Bản án về ly hôn số 24/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 24/2022/HNGĐ-ST NGÀY 28/07/2022 VỀ LY HÔN

Ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 77/2022/TLST - HNGĐ ngày 07/3/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2022/QĐST- HNGĐ ngày 29/6/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2022/QĐST- HNGĐ ngày 18/7/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2022/QĐST- HNGĐ ngày 21/7/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Quàng Thị X;

Địa chỉ: Bản H, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La. (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị đơn: Anh Quàng Văn D;

Địa chỉ: Bản H, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La. (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Quàng Thị X trình bày:

Chị Quàng Thị X và anh Quàng Văn D đăng ký kết hôn từ ngày 11/8/2016 tại UBND xã M, huyện T, tỉnh Sơn La, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Quá trình chung sống hạnh phúc không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Mâu thuẫn gia đình kéo dài, ngày càng trầm trọng, chị Quàng Thị X và anh Quàng Văn D đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Chị Quàng Thị X xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn v i anh Quàng Văn D.

Về con chung: Chị Quàng Thị X và anh Quàng Văn D có 02 con chung là cháu Quàng Thị H, sinh ngày 11/01/2012 và cháu Quàng Thị H1, sinh ngày 15/10/2015.

Chị Quàng Thị X có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục một cháu và giao một cháu cho anh Quàng Văn D trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Quàng Thị X cam đoan không có nợ chung.

Trong bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn anh Quàng Văn D trình bày:

Anh Quàng Văn D và chị Quàng Thị X đăng ký kết hôn từ ngày 11/8/2016 tại UBND xã M, huyện T, tỉnh Sơn La, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Quá trình chung sống hạnh phúc không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Anh Quàng Văn D và chị Quàng Thị X đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Anh Quàng Văn D xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh Quàng Văn D nhất trí ly hôn.

Về con chung: Anh Quàng Văn D và chị Quàng Thị X có 02 con chung là cháu Quàng Thị H, sinh ngày 11/01/2012 và cháu Quàng Thị H1, sinh ngày 15/10/2015.

Anh Quàng Văn D có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu Quàng Thị H, sinh ngày 11/01/2012 và cháu Quàng Thị H1, sinh ngày 15/10/2015.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Quàng Văn D không yêu cầu chị Quàng Thị X cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Anh Quàng Văn D cam đoan không có nợ chung.

Các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Quàng Thị X vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn v i anh Quàng Văn D. Về con chung: Chị Quàng Thị X có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục một cháu và giao một cháu cho anh Quàng Văn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản riêng: Không có. Về nợ chung: Cam đoan không có.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70; Điều 71; Điều 72; Điều 209; Điều 211 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Quàng Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ ba nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.

Việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị X được ly hôn anh Quàng Văn D; Về con chung: Giao cháu Quàng Thị H, sinh ngày 11/01/2012 cho anh Quàng Văn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Quàng Thị H1, sinh ngày 15/10/2015 cho chị Quàng Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản riêng: Không có; Về nợ chung: Không có nợ chung.

Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Quàng Thị X.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Quàng Thị X yêu cầu ly hôn v i bị đơn anh Quàng Văn D có địa chỉ tại bản H, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Quàng Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ ba nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Quàng Thị X và anh Quàng Văn D đăng ký kết hôn từ ngày 11/8/2016 tại UBND xã M, huyện T, tỉnh Sơn La, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Quá trình chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Anh Quàng Văn D và chị Quàng Thị X đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Chị Quàng Thị X xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên chị Quàng Thị X đề nghị được ly hôn anh Quàng Văn D. Anh Quàng Văn D nhất trí ly hôn v i chị Quàng Thị X.

Trên cơ sở xem xét các chứng cứ, bản tự khai cho thấy cuộc sống chung vợ chồng Quàng Thị X và anh Quàng Văn D không hạnh phúc, mâu thuẫn của vợ chồng Quàng Thị X và anh Quàng Văn D đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của Quàng Thị X và xử cho Quàng Thị X được ly hôn anh Quàng Văn D.

[3] Về con chung: Chị Quàng Thị X và anh Quàng Văn D có 02 con chung là cháu Quàng Thị H, sinh ngày 11/01/2012 và cháu Quàng Thị H1, sinh ngày 15/10/2015.

Chị Quàng Thị X có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục một cháu và giao một cháu cho anh Quàng Văn D trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh Quàng Văn D có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu Quàng Thị H, sinh ngày 11/01/2012 và cháu Quàng Thị H1, sinh ngày 15/10/2015.

Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu đã yêu cầu anh Quàng Văn D cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh khả năng và điều kiện để nuôi cả hai con chung nhưng anh Quàng Văn D không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Tại Biên bản ghi ý kiến: cháu Quàng Thị H, sinh ngày 11/01/2012 có nguyện vọng sống cùng bố đẻ là anh Quàng Văn D.

Xét thấy: Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần; trên cơ sở xem xét ý kiến của cháu Quàng Thị H, cần giao cháu Quàng Thị H, sinh ngày 11/01/2012 cho anh Quàng Văn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Đối v i cháu Quàng Thị H1, sinh ngày 15/10/2015 còn nhỏ, cần giao cháu Quàng Thị H1, sinh ngày 15/10/2015 cho chị Quàng Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. [5] Về tài sản riêng: Không có.

[6] Về nợ chung: Không có nợ chung.

[7] Về án phí: Nguyên đơn chị Quàng Thị X là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa chị Quàng Thị X có ý kiến xin miễn án phí dân sự sơ thẩm, do đó cần miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Quàng Thị X, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

[1] Xử cho chị Quàng Thị X được ly hôn anh Quàng Văn D.

[2] Về con chung: Chị Quàng Thị X và anh Quàng Văn D có 02 con chung là cháu Quàng Thị H, sinh ngày 11/01/2012 và cháu Quàng Thị H1, sinh ngày 15/10/2015.

Giao cháu Quàng Thị H, sinh ngày 11/01/2012 cho anh Quàng Văn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Quàng Thị H1, sinh ngày 15/10/2015 cho chị Quàng Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Quàng Thị X và anh Quàng Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về tài sản riêng: Không có.

[6] Về nợ chung: Không có nợ chung.

[7] Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Quàng Thị X.

Hoàn trả cho chị Quàng Thị X 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số: AA/2021/0000884, ngày 07 tháng 3 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

[8] Về quyền kháng cáo: Chị Quàng Thị X được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Anh Quàng Văn D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

110
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 24/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:24/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 28/07/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về