TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
TCVN 9467:2012
ASTM D6982-09
CHẤT
THẢI RẮN - PHƯƠNG PHÁP PHÁT HIỆN ĐIỂM NÓNG SỬ DỤNG MÔ HÌNH TÌM KIẾM LƯỚI-ĐIỂM
(MẠNG LƯỚI)
Standard practice for detecting hot spots using point-net (grid) search
patterns
Lời nói đầu
TCVN 9467:2012 được xây dựng trên cơ sở chấp nhận hoàn toàn tương đương
với ASTM D6982-09 Standard practice for detecting hot spots using point-net
(grid) search patterns với sự cho phép của ASTM quốc tế, 100 Barr Harbor
Drive, West Conshohocken, PA 19428, USA. Tiêu chuẩn ASTM D6982-09 thuộc bản
quyền ASTM quốc tế.
TCVN 9467:2012 do Ban kỹ thuật Tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC 200 Chất
thải rắn biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ
Khoa học và Công nghệ công bố.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Standard practice for detecting hot
spots using point-net (grid) search patterns
1. Phạm vi áp dụng
1.1. Tiêu chuẩn này cung cấp các phương trình, đồ thị, và tham khảo các
chương trình máy tính, để tính xác suất phát hiện điểm nóng sử dụng mô hình tìm
kiếm lưới-điểm (đó là mạng lưới). Các điểm nóng, nói chung gọi là các mục tiêu,
được coi như vô hình trên mặt đất. Các điểm nóng có thể bao gồm các hồ nguyên
là hồ chứa nước mặt và hố tiêu hủy chất thải, cũng như chất gây ô nhiễm trong
nước ngầm hoặc vùng nước ngầm.
1.2. Đối với mục đích tính xác suất phát hiện, các điểm nóng hoặc các đối
tượng bị chôn lấp được coi như có hình dạng elip khi chiếu vuông góc với mặt
đất, và mô hình tìm kiếm là hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình thoi. Các giả
định về kích thước và hình dạng của các điểm nóng nghi ngờ là hạn chế chính của
phương pháp này, và phải được xét đoán bằng thông tin mang tính lịch sử. Một
hạn chế khác là các ranh giới điểm nóng thường không rõ ràng và riêng biệt.
1.3. Nói chung, không nên sử dụng phương pháp này thay cho phương pháp địa
vật lý bề mặt để phát hiện các đối tượng bị chôn lấp, kể cả các hệ thống phụ
trợ ngầm, nơi các đối tượng bị chôn lấp như vậy có thể được phát hiện bằng
những phương pháp này (xem ASTM D6429).
1.4. Lấy mẫu tìm kiếm thường được thực hiện trong quá trình điều tra sơ bộ
về vị trí chất thải nguy hại hoặc các cơ sở quản lý chất thải nguy hại (xem
ASTM D5730). Có thể thực hiện việc lấy mẫu thông qua phương pháp khoan hoặc đẩy-trực
tiếp. Ngược lại, hướng dẫn lấy mẫu sử dụng cho mục đích thực hiện các suy luận
mang tính thống kê về đặc điểm tập hợp (ví dụ: nồng độ chất gây ô nhiễm) có thể
tham khảo theo ASTM D6311.
1.5. Tiêu chuẩn này không đề cập đến tất cả các vấn đề liên quan đến an toàn
khi sử dụng. Người sử dụng tiêu chuẩn này có trách nhiệm thiết lập các nguyên
tắc về an toàn và bảo vệ sức khỏe cũng như khả năng áp dụng phù hợp với các
giới hạn quy định trước khi đưa vào sử dụng.
2. Tài liệu viện dẫn
Các tài liệu viện dẫn sau là cần thiết cho việc áp dụng tiêu
chuẩn này. Đối với các tài liệu viện dẫn ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản
được nêu. Đối với các tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố thì áp dụng bản
mới nhất, bao gồm cả các sửa đổi, bổ sung (nếu có).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
ASTM D6051, Guide for composite sampling and field
subsampling for environmental waste management activities (Hướng dẫn lấy mẫu tổ
hợp và lấy mẫu phụ hiện trường cho các hoạt động quản lý chất thải môi trường).
ASTM D6311, Guide for generation of environmental data
related to waste management activities: Selection and optimization of sampling
design (Hướng dẫn sự hình thành dữ liệu môi trường liên quan đến các hoạt động
quản lý chất thải: Lựa chọn và tối ưu hóa thiết kế lấy mẫu).
