Lưu ý về hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp của Luật Quản lý thuế 2025. Đối tượng được xem là người nộp thuế theo Luật Quản lý thuế 2025.
>> Một số điểm mới Nghị định 310/2025 về xử phạt VPHC thuế hóa đơn theo Công văn 2616
>> Mở rộng khái niệm vi phạm hành chính về thuế từ 16/01/2026 theo Công văn 2616/GLA-NVDTPC năm 2025
Ngày 10/12/2025, Quốc Hội đã ban hành Luật Quản lý thuế 2025 (Luật số 108/2025/QH15) để thay thế cho Luật Quản lý thuế 2019.
Dưới đây là những lưu ý liên quan đến hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp của Luật Quản lý thuế 2025 mà quý khách hàng cần nắm rõ để áp dụng một cách chính xác và kịp thời.
(i) Về hiệu lực thi hành:
- Luật Quản lý thuế 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, trừ quy định tại Điều 13 và việc sử dụng hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tại Điều 26 Luật Quản lý thuế 2025 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.
- Luật Quản lý thuế 2019 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 56/2024/QH15 có hiệu lực thi hành đến hết ngày 30/6/2026, trừ quy định tại Điều 51 Luật Quản lý thuế 2019 có hiệu lực thi hành đến hết ngày 31/12/2025.
(ii) Về quy định chuyển tiếp:
- Các khoản thuế được miễn, giảm, không thu theo quy định của pháp luật tương ứng từng thời kỳ, phát sinh trước 01/7/2026 thì tiếp tục xử lý theo quy định tại Luật Quản lý thuế 2019
- Các khoản tiền thuế nợ đến hết ngày 30/6/2026 thì được xử lý theo quy định của Luật Quản lý thuế 2025
- Các cuộc kiểm tra có quyết định kiểm tra được ban hành trước ngày Luật Quản lý thuế 2025 có hiệu lực thi hành nhưng chưa ban hành kết luận hoặc quyết định xử lý thì tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế 2019.

Lưu ý về hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp của Luật Quản lý thuế 2025
(Ảnh minh họa – Nguồn từ Internet)
Tại khoản 1 Điều 2 Luật Quản lý thuế 2025, quy định về người nộp thuế gồm có:
- Tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân, cá nhân kinh doanh là người nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế.
- Tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam là người nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế.
- Tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác là người nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế.
- Tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân, cá nhân kinh doanh nộp các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức, cá nhân thực hiện khấu trừ, nộp thay số thuế đã khấu trừ theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về quản lý thuế và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Xem thêm: >> Sửa đổi đối tượng nộp thuế tại Luật Quản lý thuế 2025
Theo khoản 1 Điều 20 Luật Quản lý thuế 2025, quy định các trường hợp được khoanh tiền thuế nợ từ 01/7/2026 như sau:
a) Người nộp thuế là người đã chết, người bị Tòa án tuyên bố là đã chết, mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự;
b) Người nộp thuế có quyết định giải thể gửi cơ quan đăng ký kinh doanh để làm thủ tục giải thể, cơ quan đăng ký kinh doanh đã thông báo người nộp thuế đang làm thủ tục giải thể trên hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký kinh doanh nhưng người nộp thuế chưa hoàn thành thủ tục giải thể;
c) Người nộp thuế đã được Tòa án thông báo thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản hoặc được khoanh tiền thuế nợ theo văn bản đề nghị của Tòa án theo quy định của pháp luật về phục hồi, phá sản;
d) Người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký kinh doanh với cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan quản lý thuế;
đ) Người nộp thuế đã bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác, giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề, giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh, đăng ký hoặc giấy phép hoạt động kinh doanh nền tảng thương mại điện tử;
e) Người nộp thuế bị hạn chế trên thực tế quyền khai thác, sử dụng về đất đai, khoáng sản được cấp, được giao do nguyên nhân từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền dẫn đến nợ nghĩa vụ tài chính về đất, khoáng sản.








