Tôi đang làm CBDA một công trình san nền ở miền núi. Theo hồ sơ thiết kế ban đầu khối lượng đào đất cấp 3 là 85% và đào đất cấp 4 là 15% (xác định trên cơ sở đánh giá mắt thường) không khoan địa chất vì địa hình khó khăn hơn nữa kinh phí dự án không đủ, do đó khi triển khai thi công đơn vị thi công đã gửi tờ trình xem xét là đất cấp 4 hoàn toàn.
Để có cơ sở Chủ đầu tư đã tổ chức đi kiểm tra hiện trường mời TV, TK, TC, thí nghiệm kiểm định. Tuy nhiên khi yêu cầu đơn vị thí nghiệm nêu ra phương án xác định thì đơn vị này báo cáo là đánh giá theo công văn 1776, chứ không có tiêu chuẩn nào để thí nghiệm xác định được cấp đất. Do đó tôi không đồng ý và yêu cầu lấy mẫu tại hiện trường niêm yết đưa về xác định cấp đất.
Như vậy xin hỏi Bộ Xây dựng muốn xác định được chính xác cấp đất thì thực hiện như thế nào và theo tiêu chuẩn nào để xác định?
Việc phân loại đất đá như trong câu hỏi của quý bạn đọc nhằm phục vụ cho việc lập dự toán chi phí đầu tư xây dựng công trình. Do đó, bạn có thể thực hiện theo hướng dẫn công văn số 1776/BXD-VP ngày 16/8/2007 của Bộ Xây dựng về cống bố định mức dự toán xây dựng công trình – Phần Xây dựng và tham khảo TCVN 4447:2012: Công tác đất – Thi công và nghiệm thu.
- Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];
Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định về cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết, xét xử vi phạm pháp luật về đất đai quy định tại Nghị quyết 29/2026/QH16 của Quốc hội.
Xem toàn bộ Công văn 6762 CT PC 2026 xác định nghĩa vụ tài chính khi thực hiện thủ tục hành chính đề nghị nghị đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận lần đầu dưới đây:
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 10 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, chậm nhất ngày cuối cùng của tháng thứ ba kể từ ngày kết thúc kỳ quyết toán thuế, trừ trường hợp có thời hạn riêng.
Căn cứ Điều 12 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP, trong thời hạn 05 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ có sai, sót, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.