Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 02/2022/DSST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG

BẢN ÁN 02/2022/DSST NGÀY 31/03/2022 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Trong ngày 31/3/2022 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Cư Jút xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 138/2021/TLST-DS ngày 06/12/2022 về việc“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXXST-DS ngày 04/3/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S; Địa chỉ: Số 266 – 268, N, phường 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D; Chức vụ: Tổng giám đốc; Người được ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh H - Giám đốc Chi nhánh Đắk Nông – Ngân hàng Thương mại cổ phần S (Văn bản ủy quyền số 3977/2020/QĐ- PL ngày 28/12/2020);

Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Đức T - Phó phòng giao dịch C– Chi nhánh Đắk Nông – Ngân hàng Thương mại cổ phần S (Văn bản ủy quyền số 77A/2021/GUQ-CNĐNO ngày 22/3/2021); Địa chỉ: Lô D1, khu công nghiệp T, huyện C, tỉnh Đăk Nông - Có mặt.

Bị đơn: Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn 17, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông - Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 07/8/2019 ông Hoàng Văn C vay vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh Đắk Nông – Phòng giao dịch C, số tiền vay 30.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng phục vụ đời sống, thời hạn vay 18 tháng, lãi suất vay 03 tháng đầu 20,5%, lãi suất của tháng thứ tư trở đi được điều chỉnh bằng lãi suất huy động tiết kiệm + Biên độ 12,5 %/năm và điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước, theo hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD 1921800146 ngày 07/8/2019. Quá trình vay ông C đã trả cho Ngân hàng 11.662.000 đồng tiền gốc và 2.999.547 đồng tiền lãi.

Đến hạn trả nợ ông C không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng và vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Nhiều lần cán bộ Ngân hàng đã đến nhà ông C để làm việc và tạo điều kiện cho ông C trả nợ, nhưng ông vẫn không chịu trả và không hợp tác làm việc.

Vì vậy, Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu TAND huyện Cư Jút giải quyết buộc ông Hoàng Văn C trả số tiền gốc và lãi tính đến ngày 31/3/2022 (Ngày xét xử sơ thẩm) là 28.026.738 đồng (Trong đó: Nợ gốc 17.338.000 đồng; lãi trong hạn 7.535.942 đồng; lãi quá hạn 2.834.163 đồng, lãi chậm trả 318.033 đồng) và toàn bộ lãi phát sinh cho đến khi trả hết số nợ theo mức lãi suất ghi trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Hoàng Văn C không đến Tòa án làm việc nhưng có đơn gửi Tòa án:

Ông thừa nhận ngày 07/8/2019 ông có vay Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh Đắk Nông – Phòng giao dịch C số tiền gốc 30.000.000 đồng (có nội dung như hợp đồng tín dụng đã ký kết). Quá trình vay ông đã trả cho Ngân hàng hàng 11.662.000 đồng tiền gốc và 2.999.547 đồng tiền lãi. Sau đó, do có khó khăn về kinh tế nên ông không có tiền trả cho Ngân hàng được.

Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín khởi kiện yêu cầu ông trả số tiền gốc và lãi tính đến ngày 31/3/2022 là 28.026.738 đồng và toàn bộ lãi phát sinh cho đến khi trả hết số nợ theo mức lãi suất ghi trong hợp đồng tín dụng đã ký kết là đúng. Vì vậy ông C đồng ý trả nợ cho ngân hàng và đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt ông C.

* Phần tranh luận: Người được ủy quyền lại của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền cả gốc và lãi là 28.026.738 đồng và toàn bộ lãi phát sinh cho đến khi trả hết số nợ theo mức lãi suất ghi trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Tại phiên tòa, người được ủy quyền lại của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không bổ sung gì khác, bị đơn vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút phát biểu quan điểm về trình tự thủ tục tố tụng và hướng xử lý vụ án:

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về trình tự thủ tục tố tụng: Thẩm phán thiết lập hồ sơ đúng trình tự theo quy định pháp luật, Hội đồng xét xử đúng thành phần; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 3 điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Áp dụng Điều 357; Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Buộc ông Hoàng Văn C phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 31/3/2022 là 28.026.738 đồng (Trong đó: Nợ gốc 17.338.000 đồng; lãi trong hạn 7.535.942 đồng; lãi quá hạn 2.834.163 đồng, lãi chậm trả 318.033 đồng) và toàn bộ lãi phát sinh cho đến khi trả hết số nợ theo mức lãi suất ghi trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Buộc ông Hoàng Văn C phải chịu tiền án phí DSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết:

