Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 1039/2022/KDTM-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 1039/2022/KDTM-ST NGÀY 10/06/2022 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 10 tháng 06 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án dân sự thụ lý số 1181/2018/TLST- KDTM ngày 25 tháng 06 năm 2018 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2022/QĐXX – ST ngày 18/4/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 103/2022/QĐ – HPT ngày 13/5/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Địa chỉ: Số 89 đường LH, phường H, quận Đ, Thành phố hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Ngọc L (Văn băn ủy quyền số 45008/2020/UQ-PGĐ ngày 12/08/2020) (Có mặt) Địa chỉ: Tầng 1 Tòa nhà ACM- Số 96 đường CT, Phường A, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Công ty TNHH kiến trúc xây dựng thương mại H.

Địa chỉ: Số 319A4 đường NTL, Phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện pháp luật: Ông Đinh Việt T (Vắng mặt) Người có quyền nghĩa vụ liên quan: Ông Đinh Việt T (Vắng mặt) Hộ khẩu thường trú: Số 203/19/3E Đường HVN, Phường S, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở: 116/9 đường BL, Phường K, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 04/06/2018, các bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, đại diện nguyên đơn trình bày:

Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại cổ phần H (Gọi tắt là Công ty H) đã vay vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần V (Gọi tắt là Ngân hàng V) - Chi Nhánh Sài Gòn - PGD Tân Bình theo Hợp đồng tín dụng số: DSA/Q11/17/0014/HDTD ngày 23/02/2017 với các nội dung tóm tắt như sau:

Số tiền vay: 1,000,000,000 đồng Thời hạn vay: 12 tháng Lãi suất/năm: Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 21,65%/năm, điều chỉnh định kỳ 03 tháng/ lần.

Ngày giải ngân: 23/02/2017 Ngày đến hạn thanh lý hợp đồng: 23/02/2018 Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh các sản phẩm từ gỗ.

Khoản vay này được bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông Đinh Việt Tiến, bảo lãnh vô điều kiện không hủy ngang theo Hợp đồng bảo lãnh số: DSA/Q11/17/0014/HDBL ngày 23/02/2017.

Theo Khế ước nhận nợ số: DSA/Q11/17/0014/HDTD - 01 ngày 23/02/2017.

Trong quá trình sử dụng vốn vay, Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H đã thanh toán cho Ngân hàng V 4 lần, cụ thể: Lần 1: ngày 03/04/2018 trả 83.334.000 đồng tiền gốc và 17.915.279 đồng tiền lãi; lần 2: ngày 25/3/2017 trả 340.397 đồng; Lần 3: ngày 25/4/2021 trả 620.346 đồng; Lần 4: ngày 26/05/2017 trả 83.334.000 đồng tiền gốc và 21.656.927 đồng lãi. Tổng cộng số tiền Công ty H đã thanh toán là 207,200,949 đồng. Trong đó, trả nợ gốc là 166,668,000 đồng; trả nợ lãi là 40,532,949 đồng.

Do Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V theo thỏa thuận thanh toán theo kỳ trong hợp đồng tín dụng mặc dù đã nhiều lần liên hệ và làm việc Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H để yêu cầu hoàn trả nợ vay nhưng Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H cố tình kéo dài thời gian nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng do đó từ ngày 25/05/2017 Ngân hàng V đã chuyển toàn bộ số nợ còn lại qua nợ quá hạn.

