TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 210/2023/HS-ST NGÀY 10/05/2023 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 10 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 186/2023/HSST ngày 15/3/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1607/2023/QĐXXST-HS ngày 12/4/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Hữu T, giới tính: Nam; sinh ngày: 18/5/1964, tại tỉnh K; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: đường X, phường B, quận T, Thành phố H; nghề nghiệp: Chạy xe ôm; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Thiên chúa; con ông Vũ Đức N (chết) và bà Hoàng Thị Đ1 (chết); có vợ và 03 con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1996; Tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 2902/HS-ST ngày 17/11/1999 của Tòa án nhân dân Thành phố H xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Tiền án: Bản án số 139/2014/HS-ST ngày 04/11/2014 của Tòa án nhân dân quận P, Thành phố H xử 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 09/6/2019 chấp hành xong hình phạt tù.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2022; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Hữu T: Luật sư Đặng Quốc H - Công ty Luật TNHH Đại V, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- Người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan đến vụ án: Bà Hoàng Thị Đ2, sinh năm 1964.
Địa chỉ: đường X, phường B, quận T, Thành phố H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 27/6/2022, tại trước nhà số A, đường C, phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Công an phường B, quận P, TP. Hồ Chí Minh phát hiện Vũ Hữu T điều khiển xe máy biển số 29B1- 445.xx có biểu hiện nghi vấn, nên yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện tại hộc để đồ bên phải, phía trước xe máy có 01 gói nylon quấn băng keo màu đen, bên trong chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 14,4237 gam, loại Methamphetamine nên đưa Vũ Hữu T về trụ sở Công an phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở tại đường X, phường B, quận T, Thành phố H thu giữ trong ống nhựa BM có nắp đậy hai đầu do Vũ Hữu T tự chế để dưới kệ bàn trong phòng ngủ của Vũ Hữu T có 03 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 27,6402 gam, loại Methamphetamine, 02 cân điện tử, 05 gói nylon không chứa gì, 01 cuộn băng keo màu đen và một đoạn ống nhựa có nắp đậy hai đầu.
Vũ Hữu T khai nhận: Khoảng tháng 6/2022, Vũ Hữu T quen một người tên C (không rõ lai lịch) chuyên bán ma túy, C yêu cầu Vũ Hữu T đi giao ma túy cho khách của C, sẽ trả tiền công và cho ma túy để sử dụng, Vũ Hữu T đồng ý. Vũ Hữu T đã 02 lần giao ma túy cho C, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 11 giờ ngày 25/6/2022, C điện thoại hẹn Vũ Hữu T đến khu vực gần sân vận động QK, C đưa 800.000 đồng cho Vũ Hữu T và yêu cầu Vũ Hữu T đến chân cầu số 1, đường B, quận T, Thành phố H gặp một người thanh niên (không rõ lai lịch) để mua ma túy đá. Khi Vũ Hữu T đến điểm hẹn, giao tiền và nhận một gói ma túy đá đem đến khu vực đường L, quận P, Thành phố H để giao cho khách của C theo sự chỉ dẫn của C, khi đến nơi không gặp người để giao nên Vũ Hữu T đem ma túy về giao lại cho C và được C cho 30.000 đồng để đổ xăng;
Lần thứ hai: Vào khoảng 10 giờ ngày 27/6/2022, C tiếp tục yêu cầu Vũ Hữu T ra khu vực sân vận động QK (như lần thứ nhất), C tiếp tục đưa 800.000 đồng và yêu cầu Vũ Hữu T đến khu vực đường B, quận T, Thành phố H, C chạy xe theo sau chỉ đường, đến nơi gặp một người thanh niên (không rõ lai lịch), Vũ Hữu T giao tiền và nhận 01 gói ma túy. Sau đó, C đưa cho Vũ Hữu T 01 gói ma túy nhỏ và yêu cầu trộn chung vào gói ma túy vừa mua rồi cất giữ, khi nào C điện thoại thì đi giao cho khách, đồng thời cho Vũ Hữu T 01 gói nhỏ để sử dụng. Khi về nhà, Vũ Hữu T lấy 01 gói ma túy C đưa trộn chung với gói ma túy vừa mua được chia ra làm 04 gói (03 gói lớn 01 gói nhỏ) và đem cất vào trong ống nhựa BM có nắp đậy do Vũ Hữu T tự chế cất vào phòng ngủ.
Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, C điện thoại yêu cầu Vũ Hữu T lấy 01 gói ma túy lớn (trong số 04 gói ma túy mới tách ra) quấn băng keo đem giao cho khách tại khu vực đường C, phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Vũ Hữu T lấy 01 gói ma túy ra, quấn băng keo bỏ vào hộc để đồ bên phải phía trước của xe. Khi đến trước nhà số A, đường C, phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị bắt quả tang.
