Phân tích về các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu

— 1,203 lượt xem
18:00 | 07/05/2025
Quy định pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu? Phân tích cụ thể về các trường hợp thỏa thuận trọng tài bị tuyên vô hiệu theo quy định pháp luật?
Nội dung chính
  1. Quy định về thỏa thuận trọng tài vô hiệu?
  2. Phân tích các trường hợp thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu?

Quy định về thỏa thuận trọng tài vô hiệu?

Khoản 1 Điều 18 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 có quy định về các trường hợp thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu như sau:

Điều 18. Thoả thuận trọng tài vô hiệu

1. Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật này.

2. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

3. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này.

5. Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài đó là vô hiệu.

6. Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.

Như vậy, có 06 trường hợp như trên dẫn đến thỏa thuận trọng tài vô hiệu.

Phân tích về các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu (Hình từ internet)

Phân tích các trường hợp thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu?

Việc xác định một thỏa thuận trọng tài là vô hiệu được quy định tại Điều 18 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, trong đó nêu rõ các trường hợp mà thỏa thuận trọng tài giữa các bên có tranh chấp có thể bị coi là vô hiệu trong thực tiễn. Cụ thể:

Thứ nhất, một trong những lý do khiến thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu là khi tranh chấp phát sinh không thuộc phạm vi thẩm quyền giải quyết của trọng tài, được quy định tại Điều 2 Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Điều này có nghĩa là, Điều 2 xác định thẩm quyền của trọng tài đối với ba nhóm tranh chấp cụ thể.

Nếu tranh chấp giữa các bên không thuộc bất kỳ nhóm nào sau đây, thì thỏa thuận trọng tài đó sẽ bị coi là vô hiệu: (i) tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại; (ii) tranh chấp mà ít nhất một bên có hoạt động thương mại; (iii) các tranh chấp khác mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài. Tuy nhiên, nhóm tranh chấp thứ ba, "tranh chấp khác mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài," lại không được giải thích cụ thể trong Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành.

Sự thiếu rõ ràng này dẫn đến những cách hiểu khác nhau về "tranh chấp khác," gây khó khăn trong việc áp dụng các quy định về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại. Hậu quả là, trên thực tế, nhiều thỏa thuận trọng tài bị tòa án tuyên vô hiệu do không thuộc thẩm quyền của trọng tài; nhiều phán quyết trọng tài bị tòa án hủy bỏ; và hiệu quả giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại chưa cao.

Điều này gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường pháp lý, đặc biệt là sự đảm bảo quyền tài phán của trọng tài trong lĩnh vực thương mại tại Việt Nam. Do đó, pháp luật trọng tài thương mại cần được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn về việc xác định các trường hợp thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu.

Thứ hai, một lý do khác khiến thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu là khi người ký kết thỏa thuận không có thẩm quyền pháp lý để thực hiện việc đó. Ví dụ, nếu thỏa thuận trọng tài được ký bởi một người không phải là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hoặc bởi Chủ tịch Hội đồng thành viên mà điều lệ công ty không quy định chức danh này đồng thời là người đại diện theo pháp luật, thì thỏa thuận đó sẽ bị coi là vô hiệu.

Điều này phù hợp với cả lý thuyết và thực tiễn, bởi các tranh chấp kinh doanh thường liên quan đến hoạt động điều hành và quyền đại diện của doanh nghiệp trong giao dịch với các đối tác, bao gồm cả việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại. Do đó, thỏa thuận trọng tài sẽ không có hiệu lực khi người xác lập nó không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Khoản 2 Điều 3 của Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã làm rõ trường hợp người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo khoản 2 Điều 18 Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Theo đó, người không có thẩm quyền bao gồm người không phải là người đại diện theo pháp luật, người không được ủy quyền hợp pháp, hoặc người được ủy quyền nhưng vượt quá phạm vi ủy quyền. Về nguyên tắc, thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền ký kết là vô hiệu.

Tuy nhiên, có một ngoại lệ: nếu người có thẩm quyền ký kết thỏa thuận trọng tài sau đó chấp nhận hoặc biết về thỏa thuận đó mà không phản đối trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc trong tố tụng trọng tài, thì thỏa thuận trọng tài sẽ không bị coi là vô hiệu.

