TIÊU CHUẨN
QUỐC GIA
TCVN
11692:2016
ISO
11794:2010
TINH QUẶNG ĐỒNG, CHÌ, KẼM VÀ NIKEN - PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU DẠNG
BÙN
Copper, lead,
zinc and nikel concentrates - Sampling of sluries
Lời nói đầu
TCVN 11692:2016 hoàn toàn tương đương
với ISO 11794:2010.
TCVN 11692:2016 do Ban kỹ thuật tiêu
chuẩn quốc gia TCVN/TC102 Quặng sắt biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường
Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Copper, lead,
zinc and nikel concentrates - Sampling of sluries
CẢNH BÁO: Tiêu chuẩn này
có thể bao gồm các vật liệu, thao tác và thiết bị có tính nguy hiểm. Trách nhiệm
của người sử dụng tiêu chuẩn này là phải
thiết lập các quy tắc
thực hành thích hợp đảm bảo sức khoẻ, an toàn và xác định khả năng áp dụng các
giới hạn của luật định trước khi sử dụng.
1 Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này quy định các phương pháp
cơ bản để lấy mẫu các loại
quặng dạng hạt được trộn với chất lỏng, thông thường là nước, để tạo bùn. Trong
các ngành công nghiệp và khai thác mỏ và trong các tài liệu về chế biến khoáng sản,
bùn còn được gọi là bột nhão, nhưng trong tiêu chuẩn này không sử dụng thuật ngữ “bột nhão”. Tại các tỷ lệ rất cao
của các hạt cứng mịn với chất lỏng khi giả sử quặng có dạng mềm dẻo, thì hỗn hợp được gọi chính
xác là vữa. Tiêu chuẩn này không đề cập đến phương pháp lấy mẫu dạng vữa.
Các quy trình mô tả trong tiêu chuẩn này
áp dụng để lấy mẫu các loại quặng dạng hạt được vận chuyển theo các dòng chuyển
động như bùn, nhưng không phải loại bùn có áp. Các dòng quặng này có thể chảy tự do hoặc giới hạn trong các
đường ống, bể máng
đãi, máng dẫn, máng tuyển, đường xoắn ốc hoặc các kênh tương tự. Tiêu chuẩn này
không khuyến nghị và cũng không đề cập đến việc lấy mẫu quặng dạng bùn tại các
trạng thái tĩnh, như bùn lắng hoặc thậm chí bùn khuấy kỹ trong tàu hoặc bể.
Tiêu chuẩn này mô tả các quy trình được
thiết kế để lấy các mẫu đại diện của các quặng rắn dạng bùn và sự phân bố cỡ hạt
của bùn đang được kiểm tra. Sau khi tháo mẫu bùn của chất lỏng và đo thể tích chất
lỏng, các mẫu ít ẩm có chứa hạt trong bùn có sẵn để sấy khô (nếu có yêu cầu) và
phép đo một hoặc nhiều đặc tính theo cách không chệch và khi đã biết độ chụm.
Các đặc tính được đo bằng các phép phân tích hóa, lý hoặc cả hai.
Các phương pháp lấy mẫu được mô tả có thể
áp dụng cho các loại bùn có yêu cầu kiểm tra để đánh giá xác nhận sự phù hợp với
các yêu cầu kỹ thuật, phép xác định giá trị của một đặc tính là cơ sở để trao đổi
giữa các bên đối tác thương mại hoặc đánh giá tập hợp các đặc tính trung bình
và các thay đổi khi mô tả một hệ thống hoặc một quy trình.
Khi lưu lượng dòng không quá cao, thì
phương pháp tham chiếu mà theo đó các quy trình lấy mẫu khác được so sánh là phương
pháp mà khi toàn bộ dòng quặng chảy vào tàu trong khoảng thời gian và thể tích quy định.
Phương pháp này tương ứng với phương pháp lấy mẫu trên băng tải dừng, được mô tả
tại ISO 12743.
2 Tài liệu viện dẫn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
ISO 12743, Copper, lead, zinc and
nickel concentrates - Sampling procedures for determination of metal and
moisture content (Tinh quặng đồng, chì, kẽm và niken - Các quy trình lấy mẫu để
xác định kim loại và hàm lượng ẩm).
ISO 12744, Copper, lead, zinc and
nickel concentrates - Experimental methods for checking the precision of
sampling (Tinh quặng đồng, chì, kẽm và niken - Phương pháp thực nghiệm để kiểm
tra độ chụm của quá trình lấy mẫu).
ISO 13292, Copper, lead, zinc and
nickel concentrates - Experimental methods for checking the bias of sampling
(Tinh quặng đồng, chì, kẽm và niken - Phương pháp thực nghiệm để kiểm tra độ chệch
của quá trình lấy mẫu).
ISO 20212, Copper, lead, zinc and
nickel sulfides - Sampling procedures for ores and smelter residues (Đồng, chì, kẽm và
niken sulfua - Qui trình lấy mẫu đối với các quặng và cặn tan chảy).
3 Thuật ngữ, định
nghĩa
Tiêu chuẩn này áp dụng các thuật ngữ và
định nghĩa nêu tại ISO 12743, ISO 12744, ISO 13292 và ISO 20212.
4 Các nguyên tắc khi lấy
mẫu quặng dạng bùn
4.1 Quy định
chung
Trong tiêu chuẩn này, bùn được định
nghĩa là “hỗn hợp dạng lỏng của chất rắn
có kích thước danh nghĩa lớn nhất < 1 mm, được trộn với nước, thường xuyên
được sử dụng như một hình thức thuận tiện để xử lý các chất rắn dạng rời”. Tại nhiều cơ sở chế
biến khoáng sản thường thấy các dòng bùn với nước và hỗn hợp chất rắn cuốn theo
được vận chuyển theo các dòng nhờ các hệ thống đường ống và các bơm dưới tác dụng
trọng lực trong các cống, máng và bể.
Một trong nhiều các thao tác là vận chuyển quặng đến máy nghiền để tạo quặng
thành dạng bùn ở các độ cô đặc khác, sau đó được vận chuyển tiếp theo các khoảng
cách dài bằng đường ống dẫn bùn. Quặng đuôi từ những nhà máy cũng được thải như
lượng bùn qua đường ống đến bể thải. Trong số nhiều các thao tác này, cần thu
thập các mẫu đơn tại các điểm lấy mẫu đã lựa chọn để đánh giá quặng hạt trong
bùn này.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Chuẩn bị các mẫu thử từ các mẫu sau khi lọc
và sấy. Có thể chuẩn bị các
phần mẫu thử từ mẫu thử này và phân tích
theo các phương pháp phân tích hoặc qui trình thử đã hiệu chuẩn đúng, phù hợp
dưới các điều kiện đã nêu.
Mục đích của nhiều phép đo là để xác định
các đặc tính quan tâm theo cách ngẫu nhiên với độ chụm vừa phải và chấp nhận được.
Lý thuyết lấy mẫu nói chung còn dựa trên các thay đổi của các tính chất bổ sung
khác, có thể sử dụng để xác định các thay đổi của quy trình lấy mẫu, chuẩn bị mẫu
và các phép phân tích lý hóa của mẫu thử sinh ra thế nào và do vậy xác định sự thay đổi tổng thể đối với hàng
loạt các phép đo. Cũng có thể sử dụng lý thuyết lấy mẫu để tối ưu hóa các
phương pháp lấy mẫu thủ công và các hệ thống lấy mẫu cơ học.
Nếu một sơ đồ lấy mẫu là nhằm cung cấp
các mẫu đại diện, thì tất cả các phần của quặng dạng bùn trong lô phải có cơ hội
như nhau được chọn và bao gồm trong mẫu thử nghiệm. Do vậy, quặng dạng bùn được lấy mẫu
theo cách mà tất cả các mẫu đơn có trong tập hợp đó được chia và đều có xác suất như nhau được
lựa chọn. Bất kỳ sự sai lệch nào từ yêu cầu cơ bản này đều dẫn đến độ chệch. Một
sơ đồ lấy mẫu mà có các phương pháp lựa chọn
không đúng, tức là xác suất lựa chọn không đồng nhất thì đều không đáng tin cậy
để cung cấp các mẫu đại diện.
Tốt nhất nên tiến hành lấy mẫu quặng dạng bùn theo
phương pháp lấy mẫu hệ thống trên cơ sở thời gian (xem Điều 9), nếu lưu lượng
bùn và nồng độ các chất rắn thay đổi theo thời gian, thể tích bùn và khối lượng
chất rắn khô của từng mẫu đơn cũng sẽ thay đổi tương ứng theo. Điều này cần được
chỉ rõ rằng không có sai số (độ chệch)
hệ thống được đưa vào bởi sự biến thiên
tuần hoàn về chất lượng hoặc số lượng, khi khoảng lấy mẫu dự kiến là xấp xỉ
bằng bội số của các biến thiên tuần hoàn về chất lượng hoặc số lượng. Nếu không
thì sử dụng phương pháp lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên (xem Điều 10).
Cách thực hành tốt nhất để lấy mẫu quặng
dạng bùn là cắt các dòng chảy tự do theo phương pháp cơ học (xem Điều 11), cho
vật cắt lấy mẫu chạy qua toàn bộ tiết diện dòng bùn. Việc tiếp cận với các dòng
chảy tự do đôi khi phải bố trí tại cuối các đường ống, hoặc theo cách khác, tuyến
ống lấy mẫu trên dòng đầy có thể được bổ sung vào ống chuyển bùn vào bồn, bể chứa,
có thể hợp nhất trong các ống, rãnh, máng. Nếu các mẫu không được lấy theo cách
này, thì nồng độ của
các chất rắn có trong bùn sẽ không đồng nhất do sự tách lớp và phân tầng các chất rắn có thể
gây ra độ chệch cho mẫu được lấy. Dòng bùn trong các ống có thể được đồng nhất
nhờ các hạt rất mịn, như đất sét, chúng được phân tán đều trong huyền phù rối dọc
theo chiều dài và đường kính ống. Tuy nhiên, thường thì lượng bùn trong đường ống
sẽ có gradient nồng
độ hạt đáng kể qua ống đó và có thể có biến động nồng độ hạt dọc theo chiều dài
ống. Thông thường các trạng thái này được gọi là dòng hỗn tạp, không đồng nhất.
Các ví dụ về dòng này là dòng trong ống đầy có huyền phù không đồng nhất, hoặc
dòng huyền phù các hạt mịn trong một phần ống chảy phía trên tầng tạo bởi các hạt
bùn thô lắng hoặc phần bùn chảy chậm hơn trong ống.
Đối với dòng không đồng nhất, độ chệch
xuất hiện khi có lỗ khoan trên đường ống bùn để đặt ống nhánh lấy mẫu hoặc chọc
ống mẫu vào dòng bùn để lấy mẫu. Độ chệch sinh ra do các biên dạng nồng độ
không đồng nhất tỏa tròn trong đường ống và các quĩ đạo khác nhau do
quán tính của các hạt có khối lượng khác nhau, làm cho các hạt to hơn, đặc hơn
bị loại ra trước khỏi mẫu hoặc lại chảy trước vào mẫu.
Trong các kênh bùn như các bể thì dòng không đồng nhất hầu
như luôn luôn xuất hiện, và sự không đồng nhất trong nồng độ hạt thường xảy ra
khi tháo xả qua đập, bể hoặc bơm (step). Tuy nhiên, việc lấy mẫu tại mương/đập
hoặc bơm cho phép sự tiếp cận hoàn toàn với toàn bộ chiều sâu rộng dòng chảy,
do đó tất cả các phần
của dòng bùn đều có cơ hội như nhau được thu gom vào mẫu.
Không khuyến nghị tiến hành lấy mẫu bùn
trong các trạng thái tĩnh, như lắng đọng hoặc thậm chí tại các bồn khuấy,
khoang tàu hoặc đập, vì hầu như không thể đảm bảo rằng tất cả các phần bùn
trong lô có cơ hội như nhau được lấy mẫu và có mặt trong mẫu thử của lô. Thay vào đó, nên tiến hành lấy mẫu
từ các dòng chuyển động, như khi rút hoặc nạp vào các bồn, toa tàu hoặc đập.
4.2 Các sai số
khi lấy mẫu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các quá trình lấy mẫu, chuẩn bị mẫu và
đo mẫu là các qui trình mang tính thử nghiệm, và từng quy trình có độ không đảm
bảo của riêng nó xuất hiện như các biến thiên trong các kết quả cuối cùng. Khi
trung bình các biến thiên này tiệm cận gần bằng không (zero), thì chúng được gọi
là các sai số ngẫu nhiên.
Các biến thiên nghiêm trọng hơn góp phần vào độ không đảm bảo của các kết quả
là các sai số hệ thống, chúng có các giá trị trung bình chệch xa khỏi không.
Trong các trường hợp này cũng có các sai số do con người gây ra, do thực hiện
sai so với các quy trình quy định do
đó không áp dụng được các quy trình phân tích thống kê.
Có thể xác định các đặc tính của các chất
rắn có trong quặng dạng bùn bằng cách lấy các mẫu ra từ dòng bùn, chuẩn bị các
mẫu thử và tiến hành đo các đặc tính chất lượng theo yêu cầu. Sai số tổng của
quá trình lấy mẫu (TSE) có thể biểu thị bằng tổng của một số các thành phần
riêng rẽ (Gy, 1992; Pitard, 1993). Một tổ hợp cộng đơn giản sẽ không thể nếu
các thành phần đã
tương
quan với nhau. Sai số lấy mẫu được biểu thị là tổng của các thành phần, tính
theo Công thức (1):
TSE = QE1 + QE2
+ QE3 + WE + DE + EE + PE
(1)
trong đó
QE1
là sai số do sự biến thiên về chất lượng
trong thời gian ngắn cùng với các thay đổi về chất lượng trong thời gian ngắn
của thành phần các chất rắn có trong bùn;
QE2
là sai số do sự biến thiên về chất lượng
trong thời gian dài cùng với các thay đổi về chất lượng trong thời
gian dài của thành phần các chất rắn có trong bùn;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
là sai số do sự biến thiên về chất lượng
mang tính chu kỳ cùng với các thay đổi về chất lượng mang tính chu kỳ của
thành phần các chất rắn có trong bùn;
WE
là sai số do quá trình cân cùng với
các thay đổi trong lưu lượng bùn;
DE
là sai số hạn chế của mẫu đơn do sự
phân định ranh giới của mẫu đơn không đúng;
EE
là sai số rút (lấy) mẫu đơn do quá
trình lấy mẫu đơn từ bùn không đúng;
PE
là sai số chuẩn bị mẫu (cũng được hiểu
là lỗi phụ) do thực hành sai lệch
so với quy định
(thường
là vô tình, không chủ ý), ví dụ, trong quá trình tạo thành mẫu lô, xả, lọc nước, và vận chuyển và
sấy mẫu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
QE1
= FE + GE
(2)
trong đó
FE
là sai số cơ bản do sự thay đổi chất
lượng giữa các hạt;
GE
là sai số tách và nhóm.
Sai số cơ bản sinh ra từ độ không đồng
nhất về thành phần của lô, tức là độ không đồng nhất vốn có của từng hạt tạo thành
thành phần các chất rắn trong lô. Sự chênh lệch về thành phần của các hạt càng
lớn thì độ không đồng
nhất về thành phần
càng cao và như vậy phương sai của sai số cơ bản càng lớn. Không bao giờ được bỏ sai số cơ bản này. Đây
là sai số cố hữu sinh ra từ sự thay đổi về thành phần của các hạt có trong quặng
dạng bùn đang được lấy mẫu.
Sai số do quá trình tách ra và nhóm lại
sinh ra từ sự phân bố không đồng nhất của quặng được lấy mẫu (Pitard, 1993). Sự
phân bố không đồng nhất
của một lô là độ không đồng nhất sinh ra từ cách thức phân bố của các hạt trong
bùn quặng. Có thể giảm thiểu điều này bằng cách lấy số lượng các mẫu đơn nhiều
hơn hoặc ít hơn, nhưng không bao giờ loại bỏ được hoàn toàn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.2.2 Sai số
do chuẩn bị, PE
Sai số do chuẩn bị mẫu bao gồm các sai số
đi kèm với các thao tác chuẩn bị mẫu không chọn lựa mà không làm thay đổi khối
lượng, như khi vận chuyển, tháo xả và lọc, sấy, nghiền, đập hoặc trộn mẫu. Sai
số này không bao gồm các sai số khi chia mẫu. Các sai số do chuẩn bị cũng được
hiểu là các sai số phụ, bao gồm sự ô nhiễm mẫu, thất thoát mẫu, thay đổi về
thành phần hóa lý của mẫu, sai sót của người vận hành, sự gian lận hoặc phá hỏng
mẫu. Các sai số này có thể là không đáng kể nếu có hệ thống lấy mẫu tốt và người
vận hành được đào tạo tốt. Ví dụ, các vật cắt mẫu qua tiết diện dòng bùn có thể
có các nắp đậy để không bị quặng bắn vào khi dừng tại vị trí nghỉ, và cần chú ý
trong quá trình lọc để tránh thất thoát các hạt mịn vẫn lơ lửng trong nước bị
thải ra.
4.2.3 Các sai
số về phân định ranh giới và lấy (rút) mẫu ra, DE và EE
Các sai số về phân định ranh giới và lấy
mẫu sinh ra từ thiết kế và vận hành vật cắt mẫu không đúng. Sai số do phân định
ranh giới mẫu đơn, DE, do hình dạng không đúng của thể tích giới hạn mẫu đơn,
và điều này có thể do cả hai lỗi thiết kế và vận hành. Vì hình dạng không đúng của
khối mẫu bùn đơn, nên việc lấy mẫu tiến hành theo các kết quả xác suất lựa chọn
không thống nhất. Trung bình của DE thường
không phải là không, điều này làm cho nó trở thành nguồn gốc của độ chệch lấy mẫu.
Sai số về phân định ranh giới có thể bỏ qua/không đáng kể nếu tất cả các phần
trên tiết diện ngang của dòng bùn được chạy vào vật cắt mẫu trong cùng một khoảng
thời gian.
Lấy mẫu từ các dòng bùn chuyển động thường
bằng các phương pháp, các phương pháp này nằm trong ba phân loại theo tính chất
vận hành rộng sau:
a) Lấy toàn bộ dòng bùn trong một phần
thời gian bằng vật cắt ngang tiết diện như thể hiện trên Hình 1 a) (sau Pitard,
1993), thông thường khi bùn chảy từ ống vào mương/đập hoặc bơm. Các lần cắt 1
và 2 cho thấy việc lấy mẫu bằng vật cắt là đúng làm chệch hướng toàn bộ các phần
của dòng theo thời gian. Các lần cắt 3 đến 5 cho thấy việc lấy mẫu không đúng
khi vật cắt làm chệch các phần của dòng khác nhau theo thời gian.
b) Lấy một phần của dòng trên toàn bộ thời
gian như thể hiện trên Hình 1 b) (sau Pitard, 1993), bằng dụng cụ lấy mẫu điểm
trên dòng, hoặc bằng đầu lấy mẫu trong ống hoặc kênh, điều này luôn luôn sai.
c) Lấy một phần của dòng trong một phần thời
gian như thể hiện trên Hình 1 c) (sau Pitard, 1993), cũng bằng dụng cụ lấy mẫu
điểm trên dòng, hoặc bằng đầu lấy mẫu trong ống hoặc kênh, điều này luôn luôn
sai.
Sai số lấy mẫu đơn, EE, sinh ra từ quá
trình lấy mẫu đơn không đúng. Việc lấy mẫu được cho là đúng, chỉ khi nếu tất cả các hạt
có trong quặng dạng bùn có trọng tâm nằm bên trong của mẫu đơn định ranh đúng
được rút ra. Giá trị trung bình của EE thường không bằng không, điều này làm
cho nó trở thành nguồn gốc của độ chệch lấy mẫu. Sai số về lấy mẫu có thể bỏ
qua
bằng
cách đảm bảo chắc chắn là
mẫu
này được lấy hoàn toàn từ dòng bùn mà không có hạt quặng nào bị bắn hoặc tràn ra khỏi vật
cắt. Độ sâu và dung tích của vật cắt phải đủ để dòng bùn không bị chảy ngược ra
khỏi lỗ mở của vật
cắt, làm thất thoát một
phần mẫu đơn đã lấy được.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
a) Lấy toàn bộ
dòng bùn trong một phần thời gian