Vì vậy căn cứ vào thỏa thuận tại Điều 2 trong hợp đồng tín dụng đã ký, kính đề nghị Quý Tòa thụ xem xét và phán quyết buộc:

1/ Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H phải trả ngay một lần cho Ngân hàng V tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến ngày 16/03/2022 là:

− Nợ gốc : 833,332,000 đồng − Nợ lãi trong hạn : 16,409,258 đồng − Nợ lãi quá hạn : 1,368,749,877 đồng − Lãi chậm trả : 8,008,630 đồng − Tổng cộng : 2,226,891,764 đồng (Hai tỷ, hai trăm hai mươi sáu triệu, tám trăm chín mươi mốt nghìn, bảy trăm sáu mươi bốn đồng) Ngoài ra, Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng V. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán không đúng như thỏa thuận trong hợp đồng, cố tình kéo dài thời gian thanh toán nên nguyên đơn đề nghị bị đơn phải thanh toán số tiền còn nợ làm một lần ngày sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2/ Trường hợp Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ theo yêu cầu nêu trên, đề nghị Tòa án buộc bên bảo lãnh là ông Đinh Việt T có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản vay nêu trên theo hợp đồng bảo lãnh số: DSA/Q11/17/0014/HDBL ngày 23/02/2017 đã ký.

Bị đơn Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đinh Việt T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không có lời khai.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu như trong đơn khởi kiện và các bản tự khai đã nộp cho Tòa án.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa sơ thẩm nhận xét:

- Về tố tụng:

Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ quy định của pháp luật về tố tụng, Tuy nhiên, Thẩm phán còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Người tham gia tố tụng:

+ Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn không thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Đinh Việt T từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay ông Tiến không thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Đối với người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, người đại diện đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 85, 86 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 30, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 292, 293, 335, 336, 342 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: bị đơn phải chịu án phí theo quy định, hoàn tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần V và Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H là tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Theo Công văn số 9824/ĐKKD-T6 ngày 15/12/2020, về việc cung cấp thông tin doanh nghiệp của Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H. Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận:

Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H có mã số doanh nghiệp là 0311790329; có trụ sở chính tại: 319A4 đường Nơ Trang Long, Phường 13, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều Điều 30, điểm b, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, các tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích là lợi nhuận. Bị đơn có trụ sở tại quận Bình Thạnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Bình Thạnh.

2. Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đinh Việt T đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ, các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý, giấy triệu tập đến tòa trình bày lời khai, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về việc hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử + pho to Biên bản về việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định hoãn phiên tòa. nhưng Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đinh Việt Tiến đều vắng mặt không có lý do, vì vậy Toà án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã từ bỏ quyền được chứng minh của mình thông qua việc không đến Tòa án tham gia tố tụng nên bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự.

3.Về yêu cầu của các đương sự:

Căn cứ vào lời trình bày của đại diện nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn xuất trình có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Bị đơn có vay và hiện còn nợ nguyên đơn tổng số tiền tính đến ngày 10/06/2022 là 2.226.891.764 đồng; trong đó Nợ gốc: 833,332,000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 16,409,258 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1,368,749,877 đồng; Lãi chậm trả: 8,008,630 đồng.

Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số DSA/Q11/17/0014/HDTD ngày 23/02/2017; Hợp đồng bảo lãnh số: DSA/Q11/17/0014/HDBL ngày 23/02/2017 và Khế ước nhận nợ số: DSA/Q11/17/0014/HDTD - 01 ngày 23/02/2017 và các chứng từ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định bị đơn có vay của nguyên đơn số tiền 1 tỷ đồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy: quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng trên, Bị đơn đã vị phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận từ tháng thứ 2, nguyên đơn đã nhiều lần liên lạc với bị đơn để yêu cầu bị đơn hoàn nợ vay nhưng bị đơn vẫn không thanh toán và cố tình kéo dài do đó đến ngày 25/05/2017 phía Ngân hàng Thương mại cổ phần V đã căn cứ quy định tại Điều 6 và Điều 7 của Hợp đồng tín dụng số DSA/Q11/17/0014/HDTD ngày 23/02/2017 để chuyển nợ quá hạn từ ngày 25/05/2017 đối với số tiền còn nợ chưa thanh toán. Hội đồng xét xử nhận thấy: Do việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán kéo dài của bị đơn làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn do đó căn cứ vào khoản 3 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Căn cứ vào hợp đồng tín dụng được ký kết giữa hai bên cũng như quy định tại Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và khoản 2 Điều 24, khoản 1 Điều 25 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng; Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT- NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Điều 471 và khoản 5 Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005; Do đó yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 10/06/2022 là 2.226.891.764 đồng; trong đó Nợ gốc: 833,332,000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 16,409,258 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1,368,749,877 đồng; Lãi chậm trả: 8,008,630 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật để chấp nhận toàn bộ yêu của nguyên đơn. Do bị đơn đã vị phạm nghĩa vụ thanh toán trong một thời gian dài nên việc buộc bị đơn trả toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận.

