Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 527/2023/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 527/2023/HS-PT NGÀY 14/07/2023 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 14 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh HD, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 409/2023/TLPT-HS ngày 17 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo Ngô Duy L bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2023/HS-ST ngày 10 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh HD.

Bị cáo có kháng cáo:

Ngô Duy L, sinh năm 1984, tại tỉnh HD; địa chỉ: Số 94 phố VH, Khu 5, phường VH, thành phố HD, tỉnh HD; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; con ông Ngô Văn T và bà Phạm Thị M; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 14/9/2022 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh HD; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phan Thị Bình M – Văn phòng luật sư BC thuộc Đoàn luật sư tỉnh HD; Địa chỉ văn phòng: Số 309 đường NQ, thành phố HD, tỉnh HD. Có mặt

Bị hại: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1982; địa chỉ: 70/262 HQV, phường TM, thành phố HD, tỉnh HD.

Bị hại không có kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Duy L và anh Nguyễn Văn P có quan hệ quen biết từ năm 2019. Do biết anh P có nhu cầu mua bán quyền sử dụng đất để kinh doanh. Ngày 09/6/2020, L đưa ra thông tin gian dối là chủ sở hữu lô đất LK09.09 thuộc khu đô thị Ford TM, thành phố HD (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ chồng ông Nguyễn Công C và bà Nguyễn Thị N, địa chỉ: Số 10 phố HX, khu PHT, thị trấn TM, huyện TM) muốn bán với giá 740.000.000 đồng, do tin tưởng thông tin L đưa ra nên anh P đồng ý mua lô đất này. Hai người thỏa thuận anh P đặt cọc cho L 500.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày (đến ngày 06/7/2020), anh P có trách nhiệm thanh toán nốt số tiền 240.000.000 đồng, L có trách nhiệm làm thủ tục chuyển nhượng đất cho anh P, bên nào vi phạm cam kết bị phạt 100.000.000 đồng. Cùng ngày 09/6/2020, tại cổng Công ty kem BD, phường CT, thành phố HD, anh P giao cho L số tiền 500.000.000 đồng, khi giao nhận tiền đặt cọc, hai bên viết, ký giấy biên nhận có sự chứng kiến của chị K (vợ của L) và anh Nguyễn Văn H (chị K ký nhận trước vào giấy biên nhận, không có mặt trực tiếp khi L nhận tiền). Đến ngày 10/6/2020, với thủ đoạn như trên, L thỏa thuận, cam kết chuyển nhượng lô đất LK09.10 cho anh P (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ chồng ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị M, địa chỉ: xã CĐ, huyện CG, tỉnh HD) với giá 740.000.000 đồng, anh P đặt cọc cho L 500.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày (đến ngày 07/7/2020), anh P có trách nhiệm thanh toán nốt số tiền 240.000.000 đồng, L có trách nhiệm làm thủ tục chuyển nhượng đất cho anh P, bên nào vi phạm cam kết bị phạt 100.000.000 đồng. Cùng ngày 10/6/2020, tại cổng Công ty kem BD, phường CT, thành phố HD; anh P giao cho L số tiền 500.000.000 đồng, khi giao nhận tiền đặt cọc, vợ chồng L và anh P ký vào giấy biên nhận đặt cọc (do chị K đánh máy sẵn) có sự chứng kiến của anh Nguyễn Văn H. Sau khi nhận số tiền 1.000.000.000 đồng của anh P, L sử dụng chi tiêu cá nhân, không làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh P như cam kết.

Ngày 13/7/2020, L lấy lý do giấy chứng nhận quyền sử dụng 02 thửa đất nêu trên đang thế chấp tại ngân hàng và đặt vấn đề vay anh P 480.000.000 đồng để trả nợ ngân hàng, rút giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để hoàn thiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Anh P tin lời L nên đồng ý giao cho L 80.000.000 đồng và nhờ anh Nguyễn Huy P chuyển khoản cho L 400.000.000 đồng vào tài khoản số 19034X862018 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam chi nhánh HD của chị Hoàng Thị D, sinh năm 1982, ở 3/77 Nguyễn Thị D, phường TB, thành phố HD theo yêu cầu của L. Sau khi giao cho L đủ 1.480.000.000 đồng, anh P nhiều lần yêu cầu L hoàn thiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc trả lại tiền đặt cọc nhưng L không thực hiện. Đến ngày 06/11/2020, L viết giấy biên nhận nợ anh P số tiền 480.000.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh HD đã làm việc với Công ty TNHH Hoàng Thanh và ghi lời khai ông Nguyễn Công C, bà Nguyễn Thị N; ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị M xác định: Công ty TNHH Hoàng Thanh là chủ đầu tư dự án quy hoạch khu dân cư mới thuộc phường TM, thành phố HD và thôn Trụ, thị trấn LC, huyện CG, đã chuyển nhượng lô đất LK09-09 cho vợ chồng ông C vào ngày 20/11/2019; chuyển nhượng lô đất LK09-10 cho vợ chồng ông T vào ngày 10/04/2019; vợ chồng ông C, ông T không chuyển nhượng hay ủy quyền cho L chuyển nhượng 02 lô đất trên cho người khác.

Ti Kết luận giám định số 20/KLGĐ ngày 09/4/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh HD kết luận đối với 03 giấy biên nhận đặt cọc đề ngày 09/6/2020, 10/6/2020 và ngày 06/11/2020 như sau: Chữ số, chữ viết trên giấy biên nhận đặt cọc ghi ngày 06/9/2020, trừ các chữ viết, chữ số tại dòng cuối cùng có nội dung: “và trả”; “là 500.000.000 đ” và chữ ký đứng tên Nguyễn Thị K trên giấy biên nhận đặt cọc ghi ngày 09/6/2020, giấy biên nhận đặt cọc ghi ngày 10/6/2020 và biên bản làm việc ghi ngày 17/10/2020 giữa anh Nguyễn Văn P với vợ chồng Ngô Duy L là các chữ số, chữ viết, chữ ký của Nguyễn Thị K. Chữ số, chữ viết chữ ký trên giấy cam kết trả nợ ghi ngày 05/8/2020, giấy biên nhận đặt cọc ghi ngày 06/11/2020 và chữ ký đứng tên Ngô Duy L trên giấy biên nhận đặc cọc ngày 09/6/2020, 10/6/2020, giấy cam kết trả nợ ngày 05/8/2020, biên bản làm việc ngày 17/10/2020, giấy biên nhận đặt cọc ghi ngày 06/11/2020 là chữ số, chữ viết, chữ ký của Ngô Duy L.

Ti Cáo trạng số 09/CT-VKS-P1 ngày 19/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh HD truy tố bị cáo Ngô Duy L tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ti Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2023/HS-ST ngày 10 tháng 3 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh HD đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Ngô Duy L phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Xử phạt bị cáo Ngô Duy L 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 14/9/2022.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20/3/2023, bị cáo Ngô Duy L có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt.

Ti phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Ngô Duy L vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Luật sư Phan Thị Bình M trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với mức hình phạt 12 năm tù là nặng. Trước khi Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, bị cáo đã trả cho bị hại hơn 1 tỷ và sau đó trả thêm 220 triệu tiền lãi; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ hồ sơ vụ án giảm hình phạt đối với bị cáo, xử bị cáo mức án dưới khung hình phạt.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với mức hình phạt 12 năm tù là đúng, tuy nhiên bị cáo có ý thức khắc phục thiệt hại, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật giảm một phần hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Ngô Duy L đã khai nhận hành vi phạm tội; lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm; phù hợp lời khai của bị hại, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Ngô Duy L không phải là chủ sử dụng 02 lô đất LK09.09, LK09.10 tại khu đô thị Ford TM, thành phố HD, không được chủ sử dụng đất ủy quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng L đưa ra thông tin gian dối với anh Nguyễn Văn P về việc L được quyền chuyển nhượng 02 lô đất trên làm anh P tin tưởng. Trong các ngày 09/6/2020, 10/6/2020 và 13/7/2020; anh P giao cho L tổng số tiền 1.480.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và bị L chiếm đoạt. Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết bị cáo Ngô Duy L về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Ngô Duy L: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Ngô Duy L đã 02 lần dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của bị hại theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ 1.480.000.000 đồng chiếm đoạt và còn trả lãi số tiền 220 triệu đồng cho anh Nguyễn Văn P. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

[3]. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Ngô Duy L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Duy L; sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2023/HS-ST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh HD về hình phạt.

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Duy L phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Duy L 11 (mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 14/9/2022.

Về án phí: Bị cáo Ngô Duy L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

38
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 527/2023/HS-PT

Số hiệu:527/2023/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 14/07/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về