- Cấu thành tội phạm của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Các khung hình phạt của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như thế nào?
- Một số bản án về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Cấu thành tội phạm của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, bên cạnh những lợi ích to lớn như thúc đẩy phát triển kinh tế, đời sống xã hội hiện đại hơn, …thì cũng có những hạn chế nhất định. Một trong số đó là gia tăng các tội phạm mạng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến dữ liệu cá nhân cũng như tài sản của người dân và việc lợi dụng mạng máy tính để chiếm đoạt tài sản là hành vi điển hình trong số rất nhiều tội phạm trên không gian mạng.
Việc sử dụng mạng máy tính để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015.
Căn cứ Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015 có thể xác định cấu thành tội phạm của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như sau:
(1) Khách thể: xâm phạm về sự an toàn và hoạt động bình thường trong lĩnh vực tin học cũng như ứng dụng thành tựu tin học trong đời sống, đồng thời xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác.
(2) Mặt khách quan: thực hiện một trong các hành vi sau:
- Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;
- Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;
- Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản. Truy cập bất hợp pháp được hiểu là cố ý vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa hoặc sử dụng mã truy cập của người khác khi chưa có sự đồng ý.
- Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản. Lừa đảo trong trường hợp nay mang bản chất tương tự hành vi lừa đảo của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội cũng cung cấp những thông tin gian dối liên quan đến lĩnh vực thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán để người khác tin tưởng mà mua, bán, đầu tư vào lĩnh vực đó.
- Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản. Trường hợp này được hiểu là người thực hiện hành vi không đủ các điều kiện hoặc đủ nhưng không thực hiện các thủ tục xin cấp phép cung cấp dịch vụ viễn thông, internet.
(3) Chủ thể: người từ đủ 16 tuổi trở lên và đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
(4) Mặt chủ quan: lỗi cố ý trực tiếp. Người thực hiện hành vi nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện để chiếm đoạt tài sản của người khác.
Lưu ý: Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015 là tội ghép. Người thực hiện hành vi chỉ cần sử dụng một trong 03 công cụ là mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử cũng đã cấu thành tội phạm theo các tội tương ứng là tội sử dụng mạng máy tính thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, tội sử dụng mạng viễn thông thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và tội sử dụng phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Như vậy, cấu thành tội phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản có các yếu tố về khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan như trên.

Cấu thành tội phạm của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Hình từ Internet)
Các khung hình phạt của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như thế nào?
Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015 quy định 04 khung hình phạt chính và 01 khung hình phạt bổ sung đối với tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như sau:
Điều 290. Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
1. Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong những hành vi sau đây, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;
…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
…
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
…
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Như vậy, người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản có thể bị áp dụng hình phạt cao nhất là 20 năm tù và có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung như phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định hoặc tịch thu tài sản.
Một số bản án về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Bản án 781/2023/HS-PT ngày 29/09/2023
Bản án 46/2023/HS-PT ngày 09/11/2023
Bản án 94/2023/HS-ST ngày 17/11/2023
Bản án 689/2024/HS-PT ngày 26/08/2024
Bản án 85/2024/HS-ST ngày 17/12/2024
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];