Đối với yêu cầu trong trường hợp Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền 2.226.891.764 đồng (tạm tính đến ngày 10/6/2022) cho ngân hàng thì buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Đinh Việt Tiến phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên của Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H theo Hợp đồng bảo lãnh số: DSA/Q11/17/0014/HDBL ngày 23/02/2017 đã ký giữa ông Đinh Việt T và Ngân hàng Thương mại cổ phần V.

Hội đồng xét xử nhận định:

Tại Điều 3 của Hợp đồng tín dụng số DSA/Q11/17/0014/HDTD ngày 23/02/2017 và Hợp đồng bảo lãnh số: DSA/Q11/17/0014/HDBL ngày 23/02/2017 đã quy định: Để đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ của bên vay (Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H) các bên thống nhất áp dụng biện pháp bảo đảm bằng bảo lãnh cá nhân của ông Đinh Việt T; CMND số 221 093 344 (Ông Đinh Việt T là giám đốc và là người đại diện pháp luật của Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H). Xét Hợp đồng bảo lãnh số: DSA/Q11/17/0014/HDBL ngày 23/02/2017 quy định về nghĩa vụ bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản của mình, bảo lãnh vô điệu kiện và không hủy ngang cho Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số DSA/Q11/17/0014/HDTD ngày 23/02/2017. Nội dung và hình thức của Hợp đồng bảo lãnh nêu trên hoàn toàn phù hợp với các quy định tại Điều 292, 293, 335, 336, 342 và các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định hợp đồng bảo lãnh có giá trị pháp lý.

Trong khi đó, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đinh Việt T đã vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình Tòa án tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ và tại phiên tòa hôm nay, ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn không có mặt tại phiên tòa. Do đó, ông Đinh Việt T đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích cho mình nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét cho quyền lợi của ông T.

Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận, đồng thời điều này cũng phù hợp với lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh.

3.Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 292, 293, 335, 336, 342 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 2 Điều 24, khoản 1 Điều 25 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng; Các khoản 3 và 4 Điều 8, Điều 10, điểm a, khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại cổ phần V.

Buộc Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V tổng số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số DSA/Q11/17/0014/HDTD ngày 23/02/2017 (tạm tính đến ngày 10/6/2022) là 2.226.891.764 đồng; trong đó nợ gốc: 833,332,000 đồng; Nợ lãi trong hạn:

16,409,258 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1,368,749,877 đồng; Lãi chậm trả: 8,008,630 đồng.

Phương thức thanh toán: Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉ cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

Trường hợp Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H không thự hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đủ số tiền 2.226.891.764 đồng (tạm tính đến ngày 10/6/2022) thì ông Đinh Việt T phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ của Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V theo Hợp đồng bảo lãnh số: DSA/Q11/17/0014/HDBL ngày 23/02/2017 được ký kết giữa ông Đinh Việt T với Ngân hàng Thương mại cổ phần V.

2. Về án phí:

Công ty TNHH Kiến trúc Xây dựng Thương mại H phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 76.537.835 đồng (Bảy mươi sáu triệu, năm trăm ba mươi bảy ngàn, tám trăm ba mươi lăm đồng) Ngân hàng Thương mại cổ phần V không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm. Hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 22.873.000 đồng theo biên lai thu số AA/2017/0004841 ngày 22/06/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

516
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 1039/2022/KDTM-ST

Số hiệu:1039/2022/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành: 10/06/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về