- Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên;

- Số lượng thẻ giả 500 thẻ trở lên.

(5) Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, đối với các hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản thì sẽ bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), mức hình phạt cao nhất là 20 năm tù.

Logo Thư viện Pháp luật
— Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất