Bản án về ly hôn số 103/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ C

BẢN ÁN 103/2022/HNGĐ-ST NGÀY 29/09/2022 VỀ LY HÔN

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 336/2022/TLST-HN ngày 20 tháng 6 năm 2022. Về việc: "Xin ly hôn".

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 793/2022/QĐST-HN ngày 12 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân quận N, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim B sinh năm 1980 (Có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: 31/1, Khu vực L, phường T, quận T, thành phố C.

Bị đơn: Ông Lương Ngọc Ch sinh năm 1976 (Vắng mặt) Địa chỉ: 1/79, Đ, phường Th, quận N, thành phố C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn trình bày:

Bà và ông Ch tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 12/4/2002 tại UBND xã T, quận T, thành phố C. Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà và ông Ch ly thân từ năm 2021 đến nay. Bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn. Bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Xin ly hôn với ông Lương Ngọc Ch.

- Về con chung: Ông bà có 02 con chung Lương Đức Ph và Lương Ngọc Thiên K. Đối với con chung Lương Đức Ph (nam) sinh ngày 20/10/2002 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với con chung Lương Ngọc Thiên K (nữ) sinh ngày 28/11/2012. Khi ly hôn Bà B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lương Ngọc Thiên K đến khi trưởng thành, không yêu cầu ông Ch cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lương Ngọc Ch đã được Tòa án cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định pháp luật.

[1] Về thủ tục tố tụng:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

- Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bị đơn căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận N.

- Về sự vắng mặt các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Lương Ngọc Ch có hộ khẩu thường trú tại số1/79, Đinh Tiên Hoàng, phường Th, quận N, thành phố C. Tòa án không tống đạt được cho bị đơn nên tiến hành niêm yết thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà B và ông Ch xây dựng hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và được UBND xã T, quận Th, thành phố C cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 12/4/2002. Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được cho nên giữa bà B và ông Ch không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bà và ông Ch ly thân từ năm 2021 đến nay. Bà B và các con về sống tại địa chỉ: 31/1, Khu vực Lân Thạnh 2, phường T, quận Th, thành phố C. Bà B nhận thấy tình cảm giữa bà và ông Ch không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Toà án tiến hành hoà giải nhưng ông Ch không có mặt theo thông báo của Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến của ông Ch đối với quan hệ hôn nhân giữa ông bà. Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà B và ông Ch mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên thống nhất cho bà B ly hôn với ông Ch theo quy định Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung và vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Ông bà có 02 con chung Lương Đức Ph và Lương Ngọc Thiên K. Đối với con chung Lương Đức Ph (nam) sinh ngày 20/10/2002 đã trưởng thành, bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với con chung Lương Ngọc Thiên K (nữ) sinh ngày 28/11/2012. Khi ly hôn bà B yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không yêu cầu ông Ch cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy bà B là người trực tiếp nuôi con từ khi sinh ra đến nay hơn nữa cháu Kim vẫn còn nhỏ nên cần phải có sự chăm sóc của mẹ để bảo đảm những quyền lợi thiết thực nhất cho con. Sau khi bà B và ông Ch ly thân cháu K sống cùng bà B cho đến nay, Bà B nuôi dưỡng cháu K bảo đảm sự phát triển bình thường. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của B được trực tiếp nuôi con chung trên cơ sở xem xét quyền lợi về mọi mặt của con, để con phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần được quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Con chưa thành niên các bên đều có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Nên dành quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho ông Ch không ai được quyền ngăn cản. Tuy nhiên, khi người trực tiếp nuôi con không đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung: Bà B trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, do xét xử vắng mặt ông Ch và bà B không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

- Về nợ chung: Bà B trình bày vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Lê Thị Kim B phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), chuyển số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại phiếu thu số 0000569 ngày 19/5/2022 do Chi cục Thi hành án dân sự quận N đã thu sang thành án phí.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng :

- Khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 207, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị Kim B được ly hôn với ông Lương Ngọc Ch.

2. Về con chung: Giao cháu Lương Ngọc Thiên K (nữ) sinh ngày 28/11/2012 cho bà Lê Thị Kim B trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Lương Ngọc Ch không cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho ông Lương Ngọc Ch không ai được quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị Kim B phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), chuyển số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại phiếu thu số 0000569 ngày 19/5/2022 do Chi cục Thi hành án dân sự quận N đã thu sang thành án phí.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

103
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 103/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:103/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ninh Kiều - Cần Thơ
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 29/09/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về