ASTM D6429, Guide for selecting surface geophysical
methods (Hướng dẫn lựa chọn các phương pháp địa vật lý bề mặt).
3. Thuật ngữ
3.1. Định nghĩa
3.1.1. Điểm nóng (hot spot)
Vùng đất hoặc nước ngầm bị nhiễm bẩn được xác định vị trí.
Một điểm nóng có thể xem như là một khối rời rạc chất thải
bị chôn lấp hoặc đất bị ô nhiễm nơi có nồng độ chất gây ô nhiễm vượt quá một số
giá trị ngưỡng được quy định. Mặc dù các điểm nóng có kích thước và hình dạng
thay đổi và không có ranh giới rõ ràng và riêng biệt, nhưng các điểm nóng hay
các mục tiêu hình elip với các cạnh xác định rõ là phù hợp với mục đích tính
toán xác suất phát hiện. Giả định các điểm nóng có hình elip không mâu thuẫn
với mô hình đã biết về sự phân bố chất gây ô nhiễm.
3.1.2. Mật độ lấy mẫu (sampling density)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.1.3. Nửa trục chính, a (semi-major axis)
Một nửa trục dài của hình elip. Đối với hình tròn, khoảng
cách này đơn giản là bán kính.
3.1.4. Nửa trục phụ, b (semi-minor axis)
Một nửa trục ngắn của hình elip.
3.1.5. Mục tiêu (target)
Đối tượng hoặc "điểm nóng" mà đang được tìm kiếm.
3.1.6. Nồng độ ngưỡng (threshold concentration)
Nồng độ của một chất gây ô nhiễm mà trên nồng độ đó thì một
điểm nóng được coi là phát hiện ra.
3.1.7. Đơn vị ô (unit cell)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.2. Ký hiệu
a
là chiều dài nửa trục chính của hình elip.
b
là chiều dài nửa trục phụ của hình elip.
AT là diện tích của mục tiêu hoặc điểm nóng. Đối với hình
elip, AT = pab.
As là diện tích tìm kiếm.
S
là hình dạng của một mục tiêu hình elip (nghĩa là tỉ số giữa chiều dài nửa trục
phụ với chiều dài nửa trục chính của hình elip, b/a).
G
là khoảng cách giữa các nút lưới gần nhất của một ô đơn vị.
Q
là tỉ lệ của độ dài của cạnh dài ô lưới chữ nhật với độ dài của cạnh ngắn.
AC là diện tích của một đơn vị ô. Đối với hình vuông, Asq = G2.
Đối với hình chữ nhật, Are = Q.G2. Đối với hình
thoi 60o/120o, Art = |(/2|G2. Nghịch đảo của AC
là mật độ lấy mẫu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
P (tìm thấy) là xác suất phát hiện (nghĩa là 1 - b).
4. Ý nghĩa và ứng dụng
4.1. Các kỹ thuật lấy mẫu được ứng dụng rộng rãi trong thăm dò địa chất đòi
hỏi phải khoan để tìm kiếm khoáng thể dưới mặt đất, ví dụ như tìm kiếm dầu, khí
đốt. Sử dụng các kỹ thuật như vậy để tìm kiếm các chất thải bị chôn lấp và các
chất gây ô nhiễm dưới mặt đất, kể cả các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi, là phần mở
rộng logic của các kỹ thuật này.
4.2. Các kỹ thuật lấy mẫu hệ thống thường là phương pháp có hiệu quả kinh tế
nhất trong việc tìm kiếm các điểm nóng.
4.3. Phương pháp này có thể được sử dụng để xác định nguy cơ bỏ sót một điểm
nóng với kích thước và hình dạng xác định cho cách thức lấy mẫu và mật độ lấy
mẫu quy định.
4.4. Phương pháp này có thể được sử dụng để xác định điểm nóng nhỏ nhất mà
có thể phát hiện được với xác suất và mật độ lấy mẫu nhất định.
4.5. Phương pháp này có thể được sử dụng để lựa chọn kỹ thuật lấy mẫu lưới
tối ưu (nghĩa là cách thức và mật độ lấy mẫu) đối với nguy cơ không phát hiện
được một điểm nóng.
4.6. Bằng các thuật toán được nêu trong phương pháp này, có thể cân bằng
được chi phí lấy mẫu với nguy cơ bỏ sót một điểm nóng.
4.7. Cũng có thể sử dụng cách thức lấy mẫu tìm kiếm để tối ưu hóa vị trí của
các lỗ khoan quan trắc nước ngầm bổ sung hoặc thiết bị quan trắc vùng nước
ngầm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5.1. Một hoặc nhiều điểm nóng tồn tại và có xác suất xuất hiện như nhau
trong phần diện tích tìm kiếm.
