Tiền thưởng, KPI có phải đóng thuế TNCN, đóng BHXH và được tính chi phí hợp lệ không?
Căn cứ theo khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định thu nhập chịu thuế như sau:
Thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm các loại thu nhập sau đây, trừ thu nhập được miễn thuế quy định tại Điều 4 của Luật này:
...
2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;
b) Tiền thù lao, các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức;
c) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác trừ các khoản: phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật; phụ cấp, trợ cấp, sinh hoạt phí do cơ quan Việt Nam ở nước ngoài chi trả; trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, trợ cấp tuất hàng tháng và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm; trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác không mang tính chất tiền lương, tiền công do Chính phủ quy định.
...
Như vậy, khoản tiền thưởng, tiền KPI, tiền hiệu suất hoặc các khoản thưởng theo kết quả công việc mà người lao động nhận được từ doanh nghiệp thuộc thu nhập từ tiền lương, tiền công và phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN, trừ trường hợp được miễn thuế theo quy định pháp luật.
Đồng thời, tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, BHXH tính trên mức lương + phụ cấp lương + các khoản bổ sung khác theo tiêu chí pháp luật quy định.
Nếu là tiền thưởng theo Điều 104 Bộ luật Lao động 2019 (thưởng theo kết quả sản xuất kinh doanh/mức độ hoàn thành công việc) thì không tính đóng BHXH.
Như vậy, trường hợp khoản KPI, tiền hiệu suất được chi trả dưới hình thức tiền thưởng theo kết quả công việc hoặc kết quả sản xuất kinh doanh theo Điều 104 Bộ luật Lao động 2019 thì không thuộc căn cứ đóng BHXH bắt buộc theo Điều 7 Nghị định 158/2025/NĐ-CP.
Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp thiết kế khoản KPI như một khoản thu nhập cố định, trả thường xuyên và mang bản chất tiền lương thì vẫn có rủi ro bị cơ quan BHXH xem xét đưa vào căn cứ đóng BHXH.
Từ những căn cứ trên, về nguyên tắc: Tiền thưởng, KPI phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN; Không thuộc căn cứ đóng BHXH nếu là khoản thưởng theo kết quả công việc, kết quả sản xuất kinh doanh theo đúng quy định; Được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN nếu doanh nghiệp có đầy đủ hồ sơ, chứng từ theo quy định. |
Về phía doanh nghiệp, một trong những vấn đề được quan tâm là khoản tiền thưởng, KPI có được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN hay không.
Theo đó, khoản tiền thưởng, KPI sẽ được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN nếu có đầy đủ hồ sơ, được quy định rõ về điều kiện hưởng và mức hưởng cụ thể vào một trong các hồ sơ như hợp đồng lao động, thỏa ước, quy chế doanh nghiệp, quy chế thưởng,... và đã thực tế chi trả cho người lao động (căn cứ theo Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025, Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP và khoản 8 Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP)
Hồ sơ cần có để khoản tiền thưởng, KPI được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN như sau:
- Quy chế lương, thưởng/KPI (nêu rõ tiêu chí, cách tính, mức hưởng/khung hưởng);
- Bảng đánh giá KPI/biên bản đánh giá KPI (có duyệt của cấp có thẩm quyền);
- Quyết định chi thưởng;
- Bảng lương, bảng chấm công thể hiện khoản thưởng/KPI;
- Phiếu lương hoặc bảng thanh toán tiền thưởng;
- Hồ sơ kê khai, khấu trừ thuế TNCN theo quy định (nếu thuộc diện khấu trừ);
- Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt với khoản chi từ 5 triệu trở lên.
Tuy nhiên, cần lưu ý 3 lỗi hay gặp khiến khoản tiền thưởng, KPI không được tính vào chi phí được khi tính thuế TNDN, cụ thể:
- Không có quy chế thưởng/KPI hoặc có nhưng không ghi rõ điều kiện, mức hưởng cụ thể;
- Chi trả xong nhưng không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN;
- Thiết kế KPI thành khoản thu nhập cố định, trả đều hằng tháng nhưng vẫn gọi là "thưởng KPI". Trường hợp này có thể bị cơ quan BHXH xác định lại là tiền lương làm căn cứ đóng BHXH.
Như vậy, tiền thưởng, KPI về nguyên tắc vẫn là khoản thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động. Trường hợp được xây dựng đúng bản chất là khoản thưởng theo kết quả công việc hoặc kết quả sản xuất kinh doanh thì không thuộc căn cứ đóng BHXH bắt buộc. Đồng thời, doanh nghiệp vẫn được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN nếu có đầy đủ hồ sơ, quy chế và chứng từ theo quy định pháp luật.
Không tính thuế thu nhập cá nhân đối với những khoản tiền thưởng nào?
Theo khoản 4 Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định không tính thuế thu nhập cá nhân đối với những khoản tiền thưởng sau đây:
- Tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước phong tặng;
- Tiền thưởng kèm theo các danh hiệu thi đua, các hình thức khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng
- Tiền thưởng kèm theo giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế được Nhà nước Việt Nam thừa nhận;
- Tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận;
- Tiền thưởng về việc phát hiện, khai báo hành vi vi phạm pháp luật với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Tiền thưởng, KPI có phải đóng thuế TNCN, đóng BHXH và được tính chi phí hợp lệ không? (Hình từ Internet)
Tiền thưởng quý 2/2026 trả trong quý 3/2026 tính thuế TNCN theo quy định nào?
Căn cư khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, quy đinh thu nhập từ tiền lương, tiền công bao gồm:
Thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm các loại thu nhập sau đây, trừ thu nhập được miễn thuế quy định tại Điều 4 của Luật này:
...
2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;
b) Tiền thù lao, các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức;
c) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác trừ các khoản: phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật; phụ cấp, trợ cấp, sinh hoạt phí do cơ quan Việt Nam ở nước ngoài chi trả; trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, trợ cấp tuất hàng tháng và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm; trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác không mang tính chất tiền lương, tiền công do Chính phủ quy định.
...
Như vậy, tiền thưởng quý 2/2026 được xem là thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế.
Tại khoản 2 Điều 29 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, đã xác định các quy định liên quan đến tiền lương, tiền công được áp dụng từ 01/01/2026. Căn cứ khoản 3 Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định thời điểm xác định thu nhập tính thuế có thể là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.
Như vậy, tiền thưởng quý 2/2026 được trả trong quý 3/2026 tính thuế TNCN theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 và được hưỏng các khoản miễn thuế có hiệu lực từ 01/7/2026.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];