Bản án 01/2018/DS-ST ngày 02/01/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 01/2018/DS-ST NGÀY 02/01/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 02 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 414/2017/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 253/2017/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam T V (VP Bank);

Địa chỉ trụ sở: số 89 Láng H, phường H, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị;

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hiền T – Chức vụ: Trưởng phòng Thu hồi nợ Pháp lý kiêm Quản lý pháp chế cho Phòng An ninh và Phòng Kiểm soát gian lận, Phòng Thu hồi nợ pháp lý, Trung tâm Thu hồi nợ - Khối tín dụng tiêu dùng; Theo văn bản ủy quyền lập ngày 22-6-2017.

Ông Lê Hiền Thảo ủy quyền lại cho: Anh Ngô Hoàng N, sinh năm 1991; Theo văn bản ủy quyền lập ngày 01-9-2017. (có mặt)

Địa chỉ: số 113A, khu phố N, phường M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang

2. Bị đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1984; (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: ấp K, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai anh Ngô Hoàng N là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T V trình bày: Ngày 17/5/2014, chị Trần Thị T có ký hợp đồng tín dụng số 20140513-103020-0006 với Ngân hàng TMCP Việt Nam T V để vay số tiền 31.500.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 2,92%/tháng để tiêu dùng cá nhân, vay tín chấp không có tài sản thế chấp. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, chị Trần Thị T có trách nhiệm thanh toán số tiền 44.234.000 đồng (bao gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng, trong đó 23 tháng đầu trả 1.844.000 đồng/tháng, tháng cuối cùng trả 1.822.000 đồng, kỳ thanh toán đầu tiền bắt đầu từ ngày 17/6/2014. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, chị Trần Thị T đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho công ty được 12 kỳ với tổng số tiền là 22.128.000 đồng. Kể từ ngày 17/7/2015 đến nay, chị Trần Thị T không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở. Hiện chị Trần Thị T còn nợ ngân hàng số tiền 22.106.000 đồng. Nay Ngân hàng TMCP Việt Nam T V khởi kiện yêu cầu chị Trần Thị T phải trả cho ngân hàng số tiền nợ là 22.106.000 đồng, trong đó nợ gốc là 18.430.826 đồng và tiền lãi là 3.675.174 đồng, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
Tại Biên bản lấy lời khai đương sự ngày 07/11/2017 chị Trần Thị T trình bày: Chị T có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP Việt Nam T V vay số tiền 30.000.000 đồng nhưng làm thẻ ghi nợ số tiền 31.500.000 đồng. Chị T có nghĩa vụ trả trong vòng 24 tháng, mỗi tháng trả 1.822.000 đồng. Người nhà chị T đã trả cho ngân hàng được 12 kỳ với số tiền là 22.128.000 đồng, còn nợ lại ngân hàng 22.106.000 đồng. Nay ngân hàng TMCP Việt Nam T V yêu cầu chị trả số tiền 22.106.000 đồng thì chị T đồng ý trả số tiền trên cho nguyên đơn và đồng thời có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt chị theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Ngô Hoàng N là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ và ý kiến của các đương sự.
[1]  Ngân hàng TMCP Việt Nam T V yêu cầu chị Trần Thị T tiền nợ là 22.106.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 20140513-103020-0006 ngày 17-5-2014, do đó quan hệ pháp luật giữa các bên là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Chị T cư trú tại ấp K, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án là của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.
[2] Bị đơn, chị Trần Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 127, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt chị T.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng được lập giữa Ngân hàng TMCP Việt Nam T V và chị Trần Thị T là hợp pháp, không có dấu hiệu bị đe dọa hay ép buộc. Thực tế hợp đồng này đã được thực hiện, chị T vay Ngân hàng số tiền 31.500.000 đồng và đã nhận tiền từ phía Ngân hàng. Chị T đã thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng được 12 lần với số tiền 22.106.000 đồng.
Do đó, có căn cứ xác định chị T có vay tiền của Ngân hàng TMCP Việt Nam T V. Sau đó chị T đã không trả nợ đúng như cam kết để trể hạn kéo dài cho đến nay. Chị T thừa nhận coøn nôï ngân hàng số tiền 22.106.000 đồng và chị đồng ý trả cho ngân hàng số tiền này nhưng hiện tại chị T không có điều kiện và khả năng trả nợ. Do chò T ñaõ vi phaïm veà thôøi haïn traû nôï vaø phöông thöùc traû nôï gây ảnh hưởng đến quyền lợi cho phía nguyên đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.
[4] Ý  kiến phát biểu của Kiểm sát viên là phù hợp với quá trình giải quyết vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên chị Trần Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ngân hàng TMCP Việt Nam T V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 471, Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 91, Điều 95 Luật tổ chức các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/QH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T V (VP Bank).
Buộc chị Trần Thị T phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam T V (VP Bank) số tiền 22.106.000 đồng (Hai mươi hai triệu một trăm lẻ sáu ngàn) đồng, trong đó nợ gốc là 18.430.826 đồng và tiền lãi là 3.675.174 đồng.
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Trần Thị T chậm thực hiện việc trả nợ thì phải tiếp tục chịu tiền lãi do chậm thanh toán phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 20140513-103020-0006 ngày 17-5-2014 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam T V (VP Bank) và chị Trần Thị T cho đến khi thanh toán hết nợ.
2. Về án phí:
Chị Trần Thị T phải chịu 1.105.300 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T V số tiền 553.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 35853 ngày 11-10-2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

205
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2018/DS-ST ngày 02/01/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:01/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Gạo - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:02/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về