Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 78/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 78/2023/HS-ST NGÀY 28/06/2023 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

 Ngày 28 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Trung tâm văn hóa xã Trà Cổ, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:

74/2023/HSST ngày 08/6/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

71/2023/QĐXXST-HS ngày 14/6/2023, đối với bị cáo: LÊ THANH T - sinh năm: 1982; nơi sinh: tại tỉnh Đồng Nai.

Nơi cư trú: Khu 2, thị trấn T P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không;

quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Th - sinh năm 1954 và bà Trần Thị Ph - sinh năm 1960; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/4/2023 đến ngày 14/4/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tân Phú. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 55 phút, ngày 08/4/2023, tại ấp 6, xã Trà Cổ, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, Tổ công tác của Công an huyện Tân Phú phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Thanh T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 01 gói nylon khóa Zip kích thước 2x2cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy.

Qúa trình điều tra đã làm rõ hành vi phạm tội của Lê Thanh T như sau:

Lê Thanh T là đối tượng nghiện ma túy và không có nghề nghiệp ổn định do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 12 giờ ngày 08/4/2023, Lê Thanh T đã mượn xe mô tô Wave màu xanh, biển số 60L8-48xx của bà Trần Thị Ph – sinh năm 1960 (mẹ ruột T) chạy đến khu vực Km 115 thuộc xã Phú Lợi, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai để mua ma túy. Sau đó, Lê Thanh T gặp một người lái xe ôm (không rõ lai lịch) rồi đưa 300.000 đồng cho người lái xe ôm này để mua ma túy, khi cầm được tiền người lái xe ôm chạy xe đi khoảng 30 phút sau thì quay lại đưa cho Lê Thanh T một túi nilong khóa zip màu trắng, viền xanh kích thước 02cm x 02 cm, bên trong có chất tinh thể màu trắng (Methamphetamine). Lê Thanh T nhận được gói ma túy thì bỏ vào túi quần bên trái của mình rồi chạy về nhà thuộc khu 2, thị trấn T Ph, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Tại nhà, Lê Thanh T lấy ra 01 gói ma túy sử dụng một ít, sau đó cất lại gói ma túy vào túi quần bên trái của mình. Đến 15 giờ 30 phút, cùng ngày Lê Thanh T mang theo gói ma túy đá để trong túi quần bên trái của mình đang mặc tiếp tục điều khiển xe mô tô Wave, màu xanh 60L8-48xx đi trên đường Trà Cổ hướng từ thị trấn T Ph vào xã Phú Điền để lấy áo khoác để quên tại nhà văn hóa. Khi Lê Thanh T chạy đến địa phận ấp 6, xã Trà Cổ, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện có Tổ Công an giao thông đang làm nhiệm vụ nên hoảng sợ Toàn lao xe vào khu đất trống bên tay phải đi được khoảng 50 mét thì ngã xuống mặt hố đất, lúc này Toàn đứng dậy móc gói ma túy ở túi quần trái ném ra trước khoảng cách 02 mét thì bị Công an xã Trà Cổ và Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Tân Phú phát hiện lập biên bản bắt quả tang Lê Thanh Toàn về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại kết luận giám định số 741/KL-KTHS, ngày 14/4/2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,4939 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,4532 gam.

Tại Cáo trạng số: 92/CT-VKSTP-ĐN ngày 05/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố Lê Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố và không bổ sung gì thêm.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thanh Toàn từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/4/2023.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì có ký hiệu số 741/KL-KTHS, ngày 14/4/2023 có dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai bên trong có chứa chất ma túy loại Methaphetamine còn lại sau giám định.

Đối với xe mô tô biển số 60L84815 mà bị cáo mượn của bà Trần Thị Ph đi công việc sau đó bị cáo sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy nhưng bà Ph không biết bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy nên Công an huyện Tân Phú đã trả lại cho chủ sở hữu bà Ph là có căn cứ.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen và 01 điện thoại OPPO của bị cáo Lê Thanh T. Qúa trình điều tra xác định bị cáo T không sử dụng 02 chiếc điện thoại di động trên vào mục đích phạm tội nên Công an huyện Tân Phú đã trả lại cho chủ sở hữu.

Về vấn đề khác: Qúa trình điều tra, bị cáo khai nhận mua ma túy đối tượng xe ôm tại xã Phú Lợi, huyện Định Quán. Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch, sẽ tiếp tục điều tra khi làm rõ được xử lý sau.

Bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên.

Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: “Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Lê Thanh T không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới và khai nhận ngày 08/4/2023, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 01 gói nylon ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,4939 gam trong túi quần nhằm mục đích sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử, nhận thấy hành vi của bị cáo Lê Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo Lê Thanh T là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ, cất giấu trái phép chất ma túy có thành phần là Methamphetamine là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Để có mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

[4] Về nhân thân, tiền án, tiền sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[7] Với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo; trên cơ sở xem xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[8] Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định bao gồm: 01 (một) phong bì ký hiệu số 741/KL-KTHS, ngày 14 tháng 4 năm 2023 có dấu hình tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai bên trong có chứa chất ma túy loại Methaphetamine còn lại 0,4532 gam.

- Đối với xe mô tô biển số 60L8 – 48xx là của bà Trần Thị Ph (là mẹ ruột bị cáo T) làm chủ sử hữu. Bà Ph không biết bị cáo Toàn sử dụng xe mô tô biển số 60L8 – 48xx làm phương tiện đi mua ma túy nên Công an huyện Tân Phú đã trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen và 01 điện thoại OPPO của bị cáo Lê Thanh T. Qúa trình điều tra xác định bị cáo T không sử dụng 02 chiếc điện thoại di động trên vào mục đích phạm tội nên Công an huyện Tân Phú đã trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ.

[9] Về nguồn gốc ma túy: Qúa trình điều tra, bị cáo Lê Thanh T khai nguồn gốc số ma túy là mua lại của người đàn chạy xe ôm tại xã Phú Lợi, huyện Định Quán nhưng hiện nay Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch. Vì vậy, Công an huyện Tân Phú tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau là phù hợp.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[12] Quan điểm về việc giải quyết toàn bộ vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên, Căn cứ vào:

QUYẾT ĐỊNH

- Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

- Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự.

- Điều 106 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh T 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 08/4/2023).

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định bao gồm: 01 (một) phong bì ký hiệu số 741/KL-KTHS, ngày 14 tháng 4 năm 2023 có dấu hình tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai bên trong có chứa chất ma túy loại Methaphetamine còn lại 0,4532 gam.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/6/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú).

4. Về án phí: Bị cáo Lê Thanh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/6/2023).

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

66
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 78/2023/HS-ST

Số hiệu:78/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Phú - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 28/06/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về