b) Lấy toàn bộ
dòng bùn trong suốt thời gian (luôn luôn sai)

c) Lấy toàn bộ
dòng bùn trong một phần thời gian (luôn luôn sai)
CHÚ DẪN
a Đúng
b sai
Hình 1 - Hình
chiếu bằng về các lượng bùn chạy vào vật cắt lấy mẫu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Sai số do cân là sai số thành phần sinh ra từ
mô hình lựa chọn theo Công thức (1). Trong mô hình đó, lưu lượng chất rắn trong
dòng bùn phụ thuộc thời gian là hàm trọng số áp dụng cho các đặc tính chất
lượng phụ thuộc
thời
gian tương ứng qua thời gian, sẽ chỉ ra các đặc tính chất lượng trung bình về
thành phần chất rắn trong lô. Sai số do cân sinh ra từ việc áp dụng các tỷ trọng
không đúng đối với các đặc tính chất lượng. Giải pháp tốt nhất để giảm sai số
do cân là tạo lưu lượng ổn định. Theo nguyên tắc chung, có thể bỏ qua sai số do cân đối
với lưu lượng thay đổi đến 10 %, và có thể chấp nhận đối với lưu lượng thay đổi
đến 20 %.
4.2.4 Sai số
chu kỳ do biến thiên về chất lượng, QE3
Các sai số chu kỳ do biến thiên về chất
lượng sinh ra từ các thay đổi có chu kỳ trong chất lượng quặng sinh ra do một số
thiết bị sử dụng để xử lý và vận chuyển bùn, ví dụ, máy nghiền, chu trình sàng,
thiết bị tách và các bơm. Trong các trường hợp như vậy, cần thực hiện lấy mẫu
theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên như giải thích tại Điều 10. Cách khác để giảm nguồn
gây các thay đổi đáng kể mang tính chu kỳ về chất lượng thì có thể cần thiết kế
lại nhà máy/xưởng.
4.3 Phương sai
lấy mẫu và phương sai toàn phần
4.3.1 Phương
sai lấy mẫu
Giả sử sai số do cân (WE), sai số phân định
ranh giới mẫu đơn (DE), sai số lấy mẫu đơn (EE) và sai số chuẩn bị mẫu (PE) mô
tả tại 4.2 đã bị loại trừ hoặc giảm đáng kể về giá trị nhờ thiết kế và thực
hành lấy mẫu cẩn thận. Ngoài
ra, giả sử rằng các
thay đổi có tính chu kỳ về chất lượng đã được loại trừ và giả sử là lưu lượng bùn đã
được điều hòa. Thì sai số lấy mẫu
tại Công thức (1) giảm còn:
TSE = QE1 + QE2
(3)
Do đó, phương sai lấy mẫu
tính theo:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(4)
Phương sai của sự biến thiên chất lượng
trong thời gian ngắn,
sinh
ra từ thành phần khác nhau bên trong mẫu đơn được lấy tại khoảng thời gian ngắn
nhất có thể. Đây là phương sai cục bộ hoặc ngẫu nhiên do bản chất hạt của các
chất rắn có trong bùn quặng.
Phương sai của sự biến thiên chất lượng
trong thời gian dài,
, sinh ra từ xu hướng
chất lượng liên tục xảy ra khi lấy mẫu bùn là thường xuyên phụ thuộc thời gian
và không gian. Thành phần này thường là kết hợp của nhiều xu hướng sinh ra do
nhiều nguyên nhân khác nhau.
4.3.2 Phương
sai toàn phần
Giả sử đã loại trừ hoặc giảm thiểu được
các nguồn gốc gây độ chệch, thì mục tiêu tiếp theo của sơ đồ lấy mẫu là cung cấp
một hoặc nhiều phần mẫu, đủ điều kiện đại diện cho một lô, để xác định các đặc tính chất
lượng của lô với độ chụm tốt, tức là, phương sai thấp. Phương sai toàn phần của kết
quả cuối cùng, ký hiệu là
. bao gồm phương sai lấy mẫu (bao gồm xử lý mẫu)
cộng phương sai phân tích (phân tích hóa, xác định phân bố cỡ hạt, v.v.) như
sau:

