Bản án về ly hôn số 20/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 20/2022/HNGĐ-ST NGÀY 22/07/2022 VỀ LY HÔN

Ngày 22 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 101/2022/TLST - HNGĐ ngày 14/4/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2022/QĐST- HNGĐ ngày 05/7/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Phương T.

Địa chỉ: Tổ 1, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. (Vắng mặt tại phiên tòa).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tùng L.

Địa chỉ: Tiểu khu 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sơn La.

Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Yên Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Phương T trình bày:

Chị Nguyễn Phương T và anh Nguyễn Tùng L đăng ký kết hôn từ ngày 13/7/2014 tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Sơn La, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 11 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Nguyễn Tùng L phải chấp hành án phạt tù tại Trại giam Yên Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La dẫn đến vợ chồng xa cách, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Nguyễn Phương T xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn v i anh Nguyễn Tùng L.

Về con chung: Chị Nguyễn Phương T và anh Nguyễn Tùng L có 02 con chung là cháu Nguyễn Kiều A, sinh ngày 14/01/2015 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 14/9/2017.

Chị Nguyễn Phương T có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai Nguyễn Kiều A, sinh ngày 14/01/2015 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 14/9/2017.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Phương T không yêu cầu Anh Nguyễn Tùng L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Nguyễn Phương T cam đoan không có nợ chung.

Trong bản tự khai tại Trại giam Yên Hạ, bị đơn Anh Nguyễn Tùng L trình bày:

Anh Nguyễn Tùng L và chị Nguyễn Phương T đăng ký kết hôn từ ngày 13/7/2014 tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Sơn La, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 11 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Nguyễn Tùng L phải chấp hành án phạt tù tại Trại giam Yên Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La dẫn đến vợ chồng xa cách, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Nguyễn Tùng L xác định tình cảm vợ chồng không còn, nhất trí ly hôn v i chị Nguyễn Phương T.

Về con chung: Anh Nguyễn Tùng L và chị Nguyễn Phương T có 02 con chung là cháu Nguyễn Kiều A, sinh ngày 14/01/2015 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 14/9/2017.

Anh Nguyễn Tùng L nhất trí giao cả hai cháu Nguyễn Kiều A, sinh ngày 14/01/2015 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 14/9/2017 cho chị Nguyễn Phương T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Tùng L không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Anh Nguyễn Tùng L cam đoan không có nợ chung.

Các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Nguyễn Phương T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn v i anh Nguyễn Tùng L. Về con chung: Chị Nguyễn Phương T có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu Nguyễn Kiều A, sinh ngày 14/01/2015 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 14/9/2017. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản riêng: Không có. Về nợ chung: Cam đoan không có.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn Anh Nguyễn Tùng L có ý kiến: Về tình cảm: nhất trí ly hôn v i chị Nguyễn Phương T. Về con chung: Anh Nguyễn Tùng L nhất trí giao cả hai cháu Nguyễn Kiều A, sinh ngày 14/01/2015 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 14/9/2017 cho chị Nguyễn Phương T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản riêng: Không có. Về nợ chung: Cam đoan không có.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70; Điều 71; Điều 72; Điều 209; Điều 211 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.

Việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 227; Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Phương T được ly hôn Anh Nguyễn Tùng L; Về con chung: giao cả hai cháu Nguyễn Kiều A, sinh ngày 14/01/2015 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 14/9/2017 cho chị Nguyễn Phương T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Tùng L không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản riêng: Không có; Về nợ chung: Không có nợ chung.

Về án phí: Buộc chị Nguyễn Phương T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Phương T yêu cầu ly hôn v i bị đơn Anh Nguyễn Tùng L có địa chỉ tại Tiểu khu 2, thị trấn T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Nguyễn Phương T, bị đơn Anh Nguyễn Tùng L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Phương T và Anh Nguyễn Tùng L đăng ký kết hôn từ ngày 13/7/2014 tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Sơn La, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Quá trình chung sống đến tháng 11 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Nguyễn Tùng L phải chấp hành án phạt tù tại Trại giam Yên Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Đến nay, chị Nguyễn Phương T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chị Nguyễn Phương T đề nghị được ly hôn anh Nguyễn Tùng L. Anh Nguyễn Tùng L nhất trí ly hôn v i chị Nguyễn Phương T.

Trên cơ sở xem xét các chứng cứ, bản tự khai cho thấy cuộc sống chung vợ chồng chị Nguyễn Phương T và anh Nguyễn Tùng L không hạnh phúc, mâu thuẫn của vợ chồng chị Nguyễn Phương T và anh Nguyễn Tùng L đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Phương T và xử cho chị Nguyễn Phương T được ly hôn anh Nguyễn Tùng L.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Phương T và anh Nguyễn Tùng L có 02 con chung là cháu Nguyễn Kiều A, sinh ngày 14/01/2015 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 14/9/2017.

Quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Phương T và anh Nguyễn Tùng L đều có ý kiến nhất trí giao cả hai cháu Nguyễn Kiều A, sinh ngày 14/01/2015 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 14/9/2017 cho chị Nguyễn Phương T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Tùng L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại Biên bản ghi ý kiến, cháu Nguyễn Kiều A, sinh ngày 14/01/2015 có nguyện vọng được ở v i mẹ.

Trên cơ sở xem xét ý kiến và điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của chị Nguyễn Phương T, anh Nguyễn Tùng L; nguyện vọng của cháu Nguyễn Kiều A cần giao cả hai cháu Nguyễn Kiều A, sinh ngày 14/01/2015 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 14/9/2017 cho chị Nguyễn Phương T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Tùng L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. [5] Về tài sản riêng: Không có.

[6] Về nợ chung: Không có nợ chung.

[7] Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Phương T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

[1] Xử cho chị Nguyễn Phương T được ly hôn anh Nguyễn Tùng L.

[2] Về con chung: Chị Nguyễn Phương T và anh Nguyễn Tùng L có 02 con chung là cháu Nguyễn Kiều A, sinh ngày 14/01/2015 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 14/9/2017.

Giao cả hai cháu Nguyễn Kiều A, sinh ngày 14/01/2015 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 14/9/2017 cho chị Nguyễn Phương T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Tùng L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về tài sản riêng: Không có.

[6] Về nợ chung: Không có nợ chung.

[7] Về án phí: Chị Nguyễn Phương T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: AA/2021/0000907, ngày 14 tháng 4 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Sơn La.

[8] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Phương T, anh Nguyễn Tùng L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

87
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 20/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:20/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 22/07/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về