Bản án 40/2017/HSST ngày 21/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN - TỈNH BẮC KẠN

BẢN ÁN 40/2017/HSST NGÀY 21/09/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 21 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 34/2017/HS-ST ngày 29/8/2017 đối với các bị cáo:

1. HOÀNG ĐỨC T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 09/6/2000.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông Hoàng Văn P vàbà Hoàng Thị M; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, cómặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Hoàng Văn P, sinh năm 1972. Trú tại: Thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt

- Người Bào chữa cho bị cáo: Ông Hà Văn T là Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn, là người bào chữa cho bị cáo Hoàng Đức T. Có mặt

- Đại diện Trường Trung học phổ thông Chợ Đồn: Không tham gia

2. HÀ TIẾN T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 06/8/1998

Trú tại: Thôn C, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông Hà Sỹ C (Đã chết) và bà Ngôn Thị H; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện nay đang bị tạm giam trong vụ án khác. Có mặt.

3. MA THÀNH T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10/7/1995

Trú tại: Tổ 9, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Ma Văn K và bà Ma Thị T; Vợ, con: chưa có; Tiền án: 01. Ngày 28/8/2014 bị TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Tiền sự: Không. Hiện nay đang chấp hành án phạt tù trong vụ án khác. Có mặt.

*  Người bị hại: Anh Đàm Quốc H, sinh ngày18/12/2000

Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

Đăng ký tạm trú tại: Tổ 3, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt

- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại: Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1980, là mẹ đẻ của Đàm Quốc H.

Trú tại: Thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

Đăng ký tạm trú tại: Tổ 3, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Hầu Văn T, sinh năm 1994.

Trú tại: Thôn K, xã X, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.Vắng mặt

- Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1976

Trú tại: Thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt

NHẬN THẤY

Các bị cáo Hoàng Đức T, Hà Tiến T và Ma Thành T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 00 giờ ngày 13/12/2016, Hoàng Đức T cùng Hà Tiến T đến phòng trọ của Ma Thành T tại Tổ 4, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn chơi. Tại đây, Hoàng Đức T rủ Hà Tiến T và Ma Thành T cùng nhau đi tìm trộm cắp xe mô tô, Ma Thành T và Hà Tiến T đồng ý. Sau đó, cả ba người cùng nhau đi đến ngã tư máy xay xát thuộc khu vực giáp ranh giữa tổ 4, 5 và tổ 14 thị trấn B, huyện C (Khi đó Hà Tiến T dắt bộ chiếc xe máy của Hoàng Đức T lúc trước Hoàng Đức T đã cùng Hà Tiến T đến phòng trọ của Ma Thành T), khi đến gần ngã tư máy xay xát Ma Thành T có nói “Tao đi về ngủ đây chúng mày làm gì thì làm có gì quay về phòng trọ đón tao” (ý của Ma Thành T là T thấy mệt nên không muốn đi trộm cắp xe mô tô nữa nhưng nếu Hoàng Đức T và Hà Tiến T trộm cắp được xe mô tô thì gọi Ma Thành T để đi cùng) rồi Ma Thành T quay về phòng trọ, còn Hà Tiến T và Hoàng Đức T tiếp tục đi ra ngã tư máy xát thì thấy có xe mô tô dựng ở trước cửa quán Internet Liên Minh Huyền Thoại thuộc Tổ 4, thị trấn B, huyện C và cửa quán đã đóng, không có người trông coi nên Hoàng Đức T đi về phía chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave α, màu sơn trắng-đen-bạc, biển kiểm soát 97B1- 418.15 của anh Đàm Quốc H (xe mô tô anh H trước đó mượn của anh Hầu Văn T) dắt chiếc xe từ trước cửa quán về phía Hà Tiến T sau đó ngồi lên chiếc xe mới trộm được còn Hà Tiến T thì điều khiển xe mô tô của Hoàng Đức T và dùng chân để đẩy chiếc xe mới trộm được mà Hoàng Đức T đang ngồi. Đi vào đoạn đường vắng thuộc tổ 16, thị trấn B thì Hoàng Đức T để chiếc xe ở ven đường sau đó

