Đề xuất chuyển 8 giao dịch bắt buộc công chứng sang công chứng tự nguyện. Các giao dịch phải công chứng năm 2025. Quy định về công chứng hợp đồng mua bán đất.
>> Quy định bố trí bình chữa cháy cho nhà và công trình theo QCVN 10:2025/BCA
>> Hướng dẫn xác định hộ kinh doanh có quy mô lớn
Mới đây, Bộ Tư pháp đã công bố Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng 2024 (sau đây gọi là Dự thảo sửa đổi Luật Công chứng 2024) để lấy ý kiến góp ý đến hết ngày 04/12/2025 trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp.
Quý khách hàng tải về Dự thảo sửa đổi Luật Công chứng 2024 tại file tải về dưới đây:
>>TẢI VỀ<< Dự thảo sửa đổi Luật Công chứng 2024
Theo Dự thảo Tờ Trình, Bộ Tư pháp đề xuất chuyển một số loại giao dịch từ “bắt buộc công chứng, chứng thực” sang hình thức công chứng, chứng thực tự nguyện, theo yêu cầu. Mục tiêu là đảm bảo tính thống nhất, ổn định trong áp dụng pháp luật, đồng thời điều chỉnh các quy định liên quan đến giao dịch phải công chứng, chứng thực. Vì vậy, Bộ Tư pháp đề nghị Chính phủ xem xét việc quy định cụ thể các giao dịch phải công chứng, chứng thực, cũng như sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Qua rà soát, tổ công tác đề xuất chuyển 8 loại giao dịch hiện đang bắt buộc công chứng, chứng thực sang hình thức công chứng, chứng thực tự nguyện, bao gồm:
- Văn bản ủy quyền đại diện kháng cáo bản án, quyết định của tòa án trong vụ việc dân sự.
- Giấy tờ liên quan đến mua bán, nhận tặng cho, đổi, hoặc thừa kế nhà ở đối với giao dịch diễn ra trước ngày 1/7/2006.
- Văn bản thỏa thuận về việc mang thai hộ.
- Hợp đồng cho thuê doanh nghiệp tư nhân.
- Văn bản ủy quyền đại diện kháng cáo bản án, quyết định của tòa án cấp sơ thẩm trong vụ việc hành chính.
- Văn bản ủy quyền của người có tên trong hợp đồng thuê nhà ở đã xuất cảnh ra nước ngoài cho các thành viên khác đứng tên mua nhà trong hồ sơ đề nghị bán nhà cũ thuộc tài sản công.
-Văn bản ủy quyền thực hiện quyền khiếu nại.
- Hợp đồng chuyển nhượng Văn phòng thừa phát lại.
Lý do không bắt buộc công chứng, chứng thực đối với các giao dịch trên là vì đã có cơ chế để các bên tự chịu trách nhiệm về tính xác thực và hợp pháp của hợp đồng, hoặc có cơ chế để cơ quan nhà nước xác nhận, kiểm soát giá trị pháp lý và tính hợp pháp của văn bản, giao dịch.
Xem thêm: >> Đề xuất 09 giao dịch phải công chứng theo Dự thảo sửa đổi Luật Công chứng 2024

Đề xuất chuyển 8 giao dịch bắt buộc công chứng sang công chứng tự nguyện
(Ảnh minh họa – Nguồn từ Internet)
Căn cứ Điều 3 Luật Công chứng 2024, có quy định giao dịch phải công chứng như sau:
1. Giao dịch phải công chứng là giao dịch quan trọng, đòi hỏi mức độ an toàn pháp lý cao và được luật quy định hoặc luật giao Chính phủ quy định phải công chứng.
2. Bộ Tư pháp có trách nhiệm rà soát, cập nhật, đăng tải các giao dịch phải công chứng, chứng thực trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.
Xem chi tiết tại: >> Danh mục 24 giao dịch phải công chứng, chứng thực mới nhất 2025
Căn cứ khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024, có quy định như sau:
3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:
a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này;
b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;
c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;
d) Việc công chứng, chứng thực thực hiện theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực.
Theo đó, hợp đồng mua bán (chuyển nhượng) quyền sử dụng đất phải được công chứng hoặc chứng thực mới có hiệu lực pháp lý, trừ trường hợp bên chuyển nhượng hoặc nhận chuyển nhượng là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản thì khi đó, việc công chứng hoặc chứng thực do các bên tự thỏa thuận.








