Doanh nghiệp muốn tăng ca đúng luật chỉ cần kiểm soát 4 mốc quy định gì?
Đầu tiên, căn cứ theo Điều 107 Bộ luật Lao động 2019 quy định về việc làm thêm giờ như sau:
Làm thêm giờ
1. Thời gian làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động.
2. Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau đây:
a) Phải được sự đồng ý của người lao động;
b) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 40 giờ trong 01 tháng;
c) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm không quá 300 giờ trong 01 năm trong một số ngành, nghề, công việc hoặc trường hợp sau đây:
a) Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản;
b) Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước;
c) Trường hợp giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời;
d) Trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm hoặc để giải quyết công việc phát sinh do yếu tố khách quan không dự liệu trước, do hậu quả thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyền sản xuất;
đ) Trường hợp khác do Chính phủ quy định.
4. Khi tổ chức làm thêm giờ theo quy định tại khoản 3 Điều này, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Đồng thời, tại Điều 59 Bộ luật Lao động 2019 được sửa đổi bởi điểm a khoản 1 Điều 43 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2025 cũng quy định về việc Đào tạo nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề như sau:
Đào tạo nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề
1. Người lao động được tự do lựa chọn đào tạo nghề nghiệp, tham gia đánh giá, công nhận kỹ năng nghề quốc gia, phát triển năng lực nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu việc làm và khả năng của mình.
2. Nhà nước có chính sách khuyến khích người sử dụng lao động có đủ điều kiện đào tạo nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề cho người lao động đang làm việc cho mình và người lao động khác trong xã hội thông qua hoạt động sau đây:
a) Thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp hoặc mở lớp đào tạo nghề tại nơi làm việc để đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho người lao động; phối hợp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo chương trình giáo dục trung học nghề và các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng theo quy định;
b) Tổ chức thi kỹ năng nghề cho người lao động; tham gia hội đồng kỹ năng nghề; dự báo nhu cầu và xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề; tổ chức đánh giá và công nhận kỹ năng nghề; phát triển năng lực nghề nghiệp cho người lao động.
Ngoài ra, tại Điều 62 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định về thông báo về việc tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm:
Thông báo về việc tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm
1. Khi tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm, người sử dụng lao động phải thông báo cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại các nơi sau:
a) Nơi người sử dụng lao động tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm;
b) Nơi đặt trụ sở chính, nếu trụ sở chính đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với nơi người sử dụng lao động tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.
2. Việc thông báo phải được thực hiện chậm nhất sau 15 ngày kể từ ngày thực hiện làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.
3. Văn bản thông báo theo Mẫu số 02/PLIV Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định này.
Từ những căn cứ trên, doanh nghiệp muốn tăng ca đúng luật chỉ cần kiểm soát 4 mốc quy định sau đây:
- Phải có sự đồng ý của người lao động về thời gian, địa điểm và công việc làm thêm, trừ trường hợp đặc biệt theo Luật quy định
- Kiểm soát giới hạn làm thêm theo ngày, giờ làm thêm không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong ngày. Nếu áp dụng thời giờ làm việc theo tuần thì tổng giờ làm việc bình thường và làm thêm không quá 12 giờ/ngày
- Không quá 40 giờ làm thêm/tháng
- Không quá 200 giờ/năm. Chỉ một số trường hợp đặc biệt được làm thêm đến 300 giờ/năm, khi vượt 200 giờ làm việc doanh nghiệp phải thực hiện thông báo bằng văn bản theo quy định.

Doanh nghiệp muốn tăng ca đúng luật chỉ cần kiểm soát 4 mốc quy định gì? (Hình từ Internet)
Nếu tổ chức làm thêm giờ vượt 200 giờ mỗi năm thì cần làm gì?
Trước đây, Sở Nội vụ thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Công văn 2677/SNV-VLATLĐ năm 2025 Tải về về việc thông tin quy định việc tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.
Theo đó, trường hợp doanh nghiệp dự định tổ chức làm thêm giờ từ trên 200 đến 300 giờ/năm cần lưu ý như sau:
[1] Đối tượng áp dụng
- Người lao động, người học nghề, tập nghề theo khoản 1 Điều 2 Bộ luật Lao động 2019.
- Người sử dụng lao động theo khoản 2 Điều 2 Bộ luật Lao động 2019.
[2] Các trường hợp được tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm
Gồm 7 trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 3 Điều 107 Bộ luật Lao động 2019 và Điều 61 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, bao gồm:
- Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày; điện, điện tử; chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản.
- Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước.
- Giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng kịp thời.
- Công việc cấp bách, không thể trì hoãn do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm hoặc do yếu tố khách quan bất khả kháng (thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, thiếu điện, sự cố kỹ thuật…).
- Hoạt động công vụ cấp bách liên quan trực tiếp đến sản xuất, hoạt động của cơ quan, đơn vị nhà nước (trừ các trường hợp tại Điều 108 Bộ luật Lao động).
- Cung ứng dịch vụ công ích: khám chữa bệnh, giáo dục, giáo dục nghề nghiệp.
- Công việc sản xuất, kinh doanh tại các doanh nghiệp có thời giờ làm việc bình thường không quá 44 giờ/tuần.