(5)
trong đó

...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

là phương sai phân tích.
Trong Công thức (5), phương sai lấy mẫu
bao gồm các phương sai do tất cả các bước lấy mẫu trừ bước lựa chọn phần mẫu thử.
Phương sai do lựa chọn phần mẫu thử đã bao gồm trong phương sai phân tích,
, được xác định phù hợp
theo ISO 12744, vì rất khó xác định tách riêng phương sai phân tích “thực”.
Thông thường, phép phân tích lặp lại đối
với các đặc tính chất lượng được thực hiện để giảm phương sai toàn phần. Trong
trường hợp này, nếu các phép
phân tích lặp lại “r” được thực hiện thì:

(6)
Có thể ước lượng hoặc đo phương sai toàn phần theo
một số cách, phụ thuộc vào mục đích thực hiện. Theo nhiều khía cạnh, thi các
cách tiếp cận khác nhau đều cần bổ sung.
Phương pháp thứ nhất, do Gy xây dựng, là
chia nhỏ phương sai lấy mẫu vào các thành phần của nỏ đối với từng giai đoạn lấy
mẫu (xem Phụ lục A). Như vậy phương sai toàn phần là:

...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
trong đó

là phương sai lấy mẫu đối với giai đoạn
1, tức là phương sai lấy mẫu sơ cấp;

là phương sai lấy mẫu đối với giai đoạn
i;

là phương sai lấy mẫu đối với giai đoạn
u - 1, giai đoạn thứ hai-cuối cùng;
u
là số lượng các giai đoạn lấy mẫu,
giai đoạn u tương ứng với sự lựa chọn phần mẫu thử.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phương pháp thứ hai được gọi là “rút gọn”
(xem 4.3.4), là chia nhỏ phương sai toàn phần vào quá trình lấy mẫu sơ bộ,
xử lý mẫu và chỉ các phương sai phân tích như sau:

(8)
trong đó

là phương sai lấy mẫu sơ cấp;

là phương sai lấy mẫu do tất cả các bước
lấy mẫu tiếp theo, tức là, xử lý mẫu, trừ bước lựa chọn phần mẫu thử;

...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phương sai lấy mẫu sơ bộ là giống hệt
phương sai lấy mẫu đối với bước 1 trong Công thức (7), trong khi
là bằng phương sai lấy mẫu tổng đối
với các giai đoạn lấy mẫu còn lại, trừ bước lựa chọn phần mẫu thử, vì bước này
nằm trong phương sai phân tích. Độ lớn tương đối của các thành phần phương sai
trong Công thức (8) sẽ cho thấy khi nào cần cố gắng để giảm phương sai toàn phần.
Tuy nhiên, không thể tách các phương sai của các giai đoạn xử lý mẫu riêng rẽ.
Phương pháp này là phù hợp để ước lượng phương sai toàn phần đối với các sơ đồ
lấy mẫu mới dựa trên các quy trình xử lý mẫu giống nhau, khi số lượng các mẫu
đơn, quá trình xử lý mẫu và các phép phân tích mẫu khác nhau.
Cuối cùng, có thể ước lượng phương sai
toàn phần
bằng cách
thu thập các mẫu đúp xen kẽ (xem 4.3.5). Phương pháp này gọi là phương pháp “mẫu
xen kẽ”, và cung cấp các thông tin giá trị về phương sai toàn phần thực tế đạt
được đối với một sơ đồ lấy mẫu mà không cần cố gắng quá, miễn là có sẵn các
phương tiện để thu thập các mẫu đúp (Merk, 1986). Phương pháp này không đưa ra
được các thông tin về các thành phần phương sai, nhưng có thể so sánh phương
sai toàn phần với phương sai phân tích để đảm bảo chắc chắn khi nào sơ đồ lấy mẫu
được sử dụng tối ưu
hoặc không. Vì vậy, việc sử dụng để thiết kế các sơ đồ lấy mẫu bị hạn chế,
nhưng có thể sử dụng để giám sát khi nào sơ đồ lấy mẫu đang được kiểm soát.
4.3.3 Phương
pháp lấy mẫu-giai đoạn của lấy mẫu ước lượng và phương sai toàn phần
Phương sai lấy mẫu đối với giai đoạn i
(xem Phụ lục A) được tính theo:

(9)
trong đó

là phương sai giữa các mẫu sơ cấp đối
với giai đoạn i;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
là số lượng các mẫu đơn đối với giai
đoạn i.
Phương sai giữa các mẫu đơn đối với giai
đoạn i,
, có thể ước
tính theo Công thức sau:

(10)
trong đó

là kết quả phép thử đối với mẫu đơn j;

là kết quả trung bình đối với tất
cả các mẫu đơn;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
là phương sai của các giai đoạn xử lý
mẫu và phân tích tiếp
theo.
Phương sai của các giai đoạn xử lý mẫu
và phân tích tiếp theo của từng mẫu đơn,
, đã được tính đến trong Công thức
(10) để thu được ước lượng không chệch
.
CHÚ THÍCH: Cần chú ý trong phép trừ
các phương sai. Chênh lệch chỉ đáng kể khi tỷ lệ f của các phương sai bị
trừ là đáng kể về mặt thống kê.
Phương sai do chọn phần mẫu thử là bao gồm
trong phương sai phân tích,
, phương sai lấy mẫu tổng
sẽ là:

(11)
Kết hợp các Công thức (6) và (11) sẽ có phương sai toàn phần
như sau:

(12)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

(13)
Cách tốt nhất để giảm giá trị của
đến mức chấp nhận được là
giảm các số hạng trong Công thức (12) đầu tiên. Rõ ràng là
Ini, đối với giai
đoạn lấy mẫu cho trước có thể giảm bằng cách tăng số lượng các mẫu đơn ni hoặc giảm
bằng cách đồng nhất bùn
trước khi lấy mẫu. Số hạng cuối cùng có thể giảm bằng cách giảm kích thước hạt trước
khi lựa chọn phần mẫu thử, hoặc thực hiện các
phép phân tích đúp. Việc lựa chọn số lượng tối ưu các mẫu đơn, ni, đối với từng giai đoạn
lấy mẫu có thể đòi hỏi thực hiện một vài tác
động qua lại để thu được phương sai toàn phần theo yêu cầu,
.
4.3.4 Phương
pháp rút gọn của lấy mẫu ước lượng và phương sai toàn phần
Trong khi không thể phân chia, tức là
tách các phương sai của các giai đoạn xử lý mẫu riêng lẻ, thì phương pháp rút gọn là phù hợp
để ước lượng phương sai toàn phần đối với các sơ đồ lấy mẫu mới dựa trên các
qui trình xử lý mẫu giống nhau, khi các số lượng mẫu đơn, các quá trình xử lý
và phân tích mẫu là khác nhau.
Sử dụng Công thức (11), phương
sai lấy mẫu sơ cấp
là:

(14)
trong đó
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
là số lượng các mẫu đơn sơ cấp;

là phương sai giữa các mẫu đơn xác định
theo Công thức (10).
Phương sai lấy mẫu sơ bộ có thể giảm bằng
cách tăng số lượng các mẫu đơn sơ cấp ni
Phương sai xử lý lấy mẫu
và phương sai phân tích
được xác định theo thử
nghiệm bằng cách xử lý mẫu đúp và xác định các đặc tính chất lượng theo ISO
12744. Cũng có thể thu được phương sai phân tích
bằng cách thực hiện các phép phân tích đúp đối
với các mẫu thử.
Thông thường thực hiện các quá trình xử
lý và phân tích mẫu nhiều lần để giảm phương sai toàn phần. Trong trường hợp này, kết hợp hai
Công thức (8) và (14) sẽ được:
a) Khi một mẫu đơn được tạo thành từ lô
và các phép phân tích đúp được thực hiện đối với mẫu thử:

(15)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

(16)
c) Khi một mẫu đơn được tạo thành từ lô và
các phép phân tích đúp được thực hiện đối với từng mẫu đơn lấy từ lô và các
phép phân tích đúp r được thực hiện, thì:

(17)
4.3.5 Phương
pháp láy mẫu xen kẽ khi xác định phương sai toàn phần
Phương sai toàn phần
đạt được đối với một thao tác lấy
mẫu cho trước có thể ước tính
theo thực nghiệm bằng cách thu thập các mẫu đúp xen kẽ như thể hiện tại Hình 2.
Nếu số lượng các mẫu đơn sơ cắp cho việc lấy mẫu hàng ngày là n1, sau đó các mẫu
đơn 2 n1 được lấy từ mỗi
lô và các mẫu đơn đánh số chẵn và các mẫu đơn đánh số lẻ được kết hợp riêng rẽ
để tạo thành các mẫu A và B cho lô đó. Sau đó tách các mẫu A và B đưa vào quá
trình xử lý và phân tích mẫu. Thực hiện lặp lại quy trình này cho đến khi hoàn
tất việc lấy mẫu. Phương sai toàn phần cho một lô đơn lẻ là:

(18)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
xAi và xBi
là các phép phân tích cho từng cặp mẫu
Ai và Bi;
N
là số lượng các cặp (từ 10 đến 20);
π/4
là hệ số thống kê của dải phương sai
liên quan đối với cặp các phép đo.
Phương sai toàn phần thu được với nỗ lực
thêm, với điều kiện sẵn có các phương tiện thu thập các mẫu đúp xen kẽ.