Hoàng Đức T và Hà Tiến T quay lại phòng trọ của Ma Thành T để đón T. Sau khi đón Ma Thành T đến vị trí để chiếc xe mà Hoàng Đức T và Hà Tiến T mới trộm cắp được thì Ma Thành T dùng chiếc tô vít mang theo chọc vào ổ khóa chiếc xe rồi dùng chiếc cờ lê vặn vào lục giác của chiếc tô vít vặn thì tô vít bị gãy không phá được khóa nên Hoàng Đức T cắt dây mát của xe mô tô, khi cắt được dây mát Ma Thành T nổ máy và điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp được đi theo hướng đi tỉnh Thái Nguyên, còn Hà Tiến T và Hoàng Đức T cùng nhau đi trên xe mô tô của Hoàng Đức T theo sau Ma Thành T. Khi đi đến ngã ba Trạm kiểm lâm xã B, huyện C do xe mô tô hết xăng nên Hoàng Đức T và Hà Tiến T không đi nữa mà quay về thị trấn B, còn Ma Thành T tiếp tục điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp được xuống tỉnh Thái Nguyên bán cho một người đàn ông không quen biết với giá 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt nam. Số tiền bán xe Ma Thành T đã đưa cho Hoàng Đức T số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng), số tiền còn lại 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng) Ma Thành T đã chi tiêu hết. Sau đó Hoàng Đức T lấy số tiền mà Ma Thành T đưa chia cho Hà Tiến T 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và trả tiền nhà nghỉ hết 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng), số tiền còn lại 350.000đ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) Hoàng Đức T đã chi tiêu hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 16/HĐ-ĐGTS ngày 09/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave α, màu sơn trắng-đen-bạc, biển kiểm soát 97B1-418.15, xe mua từ tháng 11/2014 tại thời điểm bị mất còn có giá trị là: 14.079.200 đ (Mười bốn triệu không trăm bảy mươi chín nghìn hai trăm đồng).

Tại bản cáo trạng số: 34/KSĐT-KT ngày 28/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố các bị cáo Hoàng Đức T, Hà Tiến T và Ma Thành T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt: Bị cáo Hoàng Đức T từ 06 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; Bị cáo Hà Tiến T mức án từ 09 đến 15 tháng tù; bị cáo Ma Thành T mức án từ 12 đến 18 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Đức T, Hà Tiến T và Ma Thành T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu ở trên. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở, chứng cứ xác định: Khoảng 00 giờ ngày 13/12/2016, Hoàng Đức T, Hà Tiến T và Ma Thành T đã có hành vi chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave α, màu sơn trắng – đen – bạc, biển kiểm soát 97B1-418.15 của anh Đàm Quốc H, tại thời điểm bị mất xe mô tô có giá trị là: 14.079.200 đ (Mưi bốn triệu không trăm bảy mươi chín nghìn hai trăm đồng).

Hành vi trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Đây là vụ án có đồng phạm giữa bị cáo Hoàng Đức T rủ Hà Tiến T và Ma Thành T, nhưng tính chất giản đơn, giữa các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người bị hại, không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể mà chỉ cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội. Trong đó, bị cáo Hoàng Đức T và Hà Tiến T trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp, bị cáo Ma Thành T mặc dù không trực tiếp cùng Hoàng Đức T và Hà Tiến T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng trước khi thực hiện trộm cắp xe mô tô thì Ma Thành T có được cùng nhau bàn bạc việc đi trộm xe máy, sau khi Hoàng Đức T và Hà Tiến T trộm cắp được xe Ma Thành T đã mang theo tô vít và cơ lê để phá khóa xe máy và mang xe đi tiêu thụ. Còn việc sau khi bàn bạc xong việc đi trộm xe nhưng trước khi thực hiện hành vi trộm xe Ma Thành T bỏ về là do bị cáo nói mệt nên đi về chứ không phải bị cáo từ bỏ ý định thực hiện hành vi phạm tội cùng Hoàng Đức T và Hà Tiến T, bởi vì trước khi về bị cáo có nói với Hoàng Đức T và Hà Tiến T là: “Tao đi về ngủ đây chúng mày làm gì thì làm có gì quay về phòng trọ đón tao” (ý của Ma Thành T là T thấy mệt nên không muốn đi trộm cắp xe mô tô nữa nhưng nếu Hoàng Đức T và Hà Tiến T trộm cắp được xe mô tô thì gọi Ma Thành T để đi cùng) rồi Ma Thành T quay về phòng trọ.

Trong vụ án này Hoàng Đức T là người có vai trò khởi xướng, rủ rê và là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô của người bị hại, Hà Tiến T là người cảnh giới cho Hoàng Đức T thực hiện việc trộm cắp tài sản; Còn Ma Thành T tham gia với vai trò đồng phạm là người giúp sức tích cực.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố để xét xử bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra ảnh hưởng đến trật tự an ninh tại địa phương. Các bị cáo có nhận thức và hiểu biết pháp luật, song không chịu tu dưỡng rèn luyện và học tập, nên đã dẫn đến hành vi phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo Hoàng Đức T và Hà Tiến T đều có người thân có công với nước được Nhà nước ghi nhận, bị cáo Hoàng Đức T đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại được số tiền 4.000.000đồng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 01 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo Hoàng Đức T và Hà Tiến T phạm tội lần này không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, tại thời điểm bị truy tố, xét xử các bị cáo đang bị truy tố trong một vụ án khác về hành vi chiếm đoạt tài sản.

