Chào anh, Ban biên tập xin giải đáp như sau:
1. Bản án sai chính tả có được sửa chữa, bổ sung không?
Đối với bản án dân sự sai chính tả
Theo quy định tại Điều 268 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về sửa chữa, bổ sung bản án như sau:
- Sau khi tuyên án xong thì không được sửa chữa, bổ sung bản án, trừ trường hợp phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai.
- Trường hợp cần sửa chữa, bổ sung bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 268 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì Thẩm phán phối hợp với các Hội thẩm nhân dân là thành viên Hội đồng xét xử đã tuyên bản án đó phải ra quyết định sửa chữa, bổ sung bản án và gửi ngay cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan thi hành án dân sự nếu bản án đã được gửi cho cơ quan thi hành án dân sự.
- Trường hợp Thẩm phán đã xét xử vụ án đó không còn đảm nhiệm chức vụ Thẩm phán tại Tòa án đã ra bản án đó thì Chánh án Tòa án thực hiện việc sửa chữa, bổ sung bản án.
Đối với bản án hành chính sai chính tả
Theo quy định tại Điều 197 Luật tố tụng Hành chính 2015 về sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định của tòa án như sau:
- Sau khi bản án, quyết định của Tòa án được ban hành thì không được sửa chữa, bổ sung, trừ trường hợp phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai.
- Văn bản sửa chữa, bổ sung phải được Tòa án gửi ngay cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp; trường hợp bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật còn phải gửi cho cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, cơ quan cấp trên trực tiếp của người bị kiện.
- Việc sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều 197 Luật tố tụng Hành chính 2015 do Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa phối hợp với các thành viên Hội đồng xét xử vụ án hoặc Thẩm phán Chủ tọa phiên họp thực hiện.
- Trường hợp một trong những thành viên của Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán Chủ tọa phiên họp không thể thực hiện được việc sửa chữa, bổ sung thì việc sửa chữa, bổ sung do Chánh án Tòa án thực hiện.
Đối với bản án hình sự sai chính tả
Theo quy định tại Điều 261 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 về sửa chữa, bổ sung bản án như sau:
- Không được sửa chữa, bổ sung bản án trừ trường hợp phát hiện có lỗi rõ ràng về chính tả, số liệu do nhầm lẫn hoặc do tính toán sai.
- Việc sửa chữa, bổ sung bản án không được làm thay đổi bản chất vụ án hoặc bất lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
- Việc sửa chữa, bổ sung bản án được thể hiện bằng văn bản và giao ngay cho những người được quy định tại Điều 262 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
- Việc sửa chữa, bổ sung bản án quy định tại khoản 1 Điều 261 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã ra bản án, quyết định thực hiện.
- Trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không thể thực hiện được thì việc sửa chữa, bổ sung bản án do Chánh án Tòa án đã xét xử vụ án đó thực hiện.
Như vậy, sau khi tuyên án, nguyên tắc chung là không được sửa chữa, bổ sung bản án. Tuy nhiên, đối với cả bản án dân sự, hành chính và hình sự, nếu phát hiện có lỗi rõ ràng về chính tả, số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai thì được sửa chữa, bổ sung. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phối hợp với các thành viên Hội đồng xét xử thực hiện việc sửa chữa, bổ sung bản án. Trường hợp Thẩm phán chủ tọa không thể thực hiện được thì Chánh án sẽ thực hiện. Văn bản sửa chữa, bổ sung phải được gửi ngay cho các bên liên quan.
Lưu ý: Việc sửa chữa, bổ sung không được làm thay đổi bản chất vụ án hoặc gây bất lợi cho các bên liên quan.
2. Thời hạn giao, gửi bản án hình sự cho các bên liên quan trong bao lâu?
Theo Điều 262 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định thời hạn giao, gửi bản án cho các bên liên quan như sau:
- Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho bị cáo, bị hại, Viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa; gửi bản án cho bị cáo bị xét xử vắng mặt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Cơ quan điều tra cùng cấp, cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Trại tạm giam, Trại giam nơi đang giam giữ bị cáo; thông báo bằng văn bản cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị cáo cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị cáo làm việc, học tập; cấp bản sao bản án hoặc trích lục bản án về những phần có liên quan cho đương sự hoặc người đại diện của họ.
+ Trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 thì trong thời hạn nêu trên, bản án phải được niêm yết tại trụ sở UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú cuối cùng hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập cuối cùng của bị cáo.
+ Tòa án cấp sơ thẩm gửi bản án cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong trường hợp bản án sơ thẩm có tuyên hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự theo quy định của Luật thi hành án dân sự.
- Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày ra quyết định, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi bản án hoặc quyết định phúc thẩm cho Viện kiểm sát cùng cấp; cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền; Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nơi đã xét xử sơ thẩm; Trại tạm giam, Trại giam nơi đang giam giữ bị cáo; người đã kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị hoặc người đại diện của họ; cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong trường hợp bản án phúc thẩm có tuyên hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự; thông báo bằng văn bản cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập của bị cáo.
+ Trường hợp Tòa án nhân dân cấp cao xét xử phúc thẩm thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 25 ngày.
Như vậy, thời hạn giao, gửi bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là trong vòng 10 ngày kể từ ngày tuyên án. Thời hạn gửi bản án của Tòa án cấp phúc thẩm là trong vòng 10 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày ra quyết định phúc thẩm, có thể kéo dài nhưng không quá 25 ngày nếu Tòa án nhân dân cấp cao xét xử phúc thẩm. Đồng thời bản án phải được giao, gửi cho các bên liên quan như bị cáo, bị hại, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, cơ quan điều tra và chính quyền địa phương nơi cư trú của bị cáo.
Trân trọng!
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];