[3] Điều kiện tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm
- Phải có sự đồng ý của người lao động (căn cứ theo Điều 59 Nghị định 145/2020/NĐ-CP). Người sử dụng lao động cần được sự đồng ý cụ thể của người lao động về:
+ Thời gian làm thêm;
+ Địa điểm làm thêm;
+ Công việc làm thêm.
- Người lao động có thể ký thỏa thuận riêng theo Mẫu số 01/PLIV Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
- Giới hạn số giờ làm thêm:
+ Tổng số giờ làm thêm không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày.
+ Không quá 12 giờ/ngày (bao gồm làm việc bình thường và làm thêm).
+ Không quá 40 giờ/tháng.
+ Tổng cộng không vượt quá 300 giờ/năm.
- Khi làm việc không trọn thời gian theo Điều 32 Bộ luật Lao động 2019, tổng số giờ làm việc bình thường và làm thêm cũng không vượt quá 12 giờ/ngày.
- Thời giờ làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ hàng tuần cũng không vượt quá 12 giờ/ngày.
- Thời giờ quy định tại khoản 1 Điều 58 Nghị định 145/2020/NĐ-CP được trừ khi tính tổng số giờ làm thêm trong tháng, trong năm.
[4] Thủ tục thông báo khi tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm
- Khi tổ chức làm thêm vượt quá 200 giờ đến 300 giờ trong một năm, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại:
+ Nơi tổ chức làm thêm giờ.
+ Hoặc tại trụ sở chính (nếu trụ sở chính khác địa bàn nhưng có đơn vị trực thuộc tổ chức làm thêm giờ).
- Việc thông báo phải thực hiện chậm nhất sau 15 ngày kể từ ngày bắt đầu tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong năm.
- Văn bản thông báo thực hiện theo Mẫu số 02/PLIV Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
Lưu ý: Ngoài việc thông báo cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, người sử dụng lao động còn phải gửi thông báo cho Sở Nội vụ để rà soát và lưu trữ hồ sơ.
Hướng dẫn xác định tiền làm thêm giờ trên 40 giờ/tháng hoặc 300 giờ/năm miễn thuế TNCN?
Căn cứ theo Điều 26 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định tiền lương làm thêm giờ vượt mức như sau:
Tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép
1. Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ phù hợp với quy định về điều kiện và thời gian theo pháp luật về lao động.
Tổ chức, doanh nghiệp trả thu nhập phải lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc, khoản tiền lương làm đêm, làm thêm giờ đã trả cho người lao động. Bảng kê này được lưu tại tổ chức, doanh nghiệp trả thu nhập và xuất trình khi có yêu cầu của cơ quan thuế. Trường hợp không lập bảng kê riêng, tổ chức trả thu nhập có trách nhiệm chứng minh khoản tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc thông qua bảng lương, bảng chấm công, hợp đồng lao động và các tài liệu hợp pháp khác.
...
3. Trường hợp tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép vượt mức quy định của pháp luật thì phần vượt mức quy định tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân
Căn cứ Điều 107 Bộ luật Lao động 2019 quy định về việc làm thêm đã trích tại Mục 1.
Đồng thời, tại Công văn 10311/NBI-QLDN1 năm 2026 Tải về hướng dẫn áp dụng miễn thuế TNCN đối với tiền làm thêm giờ trên 40 giờ/tháng hoặc 300 giờ/năm như sau:
Trường hợp Công ty hoạt động trong lĩnh vực điện tử thì tổng số giờ làm thêm của người lao động không quá 300 giờ/năm. Phần tiền lương, tiền công trả cho thời gian làm thêm giờ chỉ được miễn thuế TNCN nếu việc làm thêm đáp ứng đầy đủ điều kiện và giới hạn thời gian theo pháp luật lao động; phần không đáp ứng quy định phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN. Cụ thể:
- Trường hợp trong một tháng người lao động làm thêm vượt 40 giờ thì phần tiền lương, tiền công tương ứng với số giờ làm thêm vượt 40 giờ trong tháng không thuộc diện miễn thuế TNCN và phải tính vào thu nhập chịu thuế của tháng phát sinh.
- Trường hợp người lao động chưa vượt 40 giờ làm thêm trong tháng nhưng tổng số giờ làm thêm lũy kế trong năm đã đạt giới hạn 300 giờ/năm theo trường hợp được phép áp dụng tại khoản 3 Điều 107 Bộ luật Lao động 2019 thì phần tiền lương, tiền công tương ứng với thời gian làm thêm vượt giới hạn đó không thuộc diện miễn thuế TNCN.
- Trường hợp trong một tháng người lao động làm thêm vượt 40 giờ/tháng nhưng tổng số giờ làm thêm trong năm chưa vượt 300 giờ/năm thì phần tiền lương, tiền công tương ứng với số giờ vượt 40 giờ/tháng vẫn không thuộc diện miễn thuế TNCN.
- Trường hợp cùng một thời điểm người lao động vừa vượt giới hạn 40 giờ/tháng vừa vượt giới hạn 300 giờ/năm thì xác định thu nhập chịu thuế theo thời gian làm thêm thực tế kể từ thời điểm không còn đáp ứng một trong các giới hạn theo quy định của pháp luật lao động.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];