- Bị cáo Ma Thành T khi thực hiện hành vi phạm tội đang có tiền án, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội mới. Hiện nay bị cáo đang chấp hành án12 tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/2017/HSST ngày 28/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Do hành vi phạm tội tại bản án số 17 bị cáo thực hiện vào ngày 07/01/2017 nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự. Phạm tội lần này do đang chấp hành án phạt tù tại bản án số 17, cần áp dụng Điều 51 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo Hoàng Đức T là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác phạm tội, tuy nhiên tại thời điểm phạm tội Hoàng Đức T chưa đủ tuổi thành niên nên còn có phần hạn chế về năng lực hành vi. HĐXX sẽ cân nhắc khi lượng hình, song vẫn đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm, tạo cơ hội cho bị cáo được tiếp tục học tập để trở thành công dân tốt.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe mô tô do các bị cáo chiếm đoạt là của anh Hầu Văn T, chiếc xe mô tô trên do trước đó anh Đàm Quốc H mượn của anh Hầu Văn T, sau khi bị mất xe anh H và gia đình đã  thỏa  thuận  với  anh  Hầu  Văn  T  về việc  bồi  thường  giá  trị  chiếc  xe  là 12.000.000đ, (Mười hai triệu đồng), đồng thời anh Hầu Văn T viết giấy thỏa thuận giao cho anh H được toàn quyền định đoạt chiếc xe trên. Hội đồng xét xử thấy việc thỏa thuận trên giữa anh Hầu Văn T và anh H là tự nguyện, không trái pháp luật nên được chấp nhận và xác định anh Đàm Quốc H là người bị hại, đồng thời buộc các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho anh H.

Theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản huyện C thì chiếc xe do các bị cáo chiếm đoạt tại thời điểm bị mất còn có giá trị là: 14.079.200 đ (Mười bốn triệu không trăm bảy mươi chín nghìn hai trăm đồng). Taị phiên toà hôm nay anh Đàm Quốc H và bà Hoàng Thị L chỉ yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng), đây là số tiền gia đình anh H đã thỏa thuận bồi thường giá trị chiếc xe mô tô cho anh Hầu Văn T. Yêu cầu của anh H và bà L là tự nguyện nên buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường. Tại phiên tòa các bị cáo nhất trí bồi thường cho anh H số tiền 12.000.000đồng, và mỗi bị cáo sẽ có trách nhiệm bồi thường cho anh H số tiền 4.000.000đồng. Ghi nhận bị cáo Hoàng Đức T và gia đình đã bồi thường thiệt hại cho anh H số tiền 4.000.000đồng.

Phạt bổ sung: Bị cáo Hoàng Đức T là người chưa thành niên nên không áp dụng; Các bị cáo Hà Tiến T và Ma Thành T là lao động tự do, không có việc làm và thu nhập ổn định việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành, vì vậy, miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

Đối với Bà Hoàng Thị M là người cho Hoàng Đức T mượn xe máy để đi lại hàng ngày, việc Hoàng Đức T mượn chiếc xe máy rồi sử dụng vào việc phạm tội bà M không biết nên quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà M.

Bị cáo phải chịu án phí vụ án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố các bị cáo Hoàng Đức T, Hà Tiến T, Ma Thành T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 69; Điều 73 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Hoàng Đức T 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho UBND xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để giám sát và giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày UBND xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Hà Tiến T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án phạt tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Ma Thành T 12 (Mười hai) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 12 (Mười hai) tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/2017/HSST ngày 28/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo Ma Thành T phải chấp hành hình phạt chung là 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/01/2017.

2/ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật dân sự năm 2015. Các bị cáo phải liên đới bồi thường thiệt hại cho bị hại anh Đàm Quốc H với số tiền 12.000.000đ.

- Ghi nhận bị cáo Hoàng Đức T và người đại diện hợp pháp ông Hoàng Văn P đã bồi thường thiệt hại xong cho bị hại anh Đàm Quốc H số tiền 4.000.000đ, (Bốn triệu đồng).

- Buộc bị cáo Hà Tiến T phải bồi thường thiệt hại cho bị hại anh Đàm Quốc H số tiền 4.000.000đ, (Bốn triệu đồng).

- Buộc bị cáo Ma Thành Tphải bồi thường thiệt hại cho bị hại anh Đàm Quốc H số tiền 4.000.000đ, (Bốn triệu đồng).

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

3/ Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo phải nộp mỗi người 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Hà Tiến T và Ma Thành T phải nộp mỗi bị cáo 300.000 án phí dân sự sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án dân sự theo quy định tại các điều 6, 7 và 9Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tạiđiều 30 Luật thi hành án dân sự

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bị hại, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

116
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2017/HSST ngày 21/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:40/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Đồn - Bắc Kạn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/09/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về