Bản án 46/2018/DS-PT ngày 16/07/2018 về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 46/2018/DS-PT NGÀY 16/07/2018 VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SỨC KHỎE BỊ XÂM PHẠM

Ngày 16 tháng 7 năm 2018 tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 56/2018/TLPT-DS ngày 18 tháng 6 năm 2018 về: “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2018/DS-ST ngày 08 tháng  5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện P bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 240/2018/QĐ-PT ngày 02 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T (có mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc B (có mặt)

Đều trú tại: Thôn H, xã C, huyện P, Bình Định.

Người kháng cáo: Ông Nguyễn Ngọc B – Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Khoảng 09 giờ ngày 18.11.2016, bà đến quán nhà ông L - bà C ở cùng thôn để mua thực phẩm. Tại đây, bà gặp ông Nguyễn Ngọc B (anh ruột của bà) cũng đến mua thức ăn. Ông B nói bà không biết dạy con, để con đi ăn trộm. Bà hỏi ông B rằng con bà trộm cắp lúc nào mà ông B nói vậy. Hai bên lời qua tiếng lại, ông B xông vào dùng tay đánh nhiều cái vào vùng đầu của bà làm bà bị ngất xỉu nên ông B bỏ về. Những người xung quanh thấy bà ngất xỉu nên đã báo cho gia đình bà biết. Ngay sau đó, gia đình bà đã báo cáo Công an xã C đến hiện trường và cùng với chồng bà đưa bà đến Trạm y tế xã C cấp cứu. Sau khi sơ cứu ban đầu, bà được gia đình đưa đến Trung tâm y tế huyện P điều trị nội trú từ ngày 18.11.2016 đến ngày 29.11.2016 thì xuất viện.

Sau khi xuất viện về nhà một thời gian, bà nhận thấy đau đầu, buồn nôn nên nhập viện điều trị nội trú tại Bệnh viện tâm thần tỉnh Bình Định từ ngày 09.12.2016 đến ngày 26.12.2016.

Chi phí điều trị bao gồm các khoản có chứng từ là 1.490.977 đồng; không có chứng từ là 23.510.000 đồng (Có bảng kê chi tiết ghi ngày 26.10.2017 và bản tự khai ngày 30.11.2017). Nay bà khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Ngọc B phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà tổng số tiền là 25.000.977 đồng.

Bị đơn ông Nguyễn Ngọc B trình bày:

Khoảng gần 09 giờ ngày 18.11.2016, ông đến quán của vợ chồng ông L, bà C ở cùng thôn để mua thức ăn. Tại đây, ông gặp bà Nguyễn Thị T (em ruột ông). Vừa gặp mặt, bà T đã gây sự với ông trước rồi chửi ông nhiều lần bằng những lời lẽ hỗn láo. Bà C và mọi người trong quán khuyên ông nên đi về để tránh xung đột. Ông bước ra ngồi lên xe gắn máy chuẩn bị chạy xe thì bà T đi theo chặn đầu xe. Bà T dùng tay chỉ trỏ, xỉ vả vào mặt ông nhiều lần sau đó lấy chiếc dép đánh vào vai ông, ông giơ tay lên đỡ và gạt tay bà T ra nên bà T bị ngã xuống đường bê tông liên xóm. Bà T nằm vạ, la làng để cho những người xung quanh tưởng rằng ông đã đánh bà ta. Ngay sau khi sự việc xảy ra, ông đã đi báo cáo Công an xã C đến hiện trường để giải quyết sự việc. Ông không đánh bà T nên không chấp nhận bồi thường thiệt hại về sức khỏe theo yêu cầu của bà T.

Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2018/DS-ST ngày 08.5.2018 của Tòa án nhân dân huyện P đã xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.

- Buộc ông Nguyễn Ngọc B phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Nguyễn Thị T 8.610.977 đồng (Tám triệu sáu trăm mười nghìn chín trăm bảy mươi bảy đồng)

- Không chấp nhận yêu cầu phản bác của ông Nguyễn Ngọc B là không gây thiệt hại về sức khỏe cho bà Nguyễn Thị T nên không chấp nhận bồi thường thiệt hại cho bà T.

Ngoài ra bản án dân sự sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm, trách nhiệm chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 16.5.2018 bị đơn ông Nguyễn Ngọc B kháng cáo không đồng ý bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bà Nguyễn Thị T. Ông yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà T.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc B; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Ông Nguyễn Ngọc B kháng cáo không chấp nhận bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Nguyễn Thị T vì ông không đánh bà T. Xét kháng cáo của ông B, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Ông B thừa nhận khoảng gần 9 giờ ngày 18.11.2016 ông đến quán của ông L – bà C mua thức ăn, tại đây ông gặp bà Nguyễn Thị T (em ruột ông). Do đã có mâu thuẫn với nhau từ trước nên khi giáp mặt nhau, hai bên có lời qua tiếng lại sau đó ông B ra khỏi quán bà C lên xe máy chuẩn bị đi thì bà T chạy theo chặn đầu xe dùng tay chỉ trỏ vào mặt ông B, ông B dùng tay gạt tay bà T nên bà T bị ngã xuống đường bê tông. Công an xã C đã lập biên bản và cùng với người nhà của bà T đưa bà T đến Trạm y tế xã C để sơ cứu ban đầu sau đó bà T được gia đình đưa đến Trung tâm y tế huyện P để nhập viện điều trị từ ngày 18.11.2016 đến ngày 29.11.2016 và điều trị tại Bệnh viện tâm thần tỉnh Bình Định từ ngày 09.12.2916 đến ngày 26.12.2016. Theo chẩn đoán của Trung tâm y tế huyện P ghi trong Giấy ra viện ngày 29.11.2016, bà T bị đa chấn thương vùng đầu, mặt. Theo Giấy ra viện của Bệnh viện tâm thần tỉnh Bình Định, bà T bị hội chứng sau chấn động não. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã có quyết định trưng cầu giám định. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 222/2016/PY-TgT ngày 14.12.2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định đã xác định tỉ lệ tổn thương của bà T do thương tích gây nên là 5%. Vì vậy, có căn cứ để xác định rằng thương tích của bà T là do ông B gây ra nên ông B phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà T là đúng pháp luật.

Về thiệt hại, bà T yêu cầu ông B phải bồi thường cho bà 25.000.977 đồng trong đó các khoản chi phí có chứng từ là 1.490.977 đồng; các khoản không có chứng từ là 23.510.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận các chi phí hợp lý là 8.610.977 đồng, bà T không kháng cáo. Tuy nhiên, khi giải quyết việc bồi thường thiệt hại về sức khỏe, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét mức độ lỗi của các bên là chưa phù hợp bởi lẽ bà T là em ruột của ông B nhưng có những lời lẽ vô lễ với anh trai mình và có hành động dùng tay chỉ trỏ vào mặt ông B khiến ông B bực tức, không kiềm chế được dẫn đến xô xát nhau nên bà T cũng có một phần lỗi vì vậy bà T cũng phải chịu trách nhiệm một phần do lỗi của mình gây ra là 1/3 thiệt hại. Như vậy, ông B phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà T số tiền 5.740.651 đồng.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2106 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ông B phải chịu 300.000 đồng.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm nên theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2106 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ông B không phải chịu.

[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm chỉ phù hợp một phần với nhận định của tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 584, 585 và 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Sửa bản án sơ thẩm.

Buộc ông Nguyễn Ngọc B phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Nguyễn Thị T 5.740.651 đồng (năm triệu bảy trăm bốn mươi nghìn sáu trăm năm mốt đồng).

Kể từ ngày bà T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền thì ông B còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Ngọc B phải chịu 300.000 đồng.

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Ngọc B không phải chịu. Hoàn trả cho ông B 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai số 0006790 ngày 16.5.2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị hội đồng xét xử không giải quyết có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị. 

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


131
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về