Thứ ba, một nguyên nhân khác khiến thỏa thuận trọng tài không có hiệu lực là khi người ký kết thỏa thuận không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự. Khoản 3 Điều 3 của Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP đã làm rõ điều này, quy định rằng người không có năng lực hành vi dân sự theo khoản 3 Điều 18 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 bao gồm người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Trong những trường hợp này, Tòa án sẽ cần thu thập bằng chứng để chứng minh sự thiếu năng lực hành vi dân sự của người đã ký kết thỏa thuận trọng tài. Các bằng chứng có thể bao gồm giấy tờ tùy thân có ghi ngày tháng năm sinh, kết luận từ cơ quan có thẩm quyền, hoặc quyết định của Tòa án xác định hoặc tuyên bố người đó mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Thứ tư, hình thức của thỏa thuận trọng tài không tuân thủ Điều 16 Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

Điều này bao gồm các trường hợp thỏa thuận không được thiết lập theo bất kỳ hình thức nào được quy định tại Điều 16 của Luật và được hướng dẫn chi tiết tại Điều 7 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP, chia thành bốn điểm cụ thể: (i) khi có nhiều thỏa thuận trọng tài cho cùng một tranh chấp, thỏa thuận hợp pháp sau cùng sẽ có hiệu lực; (ii) thỏa thuận trọng tài có nội dung mơ hồ sẽ được giải thích theo Bộ luật Dân sự; (iii) khi có chuyển giao quyền và nghĩa vụ từ hợp đồng có thỏa thuận trọng tài hợp pháp, thỏa thuận đó vẫn có hiệu lực với bên nhận chuyển giao, trừ khi có thỏa thuận khác; (iv) việc gộp nhiều tranh chấp pháp lý vào cùng một vụ kiện trọng tài được thực hiện khi các bên đồng ý hoặc quy tắc tố tụng trọng tài cho phép.

Thứ năm, một bên bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài và yêu cầu tuyên bố vô hiệu. Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do các yếu tố này, cho phép bên bị ảnh hưởng yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Luật Trọng tài thương mại năm 2010 không định nghĩa cụ thể các khái niệm này, do đó, các trung tâm trọng tài cần áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để xem xét tính vô hiệu của thỏa thuận thương mại trong trường hợp này.

Thứ sáu, thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật. Trường hợp này được quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội thì vô hiệu. Các điều cấm của luật là những quy định không cho phép thực hiện những hành vi nhất định, còn đạo đức xã hội là các chuẩn mực ứng xử chung được cộng đồng công nhận. Nhìn chung, các căn cứ khiến thỏa thuận trọng tài vô hiệu theo Điều 18 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 phù hợp với các quy định của pháp luật dân sự, vốn là nền tảng điều chỉnh tư cách pháp lý của các chủ thể khi tham gia vào các thỏa thuận kinh doanh, thương mại, bao gồm cả thỏa thuận trọng tài.

Logo Thư viện Pháp luật
— Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất

Trường hợp doanh nghiệp bị giải thể theo Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025? Hồ sơ, thủ tục giải thể doanh nghiệp năm 2026 thế nào?
Trường hợp doanh nghiệp bị giải thể theo Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025? Hồ sơ, thủ tục giải thể doanh nghiệp năm 2026 thế nào?

Giải thể doanh nghiệp là thủ tục chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi đã bảo đảm thanh toán hết nợ và nghĩa vụ tài sản khác, và không đang trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc Trọng tài. Theo Điều 64 Nghị định 168/2025/NĐ-CP, doanh nghiệp gửi nghị quyết hoặc quyết định giải thể đến Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh trong 07 ngày làm việc, thanh toán hết nợ, rồi nộp hồ sơ đăng ký giải thể trong 05 ngày làm việc kể từ ngày thanh toán hết nợ

Thông báo 11483/TB-BNV lịch nghỉ tết Âm lịch và nghỉ lễ Quốc khánh năm 2027
Thông báo 11483 TB BNV lịch nghỉ tết Âm lịch và Quốc khánh 2027 đối với CBCCVC và người lao động chi tiết thế nào?

Dưới đây là nội dung về Thông báo 11483/TB-BNV của Bộ Nội vụ về việc nghỉ tết Âm lịch và nghỉ lễ Quốc khánh năm 2027 đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và doanh nghiệp.