Đối với người tên C do Vũ Hữu T khai không rõ nhân thân lai lịch, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ hành vi để xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 138/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 08/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Vũ Hữu T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Vũ Hữu T từ 16 năm tù đến 18 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ và một số vật chứng thu giữ tại nhà của bị cáo không có giá trị sử dụng; Trả lại 01 xe máy cho bà Hoàng Thị Đ2; trả lại cho bị cáo số tiền 2.746.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại và cân điện tử.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Vũ Hữu T trình bày: Luật sư đồng ý về tội danh, khung hình phạt truy tố và tình tiết giảm nhẹ của Viện kiểm sát nêu trong phần luận tội đối với bị cáo Vũ Hữu T. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm cho bị cáo: Bị cáo Vũ Hữu T thành khẩn khai báo, thật sự ăn năn hối cải về hành vi trong suốt thời gian bị bắt cho đến phiên tòa hôm nay; bị cáo Vũ Hữu T đã rất tích cực cải tạo trong thời gian chấp hành án của bản án trước đây để được giảm án, năm 2019 được giảm án ra trại về nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên vẫn chưa thi hành khoản tiền phạt của bản án. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc đến thái độ thành khẩn của bị cáo để quyết định mức hình phạt nhân văn. Về vật chứng thu giữ: Đề nghị trả lại số tiền thu giữ 2.746.000 đồng cho bị cáo; trả lại chiếc xe cho vợ bị cáo là bà Hoàng Thị Đ2; đối với mức phạt tiền bổ sung thì đề nghị mức thấp nhất có thể cho bị cáo.
Bị cáo đồng ý với lời bào chữa của Luật sư, không trình bày bào chữa bổ sung và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Kiểm sát viên đối đáp: Luật sư đồng ý về tội danh, khung hình phạt truy tố và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo Vũ Hữu T, Luật sư chỉ đề nghị xem xét mức hình phạt nên thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Hữu T tại phiên tòa, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản khám xét, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 27/6/2022, Công an quận Phú Nhuận phát hiện, bắt quả tang Vũ Hữu T có hành vi bán ma túy, thu giữ 01 gói ma túy chứa tinh thể không màu, khối lượng 14,4237 gam loại Methamphetamine. Tiến hành khám xét, khẩn cấp nơi ở của Vũ Hữu T thu giữ 03 gói nylon chứa tinh thể không màu, khối lượng 27,6402 gam loại Methamphetamine. Do đó, Vũ Hữu T phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma túy 42,0639 gam, loại Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo Vũ Hữu T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Methamphetamine có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Hành vi của bị cáo Vũ Hữu T là đặc biệt nghiêm trọng đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, gieo rắc tệ nạn ma túy, ảnh hưởng đến hoạt động phòng, chống tội phạm về ma túy và đây cũng là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội khác, tội phạm khác. Do đó, cần xử lý nghiêm minh để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” nên áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về hình phạt tiền bổ sung: Bị cáo thực hiện hành mua bán trái phép chất ma túy, cần thiết áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự phạt tiền đối với bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước.
Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm luận tội, đối đáp của Kiểm sát viên và quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Vũ Hữu T.
[4] Về xử lý vật chứng của vụ án:
- 02 gói giấy ghi vụ số 3747 (780-PN) được niêm phong bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định; 01 đoạn ống nhựa có nắp đậy 02 đầu; 05 bao nylon chưa qua sử dụng; 01 cuộn băng keo đen, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
- 01 điện thoại di động Nokia có 02 sim đã qua sử dụng; 02 cân điện tử màu xám đây là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;
- 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: Honda Vision, biển số: 29B1-445.xx, chủ sở hữu bà Trần Vân A, địa chỉ: ngõ A, đường L, phường G, quận B, Thành phố H, đã cho em ruột là Trần Trung D, sau đó ông Trần Trung D đã bán cho bà Hoàng Thị Đ2 có làm hợp đồng mua bán nhưng chưa làm giấy sang tên. Bà Hoàng Thị Đ2 cho chồng là Vũ Hữu T mượn, bà Hoàng Thị Đ2 không biết Vũ Hữu T sử dụng xe vào việc mua bán ma túy nên trả lại chiếc xe cho bà Hoàng Thị Đ2;
- Đối với số tiền 2.746.000 đồng, bị cáo Vũ Hữu T khai do chạy xe ôm mà có, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Vũ Hữu T: 15 (mười lăm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2022; Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 02 gói giấy có ghi vụ số 3747 (780-PN) được niêm phong sau giám định có chữ ký của Giám định viên Huỳnh Thanh Thảo, Điều tra viên Vũ Đình Hiệp, bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định (Gói 1; Gói 2); 01 đoạn ống nhựa in chữ nhựa BM có nắp đậy 02 đầu; 05 bao nylon chưa qua sử dụng; 01 cuộn băng keo đen;
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Nokia có 02 sim (không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 02 cân điện tử màu xám;
- Trả lại cho bà Hoàng Thị Đ2: 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: Honda, số loại: Vision, dung tích xi lanh: 108, biển số: 29B1-445xx, số khung: RLHJF3316DY438943, số máy: JE33E-0519107 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra);
- Trả lại cho bị cáo Vũ Hữu T số tiền 2.746.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Theo Biên bản giao nhận tang vật số NK2023/214 ngày 21/3/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; Giấy nộp tiền ngày 09/8/2022 vào tài khoản số 3949.0.9059775.00000 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh mở tại Kho bạc Nhà nước Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh) Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 210/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 210/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 10/05/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về