Bản án về ly hôn số 78/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 78/2022/HNGĐ-ST NGÀY 25/07/2022 VỀ LY HÔN

Ngày 25 tháng 7 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 202/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2022, về Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2022/QĐXX-ST ngày 08 tháng 7 năm 2022, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Hà Thúy N, sinh năm 1984 (có mặt) Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn B, sinh năm 1980 (có đơn xin xét xử vắng mặt) Địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ti đơn khởi kiện đề ngày 19/4/2022, các lời khai tiếp theo và diễn biến tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hà Thúy N trình bày: Chị và anh Phạm Văn B đăng ký kết hôn ngày 29/3/2006 tại UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị và anh B chung sống cùng nhau N. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi nhau. Từ đó đến nay vợ chồng chị không còn chung sống cùng nhau, đã chấm dứt quan hệ tình cảm và kinh tế. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được, đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống giữa chị và anh B có 3 con chung là Phạm Hà Nguyệt M, sinh ngày 22/10/2008, Phạm Minh T, sinh 20/01/2011 và Phạm Quảng Đ, sinh ngày 12/6/2018. Hiện nay các cháu đang ở với chị. Ly hôn chị đề nghị được tiếp tục nuôi cả 3 con và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng chị tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn, anh B có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng có Bản tự khai trình bày về quan hệ hôn nhân và con chung đúng như chị N đã trình bày. Anh Phạm Văn B cũng xác nhận vợ chồng có nhiều có nhiều mâu thuẫn và đã sống ly thân nên chị N xin ly hôn, anh B cũng nhất trí ly hôn.

Về nuôi con chung: Anh Phạm Văn B nhất trí để chị N nuôi cả 3 con chung, chị N không yêu cầu anh Phạm Văn B cấp dưỡng anh B nhất trí.

Về tài sản và công nợ: Anh Phạm Văn B không yêu cầu giải quyết.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, anh B có đơn xin xét xử vắng mặt. Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình, các Điều 147, 227, 228, 271, 272 và 273 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy B Thường vụ Quốc hội, xử: Cho chị Hà Thúy N được ly hôn anh Phạm Văn B.

Về nuôi con chung: Giao cho chị Hà Thúy N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 3 con chung là Phạm Hà Nguyệt M, sinh ngày 22/10/2008, Phạm Minh T, sinh 20/01/2011 và Phạm Quảng Đ, sinh ngày 12/6/2018. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, công nợ các đượng sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Ngoài ra còn đề xuất giải quyết về án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh B thông qua bà Nguyễn Thị Lãm là mẹ đẻ của anh B, anh B có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của BLTTDS xét xử vắng mặt anh B.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thúy N và anh B đăng ký kết hôn năm 2006 tại UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở được tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện nên hôn nhân giữa chị N và anh B là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên chị N và anh B đã chấm dứt quan hệ tình cảm và kinh tế, sống ly thân từ năm 2012 đến nay. Hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không thành. Nay chị N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được và xin ly hôn. Anh B cũng xác nhận vợ chồng mâu thuẫn và nhất trí ly hôn. Điều đó chứng tỏ cuộc sống vợ chồng giữa chị N và anh B đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xử: Cho chị Hà Thúy N được ly hôn anh B.

[3] Về nuôi con chung: Vợ chồng chị N, anh B có 03 con chung là Phạm Hà Nguyệt M, sinh ngày 22/10/2008, Phạm Minh T, sinh 20/01/2011 và Phạm Quảng Đ, sinh ngày 12/6/2018. Chị N có nguyện vọng được nuôi cả 3 con chung, anh B cũng nhất trí. Cháu M và cháu T cũng có nguyện vọng được ở với chị N, cháu Đ thì còn nhỏ. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chưa thành niên, cần căn cứ các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị Hà Thúy N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các con là phù hợp. Do chị N không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.

[4] Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. [6] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy B Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hà Thúy N và anh B.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Hà Thúy N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 3 con chung là Phạm Hà Nguyệt My, sinh ngày 22/10/2008, Phạm Minh Tuấn, sinh 20/01/2011 và Phạm Quảng Đông, sinh ngày 12/6/2018. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này.

3. Về án phí: Chị Hà Thúy N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị N đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0013717 ngày 26/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L.

Báo cho đương sự có mặt biết, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

22
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 78/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:78/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lạng Giang - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 25/07/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về