Đây là quan hệ tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S với ông Hoàng Văn C. Nơi ký kết, thực hiện hợp đồng giữa hai bên tại Lô D1, khu công nghiệp Tâm Thắng, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đăk Nông theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án ông Hoàng Văn C không đến Tòa án làm việc nhưng có đơn trình bày và thừa nhận toàn bộ số tiền nợ cả gốc và lãi theo yêu cầu của ngân hàng và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt; theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ pháp luật và nội dung tranh chấp:

Đối tượng tranh chấp là số tiền nợ cả gốc và lãi tính đến ngày 31/3/2022 là 28.026.738 đồng. Người được ủy quyền lại của nguyên đơn trình bày đây là tài sản hợp pháp của nguyên đơn, thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn và đã cho bị đơn vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên, do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng nên nguyên đơn khởi kiện ra Tòa án và Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định pháp luật; vì vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng tín dụng.

[3] Nhận định của Hội đồng xét xử:

[3.1] Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD 1921800146 ngày 07/8/2019 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S với ông Hoàng Văn C được ký kết trên cơ sở tự nguyện, không trái quy định của pháp luật, đạo đức xã hội và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức. Ngân hàng đã giải ngân đủ cho ông C, quá trình thực hiện giao dịch các đương sự có đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện ký kết, thỏa thuận như trong hợp đồng. Do đó, hợp đồng nêu trên là hợp pháp.

[3.2] Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ khoản 1 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự, điều 429 của Bộ luật dân sự, việc Ngân hàng khởi kiện là đảm bảo về thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.

[3.3] Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD 1921800146 ngày 07/8/2019 ông C có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng số tiền vay 30.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng phục vụ đời sống, thời hạn vay 18 tháng, lãi suất vay 03 tháng đầu 20,5%, lãi suất của tháng thứ tư trở đi được điều chỉnh bằng lãi suất huy động tiết kiệm + Biên độ 12,5 %/năm và điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước. Quá trình vay ông C đã trả cho Ngân hàng 11.662.000 đồng tiền gốc và 2.999.547 đồng tiền lãi. Tuy nhiên, sau đó ông C không thực hiện tiếp nghĩa vụ thanh toán tiền gốc và tiền lãi suất phát sinh cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, Ngân hàng đã thông báo yêu cầu ông C thanh toán các khoản tiền vay cho Ngân hàng nhiều lần nhưng ông C không trả và không hợp tác làm việc. Do đó, ông C là người vi phạm hợp đồng.

Việc Ngân hàng khởi kiện buộc ông C phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[3.4] Về lãi suất: Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, căn cứ Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD 1921800146 ngày 07/8/2019 ông Cường có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng số tiền nợ gốc còn lại là 17.338.000 đồng và lãi suất theo hợp đồng đã ký kết giữa hai bên là phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước. Tính đến ngày 31/3/2022, ông Cường còn nợ Ngân hàng các khoản cụ thể như sau:

Tiền gốc: 17.338.000 đồng.

Lãi trong hạn: 7.535.942 đồng; Lãi quá hạn 2.834.163 đồng; Lãi chậm trả 318.033 đồng.

Tổng cộng cả gốc và lãi là: 28.026.738 đồng.

[3.5] Từ những phân tích trên HĐXX xét thấy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S buộc ông Hoàng Văn C phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền cả gốc và lãi phát sinh tính đến ngày 31/3/2022 là 28.026.738 đồng.

[4] Về án phí: Bị đơn ông Hoàng Văn C phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;

khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 357; Điều 463; Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

Buộc ông Hoàng Văn C phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền gc và lãi tính đến ngày 31/3/2022 là là 28.026.738 đồng (Trong đó: Nợ gốc 17.338.000 đồng; lãi trong hạn 7.535.942 đồng; lãi quá hạn 2.834.163 đồng, lãi chậm trả 318.033 đồng).

Tiếp tục tính lãi kể từ ngày 01/4/2022 theo mức lãi suất nợ quá hạn như đã thỏa thuận như trong hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD 1921800146 ngày 07/8/2019 cho đến khi trả nợ xong.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc ông Hoàng Văn C phải nộp 1.401.000 đồng (Một triệu bốn trăm lẻ một nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả Ngân hàng TMCP S số tiền án phí đã nộp 650.000 đồng (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003570 ngày 03/12/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại chính quyền địa phương và nơi cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

299
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 02/2022/DSST

Số hiệu:02/2022/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cư Jút - Đăk Nông
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 31/03/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về