Bảo lãnh ngân hàng là gì? Các đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng?

Bùi Thị Như Ý 684 lượt xem
19:00 | 07/03/2025
Tìm hiểu quy định về bảo lãnh ngân hàng và các đặc điểm mang tính đặc thù của hoạt động bảo lãnh ngân hàng?
Nội dung chính
  1. Bảo lãnh ngân hàng là gì?
  2. Các đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng?

Bảo lãnh ngân hàng là gì?

Theo Điều 335 Bộ luật Dân sự năm 2015, bảo lãnh là việc bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh nếu bên này không thực hiện đúng hạn. Đây là biện pháp bảo đảm đối nhân, có thể được thực hiện bởi cá nhân, tổ chức hoặc chuyên nghiệp hơn bởi tổ chức tín dụng.

Bảo lãnh ngân hàng là một hình thức bảo lãnh chuyên nghiệp do tổ chức tín dụng thực hiện theo yêu cầu của khách hàng. Theo Luật các tổ chức tín dụng, đây là một hình thức cấp tín dụng, trong đó tổ chức tín dụng cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên này không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, và bên được bảo lãnh phải hoàn trả theo thỏa thuận.

Hoạt động bảo lãnh ngân hàng bao gồm hai quan hệ pháp lý: hợp đồng dịch vụ bảo lãnh giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, và cam kết bảo lãnh giữa tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lãnh. Dù độc lập, hai quan hệ này có sự liên kết, trong đó hợp đồng dịch vụ bảo lãnh là cơ sở cho cam kết bảo lãnh, và cam kết bảo lãnh là bằng chứng về việc thực hiện hợp đồng dịch vụ bảo lãnh.

Các đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng?

Bảo lãnh ngân hàng là một hình thức bảo lãnh đặc thù, vừa mang những đặc điểm chung của bảo lãnh thông thường, vừa có những nét riêng biệt để phân biệt với các loại bảo lãnh khác. Cụ thể, bảo lãnh ngân hàng sẽ mang một số đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, Tính chất thương mại đặc trưng của bảo lãnh ngân hàng

Về bản chất pháp lý, bảo lãnh ngân hàng là một giao dịch mang tính thương mại đặc thù. Điều này xuất phát từ việc các tổ chức tín dụng – với tư cách là một loại thương nhân – thực hiện hoạt động bảo lãnh như một dịch vụ tài chính nhằm mục tiêu sinh lợi. Hơn nữa, hoạt động này được xem như một ngành kinh doanh chuyên nghiệp, do đó, các tổ chức tín dụng phải đăng ký hoạt động bảo lãnh theo quy định pháp luật trước khi triển khai dịch vụ trên thị trường.

Thứ hai, Vai trò kép của tổ chức tín dụng

Trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng, tổ chức tín dụng không chỉ đóng vai trò là bên bảo lãnh mà còn hoạt động với tư cách là một đơn vị kinh doanh ngân hàng. Do đó, quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng bảo lãnh có những điểm khác biệt so với quyền và nghĩa vụ của bên bảo lãnh trong bảo lãnh dân sự thông thường.

Thứ ba, Hai hợp đồng tách biệt nhưng có quan hệ nhân quả

Bảo lãnh ngân hàng tạo ra hai loại hợp đồng khác nhau: (i) Hợp đồng dịch vụ bảo lãnh giữa tổ chức tín dụng và khách hàng; và (ii) Hợp đồng bảo lãnh hoặc cam kết bảo lãnh giữa tổ chức tín dụng và bên nhận bảo lãnh. Mặc dù hai hợp đồng này có liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau, chúng vẫn có sự tách biệt nhất định về mặt chủ thể cũng như quyền và nghĩa vụ pháp lý.

