Bản án 228/2017/HSST ngày 27/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 228/2017/HSST NGÀY 27/09/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 27 tháng 9 năm 2017 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 203/2017/HSST ngày 12 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Trần Văn A, giới tính: nam, sinh ngày: 15/3/1999, tại: Hà Tỉnh; HKTT: xóm T, xã M, huyện L, tỉnh Hà Tỉnh; Chổ ở: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; con ông Trần Văn H và bà Đặng Thị T; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ; tiền sự: không; tiền án: không; tạm giam: 02/6/2017; (Có mặt).

Người bị hại: 1/- Anh Nguyễn Sĩ T, sinh năm: 1974; HKTT: 156/6 đường V, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt). 2/- Lý Minh H, sinh năm 1977; Trú tại: 174 đường K, Phường B, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trịnh Thế M, sinh năm: 1992; HKTT: thôn 6, xã L, huyện N, tỉnh Hải Dương; Chổ ở: số 299 đường P, Phường X, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo Trần Văn A bị Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Trần Văn A là nhân viên phục vụ quán cơm chay T tại 156/6 đường V, Phường M, quận G. Khỏang 17 giờ 30 ngày 31/5/2017 khi cả nhà đi vắng A ở nhà 01 mình trông nhà thì nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. A lấy 01 máy tính xách tay hiệu Dell và 01 máy tính bảng Ipad Air 2 bỏ vào balô rồi dùng thang gổ leo ra ngoài tẩu thoát. Sau khi lấy trộm được tài sản  A đem đến tiệm cầm đồ H ở Phường X, quận G cầm máy tính xách tay được 1.500.000 đồng. Khỏang 11 giờ ngày 01/6/2017 Công an quận Gò Vấp mời A về làm việc A đã thừa nhận hành vi phạm tội và giao nộp lại chiếc máy tính bảng và số tiền 1.500.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu hồi máy tính xách tay tại cửa hàng H.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 136/KL ngày 08/6/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp kết luận: Laptop Dell Inspiron N4030 cấu hình intel ® core (TM) i3 CPU M380 @2.53hz, Ram 2GB, 32 bit, số s/n DD1MGP1, số core 29086958341. Mode P07G là 2.100.000 đồng. Ipad model A 1567, FCCD ID: BCGA 1567, IC: 579C – A1567, Serial: DLXNJ6Q8G5WT,  số  Imei  354424060112822,  kiểu  máy  MH1C2ZP/A  là2.500.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Lý Minh H và anh Nguyễn SĩT.

Tại cơ quan điều tra Trần Văn A đã thừa nhận hành vi phạm tội.

Tại Cơ quan điều tra anh Nguyễn Sĩ T khai còn mất 120.000.000 đồng, tuy nhiên A không thừa nhận đã lấy số tiền đó nên không có cơ sở xử lý. Anh T do không có cơ sở chứng minh đã mất 120.000.000 đồng nên không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Vật chứng thu giữ:

- 01 máy tính xách tay hiệu Dell Inspiron N4030, 01 máy tính bảng hiệuIpad và 1.500.000 đồng tiền Việt Nam.

Đối với anh Trịnh Thế M khi cầm máy tính xách tay không biết là tài sản do A trộm cắp mà có nên không có cơ sở xử lý. Anh M yêu cầu A bồi thường lại số tiền 1.500.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 214/CTr-VKS, ngày 08/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Trần Văn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đối với vụ án đã đề nghị:

- Xử phạt bị cáo Trần Văn A từ 9 tháng đến 12 tháng tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.500.000 đồng

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Trần Văn A đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Trần Văn A đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người bị hại, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản rất táo bạo và liều lĩnh, hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân của mình mà không phải thông qua lao động chân chính bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 138 của Bộ luật Hình sự, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa hôm nay người bị hại anh Nguyễn Sĩ T và anh Lý Minh H vắng mặt, nhưng qua hồ sơ thể hiện anh T và anh H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt hiện không thắc mắc hay khiếu nại gì nên tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 máy tính xách tay hiệu Dell Inspiron N4030, 01 máy tính bảng hiệu Ipad qua xác minh là của anh Lý Minh H và anh Nguyễn Sĩ T, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H và anh T, Hội đồng xét thấy việc trả lại tài sản đó là đúng quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án, nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.

Đối với 1.500.000 đồng thu giữ của A là tiền bị cáo cầm chiếc máy tính xách tay của anh T cho anh Trịnh Thế M chưa kịp tiêu xài, Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho anh M 1.500.000 đồng.

Đối với 120.000.000 đồng anh T khai đã bị mất trộm, tuy nhiên A không thừa nhận đã lấy số tiền đó nên không có cơ sở xử lý. Anh T do không có cơ sở chứng minh đã mất 120.000.000 đồng nên không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Văn A phạm tội “Trộm cắp Tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h,p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Văn A 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/6/2017.

Áp dụng Điều 42 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a,đ khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Trả lại cho anh Trịnh Thế M 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng .

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 539/PNK, ngày 19/7/2017 của Công an quận Gò Vấp)

Áp dụng khỏan 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


62
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 228/2017/HSST ngày 27/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:228/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về