Hình 2 - Ví dụ
sơ đồ lấy mẫu đúp xen kẽ
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hầu hết các thao tác lấy mẫu là thói
quen được thực hiện để xác định các đặc tính chất lượng trung bình của một lô cũng
như xác định sự biến thiên của các đặc tính về chất lượng giữa các lô phụ và các lô để giám
sát, theo dõi và kiểm soát chất lượng. Trong việc thiết lập một sơ đồ lấy mẫu
cho việc lấy mẫu hàng ngày sao cho có thể thu được độ chụm yêu cầu đối với lò, vì thế cần thực hiện theo các
bước sau đây. Thứ tự lấy mẫu bao gồm các qui trình thực nghiệm, như bước f) dưới đây, là
các qui trình không thực hiện hàng ngày mà hãn hữu, ví dụ, xác định phương sai
giữa các mẫu đơn, đặc biệt khi sự cố thay đổi đáng kể xuất hiện về nguồn gốc bùn hoặc
thiết bị lấy mẫu. Quy trình lập sơ đồ lấy mẫu như sau.
a) Xác định mục đích đối với các mẫu được
lấy. Thông thường mục đích chính của các tiêu chuẩn lấy mẫu là phục vụ cho các
giao dịch thương mại. Tuy nhiên, các qui trình mô tả trong tiêu chuẩn này thường
thường có thể áp dụng như nhau để giám sát, theo dõi vận hành của nhà máy, để kiểm
soát quá trình và các tính toán luyện kim.
b) Xác định lô theo quy định về thời
gian của dòng bùn, ví dụ, một ngày vận hành.
c) Nhận định rõ các đặc tính chất lượng
cần đo và định rõ độ chụm toàn phần (độ chụm kết hợp của các độ chụm khi lấy mẫu,
chuẩn bị mẫu và của
phép đo) theo yêu cầu đối với từng đặc tính chất lượng.
d) Xác định kích thước danh nghĩa lớn nhất
và mật độ hạt của các chất rắn có trong bùn để xác định khối lượng tối thiểu
các chất rắn có trong mẫu của lô (xem Điều 8).
e) Kiểm tra để đảm bảo các qui trình và
thiết bị lấy các mẫu
đơn để tránh độ chệch (xem Điều 6).
f) Xác định phương sai giữa các mẫu đơn
về các đặc tính chất lượng
đang được xem xét và phương sai của quá trình chuẩn bị và đo mẫu (xem Điều 4).
g) Xác định số lượng tối thiểu các mẫu
đơn được lấy từ lô và số lượng các lô phụ để đạt được độ chụm mong muốn (xem Điều
7). Nếu độ chụm yêu cầu dẫn đến số lượng các mẫu đơn và số lượng các lô phụ không
thực tế thì có thể cần phải chấp nhận độ chụm kém hơn.
h) Xác định khoảng thời gian lấy mẫu,
tính bằng phút, đối với qui trình lấy mẫu hệ thống trên cơ sở thời gian (xem Điều
9) hoặc qui trình lấy mẫu phân
tầng ngẫu nhiên trong các khoảng thời gian không đổi (xem Điều 10).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trong suốt quá trình lấy mẫu, các mẫu lô
phụ thường được kết hợp để tạo thành một mẫu lô để phân tích (xem Hình 3). Để
nâng cao độ chụm toàn phần của phép đo các đặc tính chất lượng của lô, các mẫu
đơn được lấy từ lô phụ có thể sử dụng để tạo thạnh các mẫu lô phụ để phân tích
(xem Hình 4) Các nguyên nhân khác để chuẩn bị và phân tích riêng rẽ các mẫu lô
phụ là:
a) để thuận tiện xử lý quặng;
b) để cung cấp nhiều hơn các thông
tin về chất lượng lô; hoặc
c) để cung cấp các mẫu đối chứng hoặc mẫu lưu sau khi
chia mẫu.
Có thể thực hiện phân tích các mẫu đơn
riêng rẽ (xem Hình 5) để đánh giá sự biến thiên về các đặc tính chất lượng của
lô. Ngoài ra, khuyến nghị là độ chụm đạt được trong thực tế trên cơ sở hàng
ngày bằng việc lấy mẫu đúp khi các mẫu luân phiên liên tiếp được đưa vào các mẫu
A và B (xem Hình 2) từ đó chuẩn bị và phân tích hai mẫu thử này. Để thu được sự tính toán
tin cậy về độ chụm, số lượng thực (lớn hơn 15) của các cặp số liệu là bắt buộc.
Trong hầu hết các trường hợp, các chất rắn
có trong mẫu bùn sẽ không cần đập hoặc nghiền nhỏ như cám để chia mẫu, vì hầu hết
các bùn chỉ chứa các quặng hạt mịn. Tuy nhiên, nếu các hạt này thô và cần giảm
về cỡ hạt để chia thì cần tính toán lại khối lượng mẫu tối thiểu cho lô đó, sử
dụng kích thước danh nghĩa mới lớn nhất của các chất rắn đã đập (xem Điều 8).
Thiết kế đầu tiên của sơ đồ lấy mẫu đối
với một nhà máy mới hoặc đối với bùn có các đặc tính lạ thì nên dựa trên kinh
nghiệm của các nhà máy xử lý quặng và các loại quặng tương tự. Cách khác, số lượng
thực của các mẫu đơn, ví dụ, 100, có thể lấy và sử dụng để xác định sự biến
thiên về chất lượng của các chắt rắn chứa trong đó, nhưng không thể xác định
trước được độ chụm lấy mẫu.
Tiêu chuẩn này không khuyến nghị và cũng
không bao gồm trong nội dung các vấn đề về lấy mẫu bùn từ các nguồn tĩnh, như
các bồn chứa, các bồn trộn và các đập quặng đuôi.

...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Hình 4 - Ví dụ
sơ đồ lấy mẫu với từng mẫu của lô phụ được phân tích riêng rẽ

Hình 5 - Ví dụ
sơ đồ lấy mẫu với từng mẫu đơn được phân tích riêng rẽ
6 Giảm thiểu độ chệch
và khối lượng mẫu đơn không có độ chệch
6.1 Giảm thiểu độ
chệch
Giảm thiểu độ chệch trong việc lấy mẫu
và chuẩn bị mẫu là đặc biệt quan trọng. Không như độ chụm, có thể cải thiện bằng
cách lấy thêm các mẫu đơn (bùn), chuẩn bị nhiều mẫu thử hoặc thử nghiệm các phần
mẫu thử nhiều hơn, độ chệch không thể giảm được bằng cách tái lập các phép đo.
Vì vậy cần giảm
thiểu hoặc loại trừ các các nguồn gây ra độ chệch bằng cách thiết kế đúng hệ thống
lấy mẫu và chuẩn bị mẫu. Việc giảm thiểu hoặc loại trừ độ chệch phải được coi
là quan trọng hơn việc cải tiến độ chụm.
Các nguồn gốc gây ra độ chệch cần được
loại trừ bao gồm sự tràn mẫu, nhiễm bẩn mẫu, và rút các mẫu đơn không đúng, trong
khi có thể giảm thiểu các nguyên nhân gốc nhưng không thể loại trừ hoàn toàn vì nó sinh ra do sự biến thiên
tốc độ lắng và mật độ của các hạt có kích thước khác nhau trong quá trình chia mẫu
trước quá trình lọc.
Phải tuân theo các nguyên tắc hướng dẫn
mà điều quan trọng là các mẫu đơn được lấy ra từ lô theo cách sao cho tất cả các phần của đại bộ phận
hạt quặng có trong bùn đều có cơ hội như nhau được lấy làm mẫu và là một phần của
mẫu thử để sử dụng cho
thử nghiệm các tính chất hóa hoặc lý, không chú ý đến cỡ hạt, khối lượng hoặc mật
độ của các hạt. Trên thực tế, điều này có nghĩa là toàn bộ tiết diện ngang của
bùn phải được lấy mẫu khi tiến hành lấy mẫu từ dòng chuyển động.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
a) Khi tiến hành lấy mẫu từ dòng chuyển
động thì toàn bộ tiết diện ngang của bùn phải được lấy vào mẫu.
b) Không được để tràn mẫu.
c) Kích thước lỗ mở của vật cắt mẫu ít nhất
phải bằng ba lần kích thước danh nghĩa lớn nhất của các hạt trong bùn quặng, tối
thiểu bằng 10 mm.
d) Chiều dài rãnh trên vật cắt phải ít nhất là 5 cm dài hơn
chiều dài lớn nhất của dòng bùn rơi tương ứng với hướng cắt để chặn toàn bộ
dòng bùn.
e) Các mép vật cắt phải song song đối với
các vật cắt chạy thẳng, còn các mép của vật cắt Vezin phải là hướng kính đối với
trục quay.
f) Các mép vật cắt phải duy trì song song đối với các
vật cắt chạy thẳng, thậm chí sau khi đã bị mòn nhiều.
g) Phải tăng tốc vật cắt mẫu bắt đầu từ
vị trí nghỉ khi vẫn cách dòng bùn, sau đó chạy ngang qua dòng bùn với tốc độ đều,
và sau đó giảm dần đến dừng chỉ ngay sau khi nhô ra khỏi dòng bùn.
Yêu cầu độ mở vật cắt mẫu nhỏ nhất và tốc
độ vật cắt lớn nhất để thu được mẫu không chệch dẫn đến thể tích mẫu đơn nhỏ nhất
có thể chấp nhận được và
khối
lượng liên kết của các chất rắn chứa trong đó phù hợp với mức giới hạn các yêu cầu kỹ thuật
này (xem 6.2). Tuy nhiên, trong một số trường hợp, khi sử dụng khối lượng tối
thiểu các chất rắn có thể làm cho số
lượng các mẫu đơn tăng lên không chấp nhận được để nhận được phương sai lấy mẫu
mong muốn. Trong các trường hợp như vậy, thể tích mẫu đơn, và khối lượng các chất
rắn trong đó phải tăng lên trên giá trị có thể chấp nhận được nhỏ nhất.
Các vật cắt phải được thiết kế phù hợp với
kích thước hạt lớn nhất trong bùn và lưu lượng bùn lớn nhất, từ đó xác định được
thể tích lớn nhất và khối lượng các chất rắn có trong mẫu đơn để sử dụng cho các mục đích
thiết kế thiết bị. Đặc biệt, việc lựa chọn lấy mẫu theo phương pháp thủ công
hay cơ học là phải dựa trên khối lượng mẫu đơn lớn nhất có thể.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.2 Thể tích mẫu
đơn đối với vật lấy mẫu lấy từ dòng chảy để tránh độ chệch
Tại bất kỳ giai đoạn lấy mẫu nào, thể
tích nhỏ nhất của từng
mẫu đơn lấy bằng dụng cụ lấy mẫu trực tuyến có thể tính như sau:

(19)
trong đó
V
là thể tích của mẫu đơn, tính bằng mét
khối;
G
là lưu lượng bùn, tính bằng mét khối
trên giây;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
là kích thước lỗ mở của vật lấy
mẫu, tính bằng mét;
vC
tốc độ vật cắt của dụng cụ lấy mẫu,
tính theo mét trên giây.
Tuy nhiên, có các giới hạn nghiêm ngặt đối
với kích độ mở nhỏ nhất của vật cắt và tốc độ lớn nhất của vật cắt nhằm đảm bảo
cho vật cắt lấy được mẫu không chệch (xem 11.3.2 và 11.3.3). Những giới hạn này
lần lượt áp đặt một giới hạn thấp hơn lên khối lượng mẫu đơn tính theo Công thức
(19) mà cần thu thập để giảm thiểu độ chệch.
Từ khối lượng mẫu đơn đã tính theo Công
thức (19), khối lượng các chất rắn có trong bùn được tính theo Công thức sau:

