Các trường hợp thu hồi quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng theo đề xuất mới

Tham vấn bởi Luật sư Nguyễn Thụy Hân
11/06/2024 08:36 AM

Các trường hợp thu hồi quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng là nội dung tại dự thảo Luật Công chứng (sửa đổi).

Các trường hợp thu hồi quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng theo đề xuất mới

Các trường hợp thu hồi quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng theo đề xuất mới (Hình từ Internet)

Các trường hợp thu hồi quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng theo đề xuất mới

Theo quy định tại khoản 1 Điều 31 dự thảo Luật Công chứng (sửa đổi) thì các trường hợp thu hồi quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng được quy định như sau:

- Văn phòng công chứng không thực hiện đăng ký hoạt động trong thời hạn quy định tại Điều 22 dự thảo Luật công chứng (sửa đổi) hoặc nội dung đăng ký hoạt động không đúng theo hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng đã được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt;

- Hết thời hạn 06 tháng kể từ ngày được cấp giấy đăng ký hoạt động mà Văn phòng công chứng chưa bắt đầu hoạt động;

- Văn phòng công chứng không hoạt động liên tục từ 03 tháng trở lên, trừ trường hợp do tạm ngừng hoạt động theo quy định tại Điều 30 dự thảo Luật công chứng (sửa đổi);

- Văn phòng công chứng chỉ còn 01 công chứng viên hợp danh, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 31 dự thảo Luật công chứng (sửa đổi):

Trường hợp Văn phòng công chứng chỉ còn 01 công chứng viên hợp danh do công chứng hợp danh còn lại chết, bị Tòa án tuyên bố là đã chết, bị khai trừ khỏi Văn phòng công chứng hoặc bị miễn nhiệm công chứng viên thì phải bổ sung ít nhất là 01 công chứng viên hợp danh mới trong thời hạn 06 tháng. Hết thời hạn này mà Văn phòng công chứng chưa bổ sung được công chứng viên hợp danh thì bị thu hồi quyết định cho phép thành lập.

- Toàn bộ công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng bị miễn nhiệm, chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết;

- Văn phòng công chứng không duy trì được các điều kiện về công chứng viên và trụ sở theo hồ sơ đề nghị thành lập đã được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt trong thời hạn ít nhất là 01 năm kể từ ngày được cấp giấy đăng ký hoạt động;

- Văn phòng công chứng do tổ chức, cá nhân không phải là công chứng viên đầu tư thành lập, nhận chuyển nhượng hoặc duy trì hoạt động; (Nội dung mới được bổ sung)

- Văn phòng công chứng hết thời hạn tạm ngừng hoạt động quy định tại Điều 30 dự thảo Luật công chứng (sửa đổi) mà lý do tạm ngừng vẫn còn, trừ trường hợp tạm ngừng hoạt động do thiên tai, dịch bệnh. (Nội dung mới được bổ sung)

Trong khi đó, hiện hành tại khoản 1 Điều 30 Luật Công chứng 2014 quy định Văn phòng công chứng bị thu hồi quyết định cho phép thành lập trong những trường hợp sau đây:

- Văn phòng công chứng không thực hiện đăng ký hoạt động theo quy định tại Điều 23 Luật Công chứng 2014;

- Hết thời hạn 06 tháng kể từ ngày được cấp giấy đăng ký hoạt động mà Văn phòng công chứng chưa bắt đầu hoạt động;

- Văn phòng công chứng không hoạt động liên tục từ 03 tháng trở lên, trừ trường hợp toàn bộ các công chứng viên hợp danh bị tạm đình chỉ hành nghề công chứng;

- Văn phòng công chứng chỉ còn một công chứng viên hợp danh và không bổ sung được thành viên hợp danh mới trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày thiếu công chứng viên hợp danh;

- Toàn bộ công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng bị miễn nhiệm chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết;

- Văn phòng công chứng không bảo đảm duy trì điều kiện hoạt động theo quy định Luật Công chứng 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

Võ Tấn Đại 

Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email info@thuvienphapluat.vn.

Gởi câu hỏi Chia sẻ bài viết lên facebook 296

Bài viết về

Công chứng - Chứng thực

Chính sách khác

Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, P. Võ Thị Sáu, Q.3, TP.HCM
Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines)
E-mail: info@ThuVienPhapLuat.vn