Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 39/2022/HNGĐ-ST

TAND HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 39/2022/HNGĐ-ST NGÀY 17/06/2022 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Trong ngày 17/6/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 65/2022/TLST-HNGĐ ngày 17/3/2022 về việc tranh chấp Hôn nhân gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2022/QĐST- HNGĐ ngày 30/5/2022 giữa:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1995 (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt) Địa chỉ: thôn Cầu Trong, xã Mỹ Thái, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

* Bị đơn: Anh Hà Trọng T, sinh năm 1992 (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt) Địa chỉ: thôn Cầu Trong, xã Mỹ Thái, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị tự nguyện kết hôn với anh Hà Trọng T vào ngày 19/12/2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ Thái. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2016 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống; vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi chửi nhau. Anh T thường xuyên rượu chè, cờ bạc, chơi bời không chịu làm ăn, không chăm lo cuộc sống gia đình, vợ con. Anh T nhiều lần cắm xe; lấy tiền, vàng đi chơi rồi về nhà đánh chửi chị. Đầu năm 2022 vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ để ở cho đến nay; vợ chồng sống ly thân, không quan tâm, chăm sóc gì cho nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin được ly hôn với anh Hà Trọng T.

Về con chung: vợ chồng chị có 02 con chung là Hà Duy Y, sinh ngày 05/10/2015 và Hà Đức Ph, sinh ngày 01/10/2019. Hiện 02 con đang ở cùng anh T, các cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường. Ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Đức Ph. Đồng ý để anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Duy Y.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện nay chị đang làm công nhân may Bắc Giang thu nhập bình quân là 7.000.000đ/ tháng, thời gian làm việc cố định nên có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng chị không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo, bị đơn là anh Hà Trọng T trình bày: Anh xác nhận thời gian kết hôn, đăng ký kết hôn, quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng như chị L trình bày là đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, sinh hoạt gia đình; trong cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung. Tuy nhiên vì các con còn nhỏ nên anh không đồng ý ly hôn với chị L.

Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung như chị L trình bày là đúng.

Trường hợp nếu phải ly hôn thì anh xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng anh không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L; bị đơn là anh Hà Trọng T đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định của pháp luật.

- Nội dung giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Hà Trọng T.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hà Đức Ph, sinh ngày 01/10/2019. Giao cho anh Hà Trọng T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hà Duy Y, sinh ngày 05/10/2015.

Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị L cùng các tài liệu nộp kèm theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện Lạng Giang. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang đã thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự pháp luật đã quy định. Tại phiên tòa nguyên đơn là chị L; bị đơn là anh T đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị L, anh T theo quy định tại Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Hà Trọng T có đăng ký kết hôn vào ngày 19/12/2014 tại UBND xã Mỹ Thái, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị L, anh T là hợp pháp.

Về tình trạng hôn nhân, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Lời khai của chị L, anh T đều xác định vợ chồng có sảy ra nhiều mâu thuẫn to tiếng, đánh cãi chửi nhau và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã có một khoảng thời gian sống ly thân và không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau.

Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị L và ý kiến của anh T không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy rằng, trong thời gian sống chung vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ về nhân thân, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình. Chị L, anh T đã mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay không quan tâm, chăm sóc gì cho nhau. Việc này trái với các quy định tại các điều 19, 21 luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về căn cứ cho ly hôn thì thấy rằng: Tình trạng của vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh T.

[4] Về con chung: Vợ chồng chị L, anh T có 02 con chung là Hà Duy Y, sinh ngày 05/10/2015 và Hà Đức Ph, sinh ngày 01/10/2019. Ly hôn chị L xin được nuôi dưỡng cháu Ph; đồng ý để anh T nuôi dưỡng cháu Y. Anh T xin được nuôi cả hai con chung.

Xét về điều kiện nuôi dưỡng con chung: Cả chị L, anh T hiện nay đều có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên đều có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc cho con chung.

Đối với cháu Ph hiện nay còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi và để đảm bảo cho các con phát triển tốt về mọi mặt; đảm bảo về phát triển kinh tế của người nuôi dưỡng. Vì vậy, cần giao con chung theo ý kiến của chị L là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L, anh T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Chị L, anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở chị L, anh T thực hiện quyền này.

Chị L, anh T có quyền làm đơn đề nghị giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

[5] Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Chị L, anh T không có và không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Hà Trọng T.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hà Đức Ph, sinh ngày 01/10/2019. Giao cho anh Hà Trọng T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hà Duy Y, sinh ngày 05/10/2015.

Sau khi ly hôn chị L, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở chị L, anh T thực hiện quyền này.

Chị L, anh T có quyền làm đơn đề nghị giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Chị L, anh T không có và không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012728 ngày 17/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

150
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 39/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:39/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lạng Giang - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 17/06/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về