Thứ tư, Sự độc lập giữa hai hợp đồng

Tính chất độc lập của hai hợp đồng này thể hiện ở chỗ: nếu một hợp đồng bị vô hiệu thì không mặc nhiên dẫn đến việc hợp đồng còn lại cũng bị vô hiệu. Ngoài ra, việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng này không bị phụ thuộc vào việc thực thi nghĩa vụ trong hợp đồng kia.

Thứ năm, Giao dịch bảo lãnh ngân hàng là một giao dịch kép

Bảo lãnh ngân hàng không chỉ là giao dịch giữa hai hoặc ba bên mà là một giao dịch kép. Điều này có nghĩa là, để phát hành cam kết bảo lãnh theo yêu cầu của khách hàng và chuyển cho bên nhận bảo lãnh, tổ chức tín dụng phải ký kết hai hợp đồng theo trình tự: (i) Hợp đồng dịch vụ bảo lãnh được ký kết trước, tạo cơ sở pháp lý cho giao dịch bảo lãnh; (ii) Hợp đồng bảo lãnh hoặc cam kết bảo lãnh được ký kết sau nhằm thực hiện nghĩa vụ đã được xác lập trong hợp đồng dịch vụ bảo lãnh.

Việc có hai hợp đồng độc lập nhưng liên kết chặt chẽ phản ánh tính đặc thù của giao dịch bảo lãnh ngân hàng, đồng thời thể hiện nguyên tắc tự nguyện và bình đẳng trong quan hệ giữa các bên.

Thứ sáu, Không thể hủy ngang theo thông lệ quốc tế

Theo thông lệ quốc tế, một cam kết bảo lãnh ngân hàng không thể bị hủy ngang một cách đơn phương bởi người đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng bảo lãnh. Tuy nhiên, quy định này chưa được áp dụng đầy đủ trong pháp luật Việt Nam, dẫn đến một số khác biệt so với các chuẩn mực quốc tế về bảo lãnh ngân hàng.

Thứ bảy, Bảo lãnh ngân hàng dựa trên chứng từ

Bảo lãnh ngân hàng là một giao dịch dựa trên chứng từ. Điều này có nghĩa là tất cả các bước trong quy trình, từ phát hành cam kết bảo lãnh, thực hiện quyền yêu cầu đến việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, đều phải được lập thành văn bản.

Thứ tám, Bảo lãnh ngân hàng là bảo lãnh vô điều kiện

Bảo lãnh ngân hàng có tính chất vô điều kiện (còn gọi là bảo lãnh độc lập), tức là tổ chức tín dụng bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán ngay khi bên nhận bảo lãnh xuất trình đầy đủ các chứng từ theo quy định trong thư bảo lãnh, mà không phụ thuộc vào việc bên được bảo lãnh có khả năng thực hiện nghĩa vụ hay không.

Chính vì tính chất vô điều kiện này, bảo lãnh ngân hàng mang lại sự bảo đảm vững chắc cho bên nhận bảo lãnh. Đây cũng là lý do khiến bảo lãnh ngân hàng được ưa chuộng hơn so với các hình thức bảo lãnh khác do cá nhân hoặc tổ chức không phải là ngân hàng thực hiện. Nhờ tính độc lập, không thể hủy ngang và cam kết thanh toán ngay khi có yêu cầu hợp lệ, bảo lãnh ngân hàng trở thành công cụ tài chính đáng tin cậy trong các giao dịch thương mại và đầu tư.

Bùi Thị Như Ý
Bùi Thị Như Ý Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất

Hướng dẫn 10 HD BTGTW thực hiện Chỉ thị 07-CT/TW về Đẩy mạnh học tập tư tưởng đạo đức phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới thế nào?
Hướng dẫn 10 HD BTGTW thực hiện Chỉ thị 07 CT TW về Đẩy mạnh học tập tư tưởng đạo đức phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới thế nào?

Dưới đây là chi tiết Hướng dẫn 10-HD/BTGTW năm 2026 Hướng dẫn Triển khai thực hiện Chỉ thị 07-CT/TW năm 2026 về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới" kèm file tải về.