Bản án 60/2017/HNGĐ-ST ngày 11/12/2017 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 60/2017/HNGĐ-ST NGÀY 11/12/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Ngày 11 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 209/2017/TLST-HNGĐ ngày 02-10-2017 về “Tranh chấp ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:  Chị Nguyễn Thị Ng,  sinh năm 1981

Trú tại: Thôn Ph Đ, xã Th H, huyện K Th, thành phố Hải Phòng. Có đơn xin xử vắng mặt.

Bị đơn:  Anh Lê Đức Ch, sinh năm 1983

Trú tại: Thôn V L xã T Ph, huyện V B, thành phố Hải Phòng.  Có đơn xin xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ng đơn chị Nguyễn Thị Ng trình bày: Chị kết hôn với anh Lê Đức Ch trên cơ sở tự Ng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T Ph, huyện VB, thành phố Hải Phòng vào ngày 11-01-2008. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Ng nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống; vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi đã 3 năm nay không quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Đức Ch.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung.

Tại biên bản ghi lời khai anh Lê Đức Ch xác nhận chị Ng trình bày về thời gian, hoàn cảnh, điều kiện kết hôn là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Ng nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi không quan tâm đến nhau đã 3 năm nay. Nay chị Ng xin ly hôn, anh cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung.

Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập chứng cứ cũng như các hoạt động tố tụng khác. Ng đơn đã chấp hành nghiêm yêu cầu của Tòa án về việc cung cấp chứng cứ, tham gia các hoạt động tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn hiện đang phải chấp hành án phạt tù nên có đơn xin vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải và xin xử vắng mặt. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn anh Lê Đức Ch. Con chung không có. Tài sản chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng: Anh Lê Đức Ch có hộ khẩu thường trú tại Thôn VL, xã T Ph, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án tranh chấp ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ng và anh Lê Đức Ch thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo. Trong quá trình tố tụng Ng đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật và có đơn xin xử vắng mặt. Bị đơn đang chấp hành án phạt tù đã có đơn xin xử vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Ng và anh Lê Đức Ch theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Về quan hệ vợ chồng: Quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Ng, anh Lê Đức Ch phát sinh từ ngày 11-01-2008, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Ng nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình, các đoàn thể ở địa phương hòa giải nhưng vợ chồng không trở về đoàn tụ . Nay chị xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, chị yêu cầu được ly hôn. Anh cũng đồng ý ly hôn. Qua xác minh tại địa phương thấy vợ chồng có mâu thuẫn. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2015 không quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó có căn cứ để xử cho chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn anh Lê Đức Ch theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

3. Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

4. Về tài sản chung: Vợ chồng  không có tài sản chung.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ng phải chịu án phí sơ thẩm dân sự về ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình,

Căn cứ Điều 147, 228, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn anh Lê Đức Ch.

2. Án phí: Chị Nguyễn Thị Ng phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Chị Ng đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ tại Biên lai thu số 5500 ngày 02-10-2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo. Chị Ng đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


68
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 60/2017/HNGĐ-ST ngày 11/12/2017 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:60/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/12/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về