Ngày Quốc tế Phụ nữ 8 tháng 3 có phải ngày lễ lớn không?

06:30 | 24/02/2026
Ngày Quốc tế Phụ nữ 8 tháng 3 có phải ngày lễ lớn không? Có những biện pháp nào thúc đẩy bình đẳng giới?
Nội dung chính
  1. Ngày Quốc tế Phụ nữ 8 tháng 3 có phải ngày lễ lớn không?
  2. Có những biện pháp nào thúc đẩy bình đẳng giới?
  3. Người có hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Ngày Quốc tế Phụ nữ 8 tháng 3 có phải ngày lễ lớn không?

Căn cứ theo Điều 4 Nghị định 145/2013/NĐ-CP quy định về các ngày lễ lớn như sau:

Điều 4. Các ngày lễ lớn
Các ngày lễ lớn trong nước bao gồm:
1. Ngày Tết Nguyên đán (01 tháng Giêng Âm lịch).
2. Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03-02-1930).
3. Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10-3 Âm lịch).
4. Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975).
5. Ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ (07-5-1954).
6. Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890).
7. Ngày Cách mạng Tháng Tám (19-8-1945) và Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02-9-1945).

Theo Nghị định 145/2013/NĐ-CP thì ngày Quốc tế Phụ nữ 8 tháng 3 không phải là một trong số các ngày lễ lớn của nước ta.

Tuy nhiên, theo Lịch Vạn niên, ngày Quốc tế Phụ nữ 8 tháng 3 hay còn gọi là Ngày Liên Hợp Quốc vì Nữ quyền và Hòa bình Quốc tế là dịp để tôn vinh vẻ đẹp và trí tuệ của phái đẹp.

Xem thêm:

>>> Điều 165 Bộ luật Hình sự quy định tội xâm phạm quyền bình đẳng giới ra sao?

>>> Theo Luật Bình đẳng giới 2006, nam, nữ được đối xử bình đẳng về bảo hiểm xã hội thuộc quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực nào?

Ngày Quốc tế Phụ nữ 8 tháng 3 có phải ngày lễ lớn không?

Ngày Quốc tế Phụ nữ 8 tháng 3 có phải ngày lễ lớn không? (Hình từ Internet)

Có những biện pháp nào thúc đẩy bình đẳng giới?

Căn cứ theo Điều 19 Luật Bình đẳng giới 2006 quy định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới gồm:

[1] Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng;

[2] Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam;

[3] Hỗ trợ để tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam;

[4] Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam;

[5] Quy định nữ được quyền lựa chọn trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam;

[6] Quy định việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam;

[7] Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được quy định tại khoản 5 Điều 11, khoản 2 Điều 12, khoản 3 Điều 13, khoản 5 Điều 14 Luật Bình đẳng giới 2006, gồm:

- Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm:

+ Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;

+ Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

- Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm:

+ Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật;

+ Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật.

- Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:

+ Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động;

+ Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ;

+ Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.

- Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm:

+ Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo;

+ Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật.

Người có hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Căn cứ theo Điều 42 Luật Bình đẳng giới 2006 quy định về các hình thức xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới như sau:

Điều 42. Các hình thức xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới
1. Người nào có hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Như vậy, người có hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Logo Thư viện Pháp luật
Đoàn Thị Quỳnh Như Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Lao động - Tiền lương Xem thêm

Bài viết mới nhất