ĐIỂM MỚI Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 số 16 2026 QH16 có hiệu lực từ 01/3/2027 chi tiết thế nào?
Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 số 16/2026/QH16 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất thông qua ngày 24/8/2026 và có hiệu lực từ 01/3/2027.
Dưới đây là một số ĐIỂM MỚI Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 số 16/2026/QH16 có hiệu lực từ 01/3/2027:
(1) Bổ sung 01 điều mới (Điều 5) quy định về bảo mật thông tin trong hòa giải ở cơ sở
- Hòa giải viên, các bên, người được mời tham gia hòa giải, người phiên dịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan khác có trách nhiệm giữ bí mật nhà nước, bí mật thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh của các bên và thông tin khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
- Trong quá trình hòa giải chỉ được ghi chép để phục vụ cho việc hòa giải và phải bảo mật nội dung đã ghi chép, không được ghi âm, ghi hình, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.
(2) Về tiêu chuẩn của hòa giải viên (Điều 8)
Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 sửa đổi, bổ sung một số tiêu chuẩn của hòa giải viên.
Theo đó, khoản 1 Điều 8 Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 quy định hòa giải viên phải là “công dân Việt Nam cư trú tại cơ sở”, thay cho quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở 2013 về việc hòa giải viên phải là công dân Việt Nam “thường trú tại cơ sở”.
Bên cạnh đó, Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 bổ sung tiêu chuẩn “có năng lực hành vi dân sự đầy đủ” tại khoản 2 Điều 8.
Đồng thời, tại khoản 5 Điều 8 Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 quy định cụ thể các trường hợp không đủ tiêu chuẩn làm hòa giải viên, gồm người:
“Không trong thời hạn xử lý kỷ luật, thi hành quyết định xử lý kỷ luật; không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành án hình sự hoặc chưa được xóa án tích.”
Như vậy, so với Luật Hòa giải ở cơ sở 2013, Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 thay đổi tiêu chí về nơi cư trú, đồng thời bổ sung yêu cầu về năng lực hành vi dân sự và các trường hợp không đủ tiêu chuẩn làm hòa giải viên.
(3) Về bầu hòa giải viên (Điều 9):
Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 bổ sung hình thức biểu quyết trực tuyến và quy định việc có thể kết hợp một số hình thức bầu hòa giải viên.
Theo khoản 2 Điều 9 Luật Hòa giải ở cơ sở 2026, Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố tổ chức bầu hòa giải viên tại thôn, tổ dân phố hoặc tại từng cụm dân cư bằng một hoặc kết hợp một số hình thức sau đây:
- Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện các hộ gia đình;
- Phát phiếu lấy ý kiến đại diện các hộ gia đình;
- Biểu quyết trực tuyến.
Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 cũng quy định trường hợp số người được bầu đạt trên 50% tổng số đại diện hộ gia đình đồng ý nhiều hơn số lượng hòa giải viên trong tổ hòa giải thì lập danh sách người được đề nghị công nhận làm hòa giải viên theo kết quả bầu từ cao xuống thấp.
Trường hợp tất cả người trong danh sách bầu hòa giải viên không đáp ứng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 9 Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 thì tổ chức bầu lại.
So với Luật Hòa giải ở cơ sở 2013, điểm đáng chú ý của quy định mới là bổ sung hình thức biểu quyết trực tuyến, cho phép kết hợp các hình thức bầu và bổ sung trường hợp tổ chức bầu lại khi tất cả người trong danh sách bầu không đáp ứng điều kiện về tỷ lệ đồng ý trên 50%.
...
TẢI VỀ Xem chi tiết Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 số 16/2026/QH16

ĐIỂM MỚI Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 số 16/2026/QH16 có hiệu lực từ 01/3/2027 chi tiết thế nào?
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hòa giải được quy định ra sao?
Theo Điều 22 Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 quy định về Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hòa giải
(1) Các bên trong hòa giải có các quyền sau đây:
- Lựa chọn, đề xuất hoặc đề nghị thay đổi hòa giải viên, người được mời tham gia hòa giải, người phiên dịch; lựa chọn, đề xuất hình thức, địa điểm, thời gian để tiến hành hòa giải;
- Đồng ý hoặc từ chối hòa giải; yêu cầu tạm dừng hoặc chấm dứt hòa giải;
- Yêu cầu việc hòa giải được tiến hành công khai hoặc không công khai;
- Được bày tỏ ý chí và quyết định về nội dung hòa giải;
- Đề nghị hòa giải viên đề xuất Ủy ban nhân dân cấp xã hỗ trợ bố trí người phiên dịch trong trường hợp các bên không thể tự bố trí người phiên dịch;
- Yêu cầu hòa giải viên lập văn bản về kết quả hòa giải sau khi kết thúc hòa giải;
- Yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền công nhận kết quả hòa giải thành theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
(2) Các bên trong hòa giải có các nghĩa vụ sau đây:
- Trình bày đúng sự thật các tình tiết của vụ, việc; cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan;
- Tôn trọng hòa giải viên, người được mời tham gia hòa giải và quyền của các bên có liên quan;
- Không gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trong quá trình hòa giải;
- Ký tên hoặc điểm chỉ hoặc xác nhận trong trường hợp đồng ý với các nội dung của văn bản về kết quả hòa giải quy định tại khoản 2 Điều 29 của Luật Hòa giải ở cơ sở 2026;
- Thực hiện thỏa thuận hòa giải thành quy định tại khoản 1 Điều 30 của Luật Hòa giải ở cơ sở 2026.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];