Có phải cấp dưỡng cho vợ/chồng cũ sau khi ly hôn không?

16:17 | 28/11/2024
Sau khi ly hôn có bắt buộc phải cấp dưỡng cho vợ/chồng cũ hay không? Trường hợp nào phải cấp dưỡng và mức cấp dưỡng là bao nhiêu?
Nội dung chính
  1. Có bắt buộc phải cấp dưỡng cho vợ/chồng cũ sau khi ly hôn không?
  2. Mức cấp dưỡng cho vợ/chồng cũ sau khi ly hôn là bao nhiêu?

Có bắt buộc phải cấp dưỡng cho vợ/chồng cũ sau khi ly hôn không?

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Còn cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này. Nghĩa vụ cấp dưỡng thực hiện theo quy định tại Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 107. Nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.

Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

Như vậy, nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác. 

Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn thực hiện theo Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 115. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn

Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.

Như vậy, khi ly hôn thì vợ/chồng vẫn có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình nếu người còn lại có khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng. Việc chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng khi thuộc một trong các trường hợp tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 118. Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng

Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1. Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình;

2. Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi;

3. Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng;

4. Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết;

5. Bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn;

6. Trường hợp khác theo quy định của luật.

Theo đó, đối với trường hợp cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn thì khi người vợ/chồng mà kết hôn thì sẽ chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng.

Mức cấp dưỡng cho vợ/chồng cũ sau khi ly hôn là bao nhiêu?

Căn cứ theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì mức cấp dưỡng thực hiện như sau:

Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo đó, không có quy định về mức cấp dưỡng tối đa mà việc cấp dưỡng do các bên thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng, trường hợp không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết. 

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bùi Thị Như Ý
Bùi Thị Như Ý Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất

Hướng di chuyển thay thế từ 10/10/2026 tại TPHCM khi điều chỉnh giao thông phục vụ thi công Metro số 2 theo Thông báo 35704 ra sao?
Hướng di chuyển thay thế từ 10/10/2026 tại TPHCM khi điều chỉnh giao thông phục vụ thi công Metro số 2 theo Thông báo 35704 ra sao?

Dưới đây là nội dung về hướng di chuyển thay thế từ 10/10/2026 tại TPHCM trên đường Cách Mạng Tháng Tám, đường Nguyễn Thị Minh Khai, đường Sương Nguyệt Ánh, đường Bùi Thị Xuân và giao lộ Trường Chinh - Cách Mạng Tháng Tám - Lý Thường Kiệt - Hoàng Văn Thụ trong thời gian thi công dự án Xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2 Thành phố Hồ Chí Minh, tuyến Bến Thành - Tham Lương.

Bài Viết Bản Án
Chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp là gì? Mẫu danh sách chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp mới nhất?

Chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp là một hoặc nhiều cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu hoặc kiểm soát cuối cùng trên thực tế đối với doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, không tính cá nhân đại diện vốn nhà nước. Doanh nghiệp xác định theo ba bước: sở hữu từ 25% vốn hoặc cổ phần có quyền biểu quyết, quyền kiểm soát thực tế, rồi đến người quản lý có quyền hạn lớn nhất. Danh sách được kê khai theo Mẫu số 10 của Thông tư 121/2026/TT-BTC.