(20)
trong đó
mi
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
ρa
là khối lượng riêng của bùn, tính
kilogam trên mét khối;
x
là phần trăm khối lượng các chất rắn
trong bùn, tính bằng phần trăm.
Do đó, sau khi tính được thể tích nhỏ nhất của mẫu
đơn để tránh độ chệch theo Công thức (19) (tương ứng với kích thước độ mở nhỏ nhất của vật cắt
và tốc độ lớn nhất của vật cắt), khối lượng nhỏ nhất tương ứng của
các chất rắn trong mẫu đơn được tính theo Công thức (20).
7 Số lượng các mẫu đơn
7.1 Quy định chung
Số lượng các mẫu đơn yêu cầu để đạt được
phương sai lấy mẫu cho trước đối với một lô hoặc lô phụ cụ thể phụ thuộc vào
a) độ biến thiên về các đặc tính chất lượng
đang quan tâm;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
c) khối lượng ml, của các chất
rắn có trong mẫu đơn.
Độ biến thiên được định lượng theo
phương sai giữa các mẫu đơn, như mô tả tại 4.3.3 và 4.3.4, được xác định bằng
thử nghiệm đối với
từng loại quặng và/hoặc nhà máy xử lý. Với thông tin này, số lượng các mẫu đơn
yêu cầu đối với qui trình lấy mẫu trên cơ sở thời gian có thể tính theo quy định sau
đây.
7.2 Phương pháp rút
gọn
Số lượng các mẫu đơn sơ cấp, n,
yêu cầu để đạt được phương sai lấy mẫu mong muốn đối với giai đoạn lấy mẫu cho
trước có thể tính theo Công thức sau:

(21)
trong đó

là phương sai giữa các mẫu đơn;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
là phương sai lấy mẫu sơ bộ yêu cầu.
8 Khối lượng tối thiểu
các chất rắn có trong các mẫu lô và lô phụ
8.1 Khối lượng tối
thiểu các chất rắn có trong các mẫu của lô
Điều quan trọng là đảm bảo khối lượng
các chất rắn có trong các mẫu lô lấy từ bùn phải đủ để thu được phương sai lấy
mẫu theo yêu cầu. Các mẫu đơn phải được lấy theo cách sao cho không có độ chệch (xem Điều
6), sự kết hợp khối lượng trung bình các chất rắn có trong mẫu bùn và số lượng
các mẫu đơn xác định tại Điều 7 sẽ đảm bảo rằng mẫu bùn có khối lượng đủ các chất
rắn chứa trong đó được thu thập tại giai đoạn lấy mẫu sơ cấp. Tuy nhiên, trong
quá trình rút gọn và chia các mẫu đơn (nếu yêu cầu), các mẫu lô phụ và các mẫu
lô tiếp theo, điều quan trọng là phải đảm bảo rằng khối lượng các chất rắn vẫn được duy trì
tại bước chia mẫu để đạt được phương sai lấy mẫu mong muốn. Khối lượng các chất
rắn trong mẫu thử không được giảm xuống dưới các giá trị tối thiểu ghi trong Bảng 1, tối thiểu là 200
g, đến khi các chất rắn bị giảm đi do nghiền đến kích thước danh nghĩa nhỏ hơn.
Bảng 1 - Khối
lượng tối thiểu các chất rắn trong các mẫu đơn đã chia, các mẫu lô và lô phụ
Kích thước
danh nghĩa lớn nhất của mẫu
Khối lượng tối thiểu các
chất rắn trong các mẫu đơn đã chia
kg
Mẫu đơn riêng
biệt
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mẫu lô
1,0 mm
0,2
0,25
0,5
≤ 250 µm
0,2
0,2
0,2
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Điều quan trọng là khối lượng kết hợp của
các chất rắn có trong tất cả các mẫu lô phụ được chuẩn bị cho lô, tại từng giai
đoạn lấy mẫu phải là lớn hơn khối lượng tối thiểu các chất rắn có trong mẫu lô
xác định tại 8.1.
8.3 Khối lượng tối
thiểu các chất rắn trong các mẫu lô phụ và lô sau khi giảm kích thước
Khi các chất rắn trong các mẫu lô và các mẫu lô phụ được giảm
kích thước bằng cách nghiền để tiếp tục chia mẫu, thì các khối lượng tối thiểu
này cần được xác định lại về kích thước danh nghĩa lớn nhất của quặng sau nghiền.
9 Lấy mẫu trên cơ sở
thời gian
9.1 Quy định chung
Việc lấy mẫu trên dòng bùn thông thường
được tiến hành trên cơ sở thời gian hơn là trên cơ sở khối lượng. Qui trình lấy
mẫu trên cơ sở thời gian bao gồm các bước sau:
a) Xác định cỡ lô, ví dụ, một giờ, một
ca hoặc một ngày sản xuất.
b) Phân bố số lượng các mẫu đơn yêu cầu
trên cơ sở thời gian đồng đều, trong suốt toàn bộ thời gian, tL, đối với việc
lấy mẫu lô.
c) Lấy các mẫu đơn theo thể tích tỷ lệ với
lưu lượng bùn tại thời điểm lấy từng mẫu đơn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Khoảng thời gian giữa các lần lấy mẫu
đơn trên cơ sở thời gian như sau:

(22)
trong đó
Δt
là khoảng thời gian giữa các lần lấy mẫu
đơn, tính bằng phút;
tL
là tổng thời gian dùng cho việc lấy mẫu
lô, tính bằng phút;
n
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Thời gian không đổi giữa các mẫu đơn
không được lớn hơn thời gian tính được theo Công thức (22), nhằm đảm bảo rằng
số lượng các mẫu đơn được lấy sẽ là ít nhất là số lượng tối thiểu các mẫu đơn sơ bộ quy
định.
9.3 Vật cắt lấy mẫu
Có thể sử dụng các vật cắt lấy mẫu sau:
a) các vật cắt loại có vòi lấy mẫu trên
dòng chảy (xem Hình B,10, tốc độ cắt (tức là tốc độ của vòi) là không đổi trong
quá trình cắt;
b) các vật cắt loại lượn vòng lấy mẫu
trên dòng chảy, tức là các vật cắt Vezin (xem Hình B.2);
c) các vật cắt loại rẽ nhánh lấy mẫu
trên dòng chảy, tốc độ cắt không đổi trong quá trình cắt (xem Hình B.3).
9.4 Lấy mẫu đơn
Mỗi mẫu đơn bùn được lấy bằng một lần chạy
ngang qua của dụng cụ lấy mẫu. Mẫu đơn đầu tiên được lấy tại thời điểm chọn ngẫu
nhiên trong khoảng thời gian đầu tiên. Vì vậy, các mẫu đơn còn lại sẽ được lấy tại các
khoảng thời gian không đổi theo Công thức (22) cho đến khi hết lô.
9.5 Sự tạo thành
các mẫu lô hoặc lô phụ
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
a) Các mẫu đơn khi đã lấy được kết hợp
thành các mẫu lô phụ hoặc mẫu lô, không kể đến sự thay đổi về các khối lượng
các chất rắn có trong các mẫu đơn.
b) Các mẫu đơn được chia bằng cách chia
theo tỷ lệ không đổi. Sau đó mẫu lô hoặc mẫu lò phụ được chuẩn bị bằng cách kết
hợp các mẫu đơn đã chia, với điều kiện là khối lượng các chất rắn có trong mẫu
đơn sau chia là tỷ lệ với các chất rắn có trong mẫu đơn sơ cấp, như vậy trung
bình trọng số các đặc tính chất lượng đối với lô đó sẽ được duy trì.
9.6 Chia các mẫu đơn và các mẫu
lô phụ
Sau quá trình lấy mẫu trên cơ sở thời
gian, tiến hành chia các mẫu đơn và các mẫu lô phụ bằng cách chia theo tỷ lệ
không đổi khi các mẫu sau chia được kết hợp lại. Nếu các mẫu không được kết hợp,
thi có thể sử dụng cách
chia theo tỷ lệ không đổi hoặc theo khối lượng không đổi.
9.7 Chia các mẫu lô
Tiến hành chia các mẫu lô bằng cách chia
theo tỷ lệ không đổi hoặc
theo khối lượng không đổi.
9.8 Số lần cắt khi
chia
Số lần cắt tối thiểu và các khối lượng tối thiểu
của các chất rắn khi chia các mẫu đơn, các mẫu lô phụ và các mẫu lô được xác định
theo thử nghiệm, như quy định tại Điều 7 và 8.
Tuy nhiên, có thể sử dụng hướng dẫn
chung sau về số lần cắt:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
b) Đối với các mẫu lô phụ: tối
thiểu là 10 lần cắt. Khối lượng kết hợp của các lần cắt từ tất cả các mẫu lô phụ
tại giai đoạn lấy mẫu định trước phải lớn hơn khối lượng tối thiểu các chất rắn
có trong mẫu lô
này quy định tại 8.1.
c) Đối với các mẫu đơn riêng rẽ:
tối thiểu là bốn lần cắt. Khối lượng kết hợp của các lần cắt từ tất cả các mẫu
đơn tại giai đoạn lấy mẫu định trước phải lớn hơn khối lượng tối thiểu các chất
rắn có trong mẫu lô này quy định tại 8.1.
CHÚ THÍCH: Vì không xác định được độ chụm lấy mẫu theo cách
suy đoán, kiểm tra các thử nghiệm khuyến nghị để đảm bảo chắc chắn là số lần cắt
đã đủ.
Đối với cách chia theo tỷ lệ không đổi,
khoảng thời gian giữa các lần cắt là không đổi, không quan tâm đến khối lượng
các chất rắn có trong mẫu lô, mẫu lô phụ hoặc mẫu đơn được chia phù hợp theo
các nguyên tắc nêu tại 9.2. Lần cắt đầu tiên được thực hiện tại thời điểm ngẫu
nhiên trong phạm vi khoảng thời gian đầu tiên.
10 Lấy mẫu phân tầng
ngẫu nhiên tại các khoảng thời gian không đổi
Đối với quá trình lấy mẫu phân tầng
trong phạm vi các khoảng thời gian cố định, kích thước tầng Δt được xác định
như sau:

(23)
Khi Δt đã được thiết lập và tổng
thời gian lấy mẫu đã định rõ (tức là khoảng thời gian của lô) được chia cho các
khoảng thời gian như vậy (các tầng), vật cắt mẫu sẽ được lập trình để lấy một mẫu đơn tại một điểm ngẫu
nhiên trong mỗi phạm vi của các khoảng này (các tầng). Điều này đạt được bằng
cách sử dụng bộ tạo số (number generator) ngẫu nhiên, có khả năng đưa ra một
giá trị thời gian ngẫu nhiên bất kỳ chỗ nào trong phạm vi tầng thời gian này, đó là đầu vào của chương
trình để kiểm soát thứ tự thời gian của vật cắt mẫu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
11.1 Quy định chung
Có sẵn nhiều loại các vật cắt lấy mẫu cơ
học khác nhau, vì thế không thể xác định bất kỳ loại cụ thể nào sử dụng cho các
ứng dụng lấy mẫu cụ thể nào.
Phụ lục B nêu các ví dụ dựa theo Pitard
(1993) về các vật cắt mẫu sử dụng đối với các dòng bùn và phải lấy theo hướng dẫn
về việc lựa chọn thiết bị phù hợp với sự giới hạn và lấy mẫu đơn đúng.
CHÚ THÍCH: Phụ lục C nêu các ví dụ dựa theo
Pitard (1993) về các dụng cụ lấy mẫu bùn đang được sử dụng trong ngành công nghiệp, nhưng có giới
hạn và lấy/lấy mẫu đơn không đúng.
Chỉ sử dụng các vật cắt mà lấy được toàn
bộ tiết diện ngang của dòng quặng trong một lần cắt (xem Phụ lục B). Các dụng cụ
lấy mẫu mà chỉ lấy được một phần dòng trong một lần thao tác (xem Phụ lục C)
thì không thể lấy được các mẫu đại diện và vì thế không khuyến nghị.
11.2 Thiết kế hệ thống
lấy mẫu
11.2.1 An toàn đối với
các nhân viên lấy mẫu
Từ giai đoạn thiết kế và chế tạo đầu
tiên một hệ thống lấy mẫu, phải chú ý nghiên cứu về sự an toàn cho người vận
hành. Phải tuân thủ các qui phạm về an toàn vận hành của các cơ quan có thẩm quyền.
11.2.2 Vị trí các vật
cắt mẫu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
a) Các vật cắt mẫu phải được định vị tại
một điểm mà tạo sự tiếp cận với toàn bộ dòng bùn.
b) Việc lấy mẫu phải thực hiện tại một
điểm trong hệ thống xử lý tại đó nhìn rõ không có sự tách lớp của dòng quặng và thấy rõ rằng không có
các nguy cơ xảy ra sai lỗi do sự thay đổi mang tính chu kỳ về chất lượng hoặc
quá trình nạp quặng, ví dụ cách xa các máy bơm bùn rung.
c) Việc lấy mẫu phải thực hiện càng gần với điểm
mà tại đó các đặc tính chất lượng được xác định thì càng tốt.
11.2.3 Điều kiện lấy
mẫu đúp
Khuyến nghị là hệ thống phải được thiết
kế sao cho có khả năng tập hợp các mẫu đơn đánh số lẻ và chẵn riêng rẽ để tạo
thành các mẫu đúp lô hoặc lô phụ.
11.2.4 Hệ thống kiểm
tra độ chụm và độ chệch
Khi hệ thống lấy mẫu được đưa vào vận
hành hoặc khi các phần chính có thay đổi, thì phải tiến hành kiểm tra hệ thống để đảm bảo
rằng các nguyên tắc lấy mẫu đang được tuân thủ đúng. Kiểm tra các phép thử về độ chụm
cho toàn bộ hệ thống.
Đối với các loại bùn, các phương pháp kiểm
tra mức về độ chệch là rất hạn chế. Các
phương pháp kiểm tra xác nhận được sử dụng để kiểm tra độ chệch trong các hệ thống
lấy mẫu hạt rời “khô”, như các qui trình lấy mẫu “băng tải dừng” thông thường lại
không có sẵn.
11.2.5 Tránh độ chệch
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
a) Tràn mẫu hoặc thất thoát quặng do sự
chảy nhỏ giọt, chảy ngược lại ra ngoài ống tháo bùn hoặc hoặc dưới bể xả (xem
Hình 6).
b) Hạn chế dòng bùn vào các dụng cụ do
dòng chảy ngược và tràn
ra. Điều này rất quan trọng đối với các vật cắt loại muỗng-ngược khi đó dòng
bùn chày buộc phải chảy theo đúng hướng và đập vào mặt trong của muỗng.
c) Giữ lại một phần mẫu trong vật cắt mẫu
giữa các lần cắt.
d) Nhiễm bẩn mẫu.
Thực hiện các lần kiểm tra hàng ngày đối
với các hệ thống lấy mẫu phù hợp theo ISO 11790.
Khi có sự thay đổi về loại các chất rắn
trong bùn đang được lấy mẫu, thì phải rửa sạch kỹ hệ thống lấy mẫu, hoặc phải
cho lượng quặng đã lấy từ lô đó làm mẫu chạy qua toàn bộ hệ thống để loại bỏ hết
các chất gây nhiễm bẩn ra.
11.3 Các vật cắt mẫu
bùn
11.3.1 Quy định chung
Chỉ có vật cắt thỏa đáng để lấy mẫu dòng
bùn chuyển động là vật cắt dòng chảy mà lấy được mẫu đơn từ quĩ đạo dòng bùn,
ví dụ, tại điểm chuyển giao, hoặc tháo xả hoặc lấy ra từ bể chứa. Cũng có thể sử
dụng các vật cắt dòng chảy để lấy mẫu bùn tại bước hoặc tại điểm chuyển giao
trong bể hoặc máng hở, với điều kiện
là vật cắt có thể tiếp cận toàn bộ chiều sâu và bề rộng của dòng bùn trong quá
trình chạy ngang qua của nó.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66



a) Đúng
b) Không đúng
c) Đúng
CHÚ DẪN
1 tấm chắn tránh bắn tóe
2 mẫu đơn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hình 6 - Ví dụ về
các thiết kế đúng và không đúng của các vật cắt ngang tiết diện dòng bùn
11.3.2 Các vật cắt
dòng chảy
Khi thiết kế các vật cắt dòng chảy, áp dụng
các tiêu chí sau:
a) Các mép của vật cắt phải sắc và vật cắt
mẫu có dạng thuôn hợp lý để giảm thiểu sự chảy xoáy khi cắt dòng bùn.
b) Vật cắt mẫu phải là loại tự làm sạch được,
ví dụ, thép không gỉ hoặc phủ polyuretan, thải ra hết sạch từng mẫu đơn.
c) Ngoài mẫu ra, không có loại bùn nào
khác vào được vật cắt, ví dụ, ngăn không cho các loại vật liệu khác lạ bắn vào
vật cắt khi nó đang dừng.
d) Vật cắt phải đảm bảo lấy được toàn bộ
tiết diện ngang của dòng bùn, cả hai cạnh dẫn hướng và lái phía sau đều vét sạch
dòng bùn theo cùng một vệt.
e) Vật cắt phải cắt được dòng bùn theo mặt
phẳng vuông góc, hoặc dọc theo cung tiếp tuyến với quĩ đạo chính của dòng bùn.
f) Vật cắt mẫu sẽ chạy theo dòng quặng với
tốc độ đều, tức là không chênh nhau quá 5 % so với tốc độ trung bình.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
h) Độ mở của vật cắt phải ít nhất bằng ba lần kích
thước danh nghĩa lớn nhất của các hạt trong bùn quặng, tối thiểu bằng 10 mm.
i) Vật cắt phải có dung tích đủ để chứa
toàn bộ mẫu đơn tại lưu lượng dòng lớn nhất, không để hao hụt mất bùn do chảy
ngược lại miệng vật cắt.
11.3.3 Tốc độ vật cắt
Khi thiết kế vật cắt lấy mẫu cơ học, một
trong các thông số quan trọng nhất là tốc độ vật cắt. Nếu vận tốc vật cắt quá
cao sẽ dẫn đến:
a) độ chệch của mẫu do độ lệch của các hạt
lớn hơn;
b) độ chệch của mẫu do bùn bật lại sinh
ra chuyển động hỗn loạn quá mức;
c) tình trạng tải trọng va đập và gây
khó khăn để duy trì vận tốc đều khi cắt dòng quặng.
Đối với các vật cắt dòng chảy có vật tốc cắt vượt quá
0,6 m/s, sẽ có thể gây ra độ chệch.
11.4 Khối lượng chất
rắn trong các mẫu đơn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
11.5 Số lượng các mẫu
đơn sơ cấp
Số lượng các mẫu đơn sơ cấp phải lấy được
quy định tại 7.2.
11.6 Kiểm tra hàng
ngày
Cần tiến hành bảo dưỡng, kiểm tra thiết
bị, đặc biệt là độ mở của vật cắt mẫu theo cách định kỳ. Khi có các thay đổi hoặc nghi ngờ
có sự thay đổi thì cần kiểm tra xác nhận sự đúng chuẩn của thiết kế vật cắt.
12 Lấy mẫu thủ công từ
các dòng chuyển động
12.1 Quy định chung
Phương pháp lấy mẫu cơ học từ các dòng
bùn chuyển động là một phương pháp được khuyến nghị, vì phương pháp này cung cấp
các số liệu tin cậy hơn so với lấy mẫu thủ công. Tuy nhiên, nếu không có sẵn
các vật cắt cơ học thì tiến hành lấy mẫu theo phương pháp thủ công, miễn là tiếp
cận được hoàn toàn với dòng bùn và không có các nguy cơ xảy ra mất an toàn cho
người vận hành. Để đảm bảo an toàn cho người vận hành, cần tuân thủ các qui phạm về an
toàn của các cơ quan có thẩm quyền.
Không áp dụng phương pháp lấy mẫu thủ
công từ các dòng bùn chuyển động có lưu lượng trên lưu lượng lớn nhất (thông
thường 100 t/h), vì sẽ ảnh hưởng khối lượng từng mẫu đơn.
12.2 Chọn vị trí lấy
mẫu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
a) đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người vận hành lấy
mẫu,
b) đảm bảo tiếp cận với toàn bộ dòng
bùn,
c) không cho phép dòng bùn có sự tách riêng rõ ràng,
và
d) càng gần với điểm các đặc tính chất
lượng cần xác định thì càng tốt.
Trong hầu hết các trường hợp, chỉ một điểm
thỏa mãn các tiêu chí
trên đó là tại điểm chuyển giao. Nếu không có điểm chuyển giao phù hợp, thì có thể thiết kế hệ thống lấy
mẫu theo dòng như thể hiện trên Hình 7, khi có thể sử dụng van cửa để chuyển
dòng bùn qua ống và chảy vào thùng chứa. Sau đó có thể lấy mẫu theo cách thủ công khi dòng bùn chảy
vào thùng, như sau:
a) mở các van B và C;
b) đóng van A;
c) lấy mẫu đơn bằng vật cắt thủ công sau
khi dòng chảy qua ống chuyển và thùng chứa đạt ổn định;
d) mở van A và sau đó đóng các van B và C.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66


a) Vị trí rẽ nhánh
b) Vị trí lấy mẫu
Slurry flow: Dòng bùn
Slurry flow: Dòng bùn
Gate valve B: Van cửa B
Gate valve A closed: Đóng van cửa A
Gate valve A: Van cửa A
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Gate valve C: Van cửa C
Holding tank: Thùng chứa
Holding tank: Thùng chứa
Gate valve C open: Mở van cửa C
Motion manual sampling implement: Đưa dụng cụ lấy
mẫu thủ công vào
Hình 7 - Lấy mẫu
dòng bùn trong đường ống đối với phương pháp lấy mẫu thủ công
12.3 Dụng cụ lấy mẫu
Sử dụng các vật cắt mẫu thủ công hoặc xẻng để thực
hiện việc lấy mẫu thủ công từ các
dòng bùn chuyển động. Ví dụ về các dụng cụ thích hợp được nêu tại Phụ lục D.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Khối lượng các chất rắn có trong từng mẫu
đơn thu được trong một lần chạy qua của dụng cụ cắt mẫu được quy định tại 6.2.
12.5 Số lượng các mẫu
đơn sơ cấp
Số lượng các mẫu đơn sơ cấp phải lấy được
quy định tại 7.2.
12.6 Qui trình lấy mẫu
Áp dụng các tiêu chí sau đối với qui
trình lấy mẫu thủ công từ dòng chuyển động:
a) mẫu đơn được lấy trong một lần thao
tác, cho dụng cụ lấy mẫu chuyển động ngang qua toàn bộ chiều rộng của dòng bùn,
chú ý cả hai cạnh dẫn hướng và lái phía sau đều vét sạch dòng bùn theo cùng một
vệt;
b) người vận hành cho dụng cụ lấy mẫu
chuyển động qua dòng bùn với vận tốc sao cho càng không đổi càng tốt, nhưng
không vượt quá giới hạn lớn nhất đối với các vật cắt cơ học (xem 11.3.3);
c) kích thước độ mở tối thiểu của vật cắt
của dụng cụ lấy mẫu phải thỏa mãn về giới hạn chiều rộng giống như đối với vật
cắt cơ học (xem 11.3.2);
d) miệng cắt phải vuông góc với dòng
bùn;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
f) các kích thước của dụng cụ lấy mẫu phải
phù hợp với lưu lượng quặng và tốc độ cắt để ngăn ngừa hiện tượng bắn tóe bùn
và tràn mất bùn;
g) phải chú ý đến khối lượng dụng cụ lấy
mẫu cộng với khối lượng mẫu đơn lúc lấy xong để đảm bảo phù hợp các hướng dẫn về an toàn và sức
khỏe nghề nghiệp.
13 Lấy mẫu từ lượng
bùn tĩnh
Do các hạt bùn trong khối bùn tĩnh sẽ lắng xuống và phân tầng,
do vậy không khuyến nghị lấy mẫu từ các khối bùn tĩnh, và trong tiêu chuẩn này
cũng không được đề cập đến.
14 Chuẩn bị mẫu
14.1 Quy định chung
Các mẫu lô và lô phụ phải được chuẩn bị
bằng cách khử nước bằng dụng cụ lọc chân không, sau đó sấy trong tủ sấy tại
nhiệt độ quy định trong các tiêu chuẩn liên quan trước khi thực hiện các công
tác chuẩn bị mẫu tiếp theo. Tuy nhiên, nếu các mẫu lô hoặc lô phụ quá lớn,
thì có thể chia bằng dụng chia mẫu loại quay trước khi đem lọc và sấy, miễn là
các mẫu này hoàn toàn được nghiền nhão lại trước khi đem chia và hàm lượng các
chất rắn có trong các mẫu sau chia phải phù hợp với các yêu cầu về khối lượng tối
thiểu nêu tại 6.2.
Nếu phần chất lỏng của bùn và các chất
rắn đều được phân tích thì cần giữ lại chất lỏng bị loại ra trong khi lọc và bảo
quản trong bình chứa phù hợp.
14.2 Chia mẫu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
14.3 Nghiền mẫu
Nếu yêu cầu các mẫu đã sấy của lô hoặc
lô phụ phải được nghiền đến 150 µm bằng máy nghiền mịn trước khi rút các mẫu
phân tích hóa. Các loại máy nghiền mịn, như máy vòng, máy cán tấm, đều có xu hướng
nóng lên, và các mẫu không được giữ trong máy lâu để tránh bị ảnh hưởng. Nếu sử
dụng máy nghiền cho hàng loạt mẫu, thì có thể làm mát bằng nước hoặc để máy nguội giữa
các lần nghiền mẫu.
Không được thực hiện việc sàng để loại
các hạt quá cỡ để nghiền lại, trừ trường hợp, theo ISO 13292 đối với từng nồng
độ đang được xử lý, thực nghiệm cho thấy không sinh ra độ chệch đáng kể. Quặng
khó nghiền là loại thường có thành phần khác với loại có trong mẫu và không dễ
trộn lại vào mẫu đó.
14.4 Các mẫu phân
tích hóa học
Các mẫu phòng thử nghiệm thường có khối
lượng là 200 g, dùng cho các phép phân tích hóa được rút ra từ các mẫu lô và lô
phụ. Các mẫu này được bảo quản
trong các chai thủy tinh có nút kín khí hoặc được bảo quản trong các túi nhôm phủ lót
nhựa bịt kín bằng nhiệt.
Kích thước danh nghĩa lớn nhất của mẫu
phân tích thường lá 150 µm. Có thể sử dụng các kích thước nhỏ hơn để cải tiến độ chụm,
miễn là việc nghiền thêm không gây ra hiện tượng oxy hóa, phân ly, thăng hoa hoặc
tẩy bẩn mẫu thử.
Khi yêu cầu phân tích các thành phần dễ
bay hơi như thủy ngân, thì không tiến hành chuẩn bị mẫu phân tích hóa từ các mẫu
của lô hoặc lô phụ đã sấy, mà cần chuẩn bị riêng các mẫu phân tích hóa này, chú ý sấy
mẫu tại nhiệt độ không quá 60 °C.
14.5 Các mẫu phân
tích vật lý
Các mẫu phòng thử nghiệm dùng cho thử
nghiệm vật lý xác định cỡ hạt, giới hạn ẩm vận chuyển và góc nghỉ. Các mẫu này được bảo
quản trong các vật chứa kín. Tất cả các xử lý tiếp theo đối với mẫu được quy định
trong các qui trình thử có thể áp dụng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các mẫu thu được để chuẩn bị tiếp theo cho thử nghiệm
có thể thực hiện từ xa từ hệ thống lấy mẫu, phải được bảo quản trong các vật chứa
kín khí, cùng các thông tin liên quan ghi trên nhãn và trên giấy đặt trong vật
chứa đó. Ví dụ các thông tin sau:
a) loại và cấp hạng và kích thước hạt
danh nghĩa lớn nhất của hàm lượng chất rắn và tên của lô, ví dụ, ca làm việc;
b) nhận dạng mẫu;
c) khoảng thời gian của lô hoặc lô phụ;
d) số mẫu hoặc phần mẫu của mẫu lô hoặc
lô phụ đại diện;
e) vị trí và ngày lấy mẫu;
f) hàm lượng ẩm;
g) phương pháp lấy mẫu, ví dụ cơ học hoặc
thủ công;
h) độ chụm lấy mẫu đã tính, nếu có sẵn;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phụ
lục A
(quy
định)
Phương pháp lấy mẫu theo giai đoạn để tính phương sai lấy mẫu
và toàn phần
A.1 Các thành phần
của sai số lấy mẫu và phương sai lấy mẫu
Gy (1992) đã cho thấy rằng sai số lấy mẫu
toàn phần (TSE) đã được chia nhỏ thành một số các thành phần tương ứng với từng
giai đoạn lấy mẫu 1, 2, .... i,..., u như sau:
TSE = TSE1 + ....+ TSEi +.... TSEu
(A.1)
trong đó
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
TSEi là sai số lấy mẫu
của giai đoạn i;
TSEu là sai số lấy
mẫu của giai đoạn u.
Sự chia nhỏ trên là có thể, vì mỗi thành
phần của sai số lấy mẫu là độc lập.
Các sai số này có thể ngẫu nhiên hoặc có tính hệ thống (tức là độ chệch).
Từng giai đoạn lấy mẫu gồm hai thao tác.
Đó là lựa chọn (hoặc lấy mẫu) và chuẩn bị mẫu. Tại đây, sự chuẩn bị là thao tác
không lựa chọn bao gồm các thao tác như đập, sấy, v.v. Vì vậy:
TSE = SE + PE
(A.2)
trong đó
SE là sai số lựa chọn;
PE là sai số chuẩn bị.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
SE = CE + ME
(A.3)
Sai lỗi tích phân sinh ra do cách chọn
các điểm lấy mẫu trên trục thời gian hoặc khối lượng. Sai số vật chất hóa sinh ra từ cách
thức vật lý theo đó các mẫu được lấy,
và có thể loại trừ bằng cách thiết kế và vận hành đúng vật cắt mẫu. Sai số tích
phân cũng bao gồm hai thành phần sinh ra do sự biến thiên về chất lượng và lưu
lượng như sau:
CE = QE + WE
(A.4)
trong đó
QE là sai số do sự biến thiên về chất lượng;
WE là sai số do cân.
Các sai số biến thiên chất lượng có ba loại, ngắn hạn, dài
hạn và chu kỳ. Do vậy:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(A.5)
trong đó
QE1 là sai số biến thiên
chất lượng ngắn hạn;
QE2 là sai số biến thiên
chất lượng dài hạn;
QE3 là sai số biến thiên chất
lượng chu kỳ.
Các biến thiên ngắn hạn sinh ra từ hai
tính chất liên quan đến bản chất hạt của bùn đặc. Đó là thành phần của các hạt
(sai số cơ bản) và cách thức mà hạt các hạt kết hợp lại (sai số phân tách/kết hợp).
Do vậy:
QE1 = FE + GE
(A.6)
trong đó
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
GE là sai số phân tách và kết hợp.
Sai số vật chất hóa tiếp tục có thể chỉ thành sai số giới hạn
DE và sai số rút ra EE như sau:
ME = DE + EE
(A.7)
Sai số giới hạn có thể loại trừ nếu tất
cả các phần của dòng bùn đặc được chặn bởi vật cắt mẫu trong cùng một khoảng thời
gian. Sai số lấy mẫu được loại trừ nếu mẫu đơn được rút hoàn toàn từ dòng bùn
mà không có tý bùn nào bật ngược lại khỏi vật cắt mẫu.
Kết hợp các Công thức (A.2) đến (A.7) sẽ
được công thức sau đối với sai số lấy mẫu tại từng giai đoạn:
TSE = FE + GE
+ QE2 + QE3 + WE + DE + EE + PE
(A.8)
Ba sai số thành phần cuối trong Công thức
(A.8), tức là DE, EE và PE, là các sai số hệ thống tạo ra độ chệch. Chúng sinh
ra từ việc không tuân thủ các nguyên tắc đúng của qui trình lấy mẫu từ nguyên
lý cơ học. Chúng có thể loại trừ bằng cách sử dụng các thực hành lấy mẫu đúng
được nêu tại các Điều 8, 9, 10 và 11. Kinh nghiệm thực tế về các chất bùn đặc
cũng cho thấy rằng sai số do cân (WE) là không đáng kể so sánh với QE2, thậm
chí khi có các thay đổi đáng kể về
lưu lượng. Cũng vậy, sai số biến thiên chất lượng chu kỳ (QE3) cũng có thể bỏ qua, trừ các
trường hợp ngoại lệ, khi việc sản xuất hoặc các qui trình dự trữ đưa ra một số
chu kỳ. Do vậy, công thức đối với sai số lấy mẫu toàn phần giảm còn:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(A.9)
Hoặc:
TSE = QE1 + QE2
(A.10)
Các thành phần sai số này là các sai số
ngẫu nhiên. Từ các Công thức (A.9) và (A.10), thấy rõ ràng là phương sai của
sai số lấy mẫu toàn phần là:

(A.11)
trong đó

...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

là phương sai cơ bản;

là phương phân tách và kết hợp;

là phương sai biến thiên chất lượng
dài hạn.
hoặc

(A.12)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

là phương sai biến thiên chất lượng ngắn
hạn;

là phương sai biến thiên chất lượng.
Trong Công thức (A.12), phương sai biến
thiên chất lượng dài hạn thường gọi là phương sai phân phối/điều chỉnh.
A.2 Tính phương sai
cơ bản
Gy (1992) đã cho thấy rằng phương sai cơ
bản, được tính bằng:

(A.13)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
C
là hằng số lấy mẫu
đối với nồng độ bùn đặc cho trước của kích thước hạt cho trước và thành phần
quan trọng;
d
là kích thước danh nghĩa lớn nhất của
bùn đặc, tính bằng centimet;
ms
là khối lượng mẫu tại giai đoạn lấy mẫu
cho trước, tính bằng gam;
a
là nồng độ phân đoạn của thành phần
đang xem xét.
Hằng số lấy mẫu C là:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(A.14)
trong đó
C
là hệ số thành phần khoáng vật tính được
tại Công thức (A.15);
l
là hệ số lắng;
f
là hệ số hình dạng hạt, thường lấy bằng
0,5;
g
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
khi chưa lắng hoàn toàn, dl là kích thước
danh nghĩa lớn nhất tại đó xuất hiện sự lắng hoàn toàn; l = 1 khi lắng
hoàn toàn.
Nếu chưa biết dl, giả sử an toàn là đặt dl = d.
Hệ số thành phần khoáng vật là:

(A.15)
trong đó
ρ1 là khối lượng
riêng của các hạt thành phần quan trọng, tính bằng gam trên centimet khối;
ρ2 là khối lượng riêng của
các hạt phế bỏ sau sàng, tính bằng gam trên centimet khối.
Hệ số dải kích thước, g, có thể
tính từ tỷ số d/d' của kích thước danh nghĩa lớn nhất d và
giới hạn kích thước nhỏ hơn d' (khoảng 5 % dưới cỡ) như sau:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
g = 0,25
Dải kích thước trung bình (2 ≤/ d/d' ≤ 4)
g = 0,50
Dải kích thước nhỏ (d/d' < 2)
g = 0,75
Kích thước đều (d/d’ = 1)
g = 1,00
Công thức (A.13) có thể chuyển vế để có
khối lượng mẫu nhỏ nhất yêu cầu để đạt được phương sai sai số cơ bản như sau:

...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
VÍ DỤ : Quặng đồng pofia có d =
0,1 cm, dl = 200 µm và có
dải kích thước hạt lớn được lấy mẫu. Giả sử khoáng vật là CuFeS2 có
mật độ hạt, ρ1 bằng 4,2 gcm-3, và các hạt phế bỏ bao gồm silicat có mặt
độ hạt ρ2 bằng 2,6 gcm-3. Cũng giả sử
cáp hạng của quặng là 0,35 % Cu, tức là 1 % CuFeS2 (a = 0,01)
và giả sử sai số cơ
bản không vượt quá 0,02 % Cu hoặc 0,06 % CuFeS2 (tức là SFE
= 0,0006).

C = 414,2x0,447x0,5x0,25 = 23,14
Sử dụng Công thức (A.16), khối lượng mẫu
tối thiểu là:

Do vậy, khối lượng mẫu tối thiểu đối với
loại quặng này với kích thước danh nghĩa lớn nhất bằng 0,1 cm và sai số cơ bản
bằng 0,02 % Cu là 6,4 g. Mẫu buộc phải nghiền đến kích thước danh nghĩa lớn nhất
nhỏ hơn trước khi
mẫu được rút gọn tiếp theo. Nếu 6,4 g mẫu được đập nghiền đến kích thước danh
nghĩa lớn nhất bằng 200 um, thì khối lượng mẫu sau đó được rút xuống an toàn đến 0,1 g, nếu
cần.
Đặc tính cơ bản của
là nó thu nhỏ rất nhanh
khi d giảm và không nhanh như vậy khi ms tăng lên, nhưng
không bao giờ được loại bỏ, cho dù sử dụng
các qui trình tán nhỏ và đồng
nhất hóa nào đi nữa. Tuy nhiên, đối với các bùn đặc thường tách hạt mịn, phương
sai cơ bản có thể bỏ qua nếu khối
lượng mẫu vượt quá khoảng 100 g.
A.3 Phương sai
phân tách và kết hợp
Gy (1992) đã chỉ ra rằng phương sai phân
tách và kết hợp là hoặc nhỏ hơn hoặc bằng độ lớn phương sai cơ bản. Do vậy, điều này
luôn luôn an toàn đối với giả thiết là bằng với phương sai cơ bản, trong trường
hợp này:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(A.17)
A.4 Phương sai biến
thiên chất lượng dài hạn
Phương sai biến thiên chất lượng
có thể tính bằng cách rút ra số
lượng các mẫu đơn liên tiếp (khoảng 30 đến 50) tại giai đoạn lấy mẫu cho trước và
tiến hành phan tích riêng rẽ. cỏ hai phương pháp chính để phân tích các kết quả.
Phương pháp tốt hơn là tính variogram, xác định
các chênh lệch giữa các mẫu đơn tại các khoảng thời gian tăng lên (gọi là độ trễ)
riêng ra. Cách tiệm cận theo variogram cho phép sự tương quan nối tiếp giữa các
mẫu đơn, và làm cho các đóng góp riêng rẽ của các phương sai
và
xác định được. Tuy nhiên, phương pháp
này dài một cách hợp lý và phù hợp hơn so với các phương pháp muốn tinh chỉnh
sơ đồ lấy mẫu khác.
CHÚ THÍCH: Phương pháp lấy mẫu xen kẽ
cũng chú ý tinh, đến điều kiện thứ hai của variogram.
Phương pháp khác tạo ra cơ sở cho tiêu
chuẩn này, là cách tiệm cận đơn giản hóa bao gồm tính toán phương sai giữa các
mẫu đơn,
. Tuy nhiên,
không giống như cách tiệm cận variogram, các đóng góp của các phương
sai
và
không tách riêng được. Chỉ
xác định được phương sai lấy mẫu
.
Phương sai các mẫu đơn
có thể ước tính cho một giai đoạn
cho trước theo Công thức sau:

(A.18)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

là kết quả phép thử đối với mẫu đơn j;

là kết quả trung bình đối với tất cả
các mẫu đơn;

là số lượng các mẫu đơn;

là phương sai của quá trình xử lý mẫu
và phân tích tiếp theo của từng mẫu đơn.
Vì vậy, nếu n các mẫu đơn được lấy
cho giai đoạn lấy mẫu này, thì phương sai lấy mẫu
đối với mẫu thử nhận được bằng cách kết hợp tất cả các
mẫu đơn theo Công thức sau:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(A.19)
Sắp xếp lại Công thức (19) làm cho số lượng các mẫu
đơn theo yêu cầu để đạt được phương sai lấy mẫu cho trước được tính như sau:

(A.20)
Phải chú ý khi trừ các phương sai. Sự chênh lệch
chỉ đáng kể khi tỷ số F của
các phương sai bị trừ đi là đáng kể về mặt thống kê.
A.5 Tính toán thực
tế phương sai toàn phần
Sử dụng Công thức (A.19), phương sai lấy
mẫu i đối với giai đoạn lấy mẫu là:

(A.21)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

(A.22)
Và phương sai toàn phần
là:

(A.23)
Trong đó r là số các phép xác định
lặp lại.
Kết hợp các Công thức (A.22) và (A.23)
có:

(A.24)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phụ
lục B
(tham
khảo)
Ví dụ về các dụng cụ đúng để lấy mẫu bùn

CHÚ DẪN
1 Mẫu đơn
a Dòng chảy
b Quĩ đạo của ống
c Dòng bùn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

CHÚ DẪN
1 Mẫu đơn
2 Trục quay
a Dòng bùn
b Quĩ đạo của vật
cắt
Hình B.2 - Sơ đồ
bố trí đúng vật cắt dòng bùn chảy có quĩ đạo tròn, tức là vật cắt loại Vezin
(Pitard, 1993)

CHÚ DẪN
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
a Dòng bùn
Hình B.3 - Mô
phỏng vật cắt dòng bùn chảy được thiết kế đúng (sau Pitard, 1993)
Phụ
lục C
(tham
khảo)
Ví dụ về các dụng cụ lấy mẫu bùn không đúng

a) Ba ví dụ về
các loại ống lấy mẫu luôn luôn gây sai số phân định ranh giới

...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CHÚ DẪN
1 Rãnh
a Dòng bùn
b Mẫu
Hình C.1 - Ví dụ
về các ống lấy mẫu không đúng trong dòng bùn (Pitard, 1993)

a) Điểm lấy mẫu
trong dòng bùn (luôn luôn sai)

b) Lấy mẫu bên
cạnh dòng (luôn luôn sai)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
1 Mẫu đơn
2 Thất thoát một phần của mẫu đơn
a Dòng bùn
b Điểm lấy mẫu
Hình C.2 - Phân
định ranh giới mẫu không đúng do sử dụng ống lấy mẫu trong dòng và cạnh dòng
(Pitard, 1993)

CHÚ DẪN
a Dòng bùn
b Mẫu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

CHÚ DẪN
1 Vị trí không lấy được mẫu trên dòng
2 Vị trí lấy mẫu đơn
3 Mẫu đơn
4 Phần mẫu đơn bị thất thoát
a Dòng chảy
b Quĩ đạo của ống lấy mẫu
c Dòng bùn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phụ
lục D
(quy
định)
Dụng cụ lấy mẫu thủ công

CHÚ DẪN
d Kích thước danh nghĩa lớn nhất của hạt
quặng
a Lớn hơn độ sâu của dòng chảy
Hình D.1 - Ví dụ
vật cắt mẫu thủ công.
Kích thước miệng vật cắt tối thiểu là 10 mm
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hình D.2 - Ví dụ
xẻng lấy mẫu. Kích thước miệng vật cắt tối thiểu là 10 mm
Thư mục tài liệu
tham khảo
[1] TCVN 8244-1 : 2010 (ISO 3534-1),
Statistics - Vocabulary and symbols - Part 1: Probability and general
statistical terms (Thống kê học - Từ vựng và ký hiệu - Phần 1: Thuật ngữ
chung về thống kê và thuật ngữ dùng trong xác suất).
[2] TCVN (ISO 11790), Tinh quặng đồng, chì, kẽm và niken - Hướng
dẫn kiểm tra các hệ thống lấy mẫu cơ học.
[3] Gy, P., Sampling of particulate material -
Theory and practice, Elsevier Publishing Company, Amsterdam, 1992 (Lấy mẫu các
vật liệu dạng hạt - Lý thuyết và thực hành. Công ty Phát hành Elsevier,
Amsterdam), 1992).
[4] PITARD, F., Pierre Gy’s sampling
theory and sampling practice, 2nd edition (CRC press Inc: Boca Raton, 1993
(Pierr Gy’s Lý thuyết lấy mẫu và thực hành lấy mẫu. Xuất bản lần 2, CRC Press
Inc. Boca Raton, 1993).
[5] MERKS, J.W. Sampling and
weighing of bulk solids, Trans Tech, publications, Clausthal-Zellerfeld, 1986.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Lời nói đầu
1 Phạm vi áp dụng
2 Tài liệu viện dẫn
3 Thuật ngữ và định nghĩa
4 Các nguyên tắc lấy mẫu quặng dạng bùn
5 Lập sơ đồ lấy mẫu
6 Giảm thiểu độ chệch và khối lượng mẫu
đơn không có độ chệch
7 Số lượng các mẫu đơn
8 Khối lượng tối thiểu các chất rắn có
trong các mẫu lô và lô phụ
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
10 Lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên trong phạm
vi các khoảng thời gian không đổi
11 Lấy mẫu cơ học từ các
dòng chuyển động
12 Lấy mẫu thủ công từ các
dòng chuyển động
13 Lấy mẫu quặng bùn tĩnh
14 Chuẩn bị mẫu
15 Đóng gói và ghi nhãn mẫu
Phụ lục A (quy định) Phương pháp lấy mẫu
theo giai đoạn để tính phương sai lấy mẫu và toàn phần
Phụ lục B (quy định) Ví dụ về các dụng cụ
đúng để lấy mẫu bùn
Phụ lục C (quy định) Ví dụ về các dụng cụ không
đúng để lấy mẫu bùn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Thư mục tài liệu tham khảo