5.2. Khi chiếu vuông góc lên mặt đất, mục tiêu xuất hiện là một hình elip
hoặc hình tròn (xem Hình 1). Các hình dạng và kích thước của một điểm nóng chỉ
có thể đoán được từ hồ sơ về các cơ sở hoặc vị trí cũ, sơ đồ bố trí các cơ sở
về các kiến thức cá nhân.

Hình 1 - Hình chiếu ranh giới của sự
ô nhiễm dưới bề mặt lên trên mặt đất
5.3. Mô hình tìm kiếm là mạng lưới hình vuông, hình chữ nhật, hoặc hình tam
giác đều. Các lỗ khoan được thực hiện tại các điểm giao nhau của các đường lưới
(nghĩa là nút) (Hình 2).

Hình 2 - Mô hình mạng lưới phát hiện
các điểm nóng.
Các lỗ khoan được thực hiện tại các
nút lưới
5.4. Các lỗ khoan hoặc các thiết bị đẩy-trực tiếp hướng xuống theo chiều
thẳng đứng và việc phát hiện mục tiêu rõ ràng. Giả thiết toàn bộ chiều dài của
lỗ khoan là đối tượng phân tích như các khoảng cách liên tiếp nhau của lỗ
khoan. Nếu khoảng cách lấy mẫu không liên tục, thì sự ô nhiễm có thể bị bỏ sót
nếu sự ô nhiễm đó xuất hiện giữa các khoảng cách được lấy mẫu. Nếu khoảng cách
lấy mẫu quá dài, thì có thể không phát hiện được điểm nóng, vì nó sẽ bị loãng
điểm nóng với các phần bị ô nhiễm ít hơn trong khoảng cách được lấy mẫu. Các
tiêu chí để phát hiện các chất gây ô nhiễm có thể được quy định trước nồng độ
ngưỡng (ví dụ như các mức sàng lọc/phân loại) mà có thể hỗ trợ thêm cho việc
điều tra các vị trí hoặc các cơ sở.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6. Điều tra nghiên cứu sơ bộ
6.1. Trước khi thiết kế một kỹ thuật phát hiện điểm nóng, phải tiến hành
điều tra sơ bộ diện tích mà có khả năng chứa các điểm nóng và các mục tiêu. Từ
các hồ sơ cũ, sơ đồ bố trí của thiết bị và công trình, đường vận tải đã biết,
đặc điểm cảnh quan, và sự mô tả trực quan, có thể xác định các diện tích ô
nhiễm dưới bề mặt với xác suất cao. Diện tích của một điểm nóng với xác suất
phát hiện dự kiến khác nhau hoặc diện tích của mục tiêu khác phải được vẽ rõ
ràng lên bản đồ.
6.2. Trong các diện tích có xác suất kỳ vọng phát hiện điểm nóng hoặc mục
tiêu tương đối đều nhau, thì khoảng cách lưới định trước G và loại lưới
(ví dụ như hình vuông, hình chữ nhật, hoặc hình tam giác) của mạng lưới lấy mẫu
có thể được trải lên. Diện tích có các điểm nóng nhỏ hơn cần phải tương ứng với
mật độ lấy mẫu cao hơn so với diện tích có các điểm nóng rộng hơn. Tuy nhiên,
các khu vực có rủi ro bỏ sót một điểm nóng lớn hơn cũng phải tương ứng với mật
độ lấy mẫu cao hơn so với diện tích có rủi ro bỏ sót ít hơn. Lý tưởng là, điểm
khởi đầu cho từng mạng lưới và định hướng của nó nên được xác định ngẫu nhiên.
6.3. Khi tìm kiếm các điểm nóng, nồng độ ngưỡng phát hiện có thể do cơ quan
có thẩm quyền thiết lập. Dù có vượt quá nồng độ ngưỡng hay không sẽ phụ thuộc
vào sự phân bố vật lý của chất gây ô nhiễm, dung tích của thiết bị lấy mẫu,
khoảng cách lấy mẫu được lựa chọn, và độ nhạy của phép phân tích. Nếu sự ô
nhiễm xảy ra trong một lớp biệt lập, thì xác suất phát hiện một điểm nóng sẽ
giảm với khối lượng vật liệu được lấy mẫu trong lỗ khoan sẽ tăng, hoặc nếu
khoảng cách lấy mẫu lớn hơn độ sâu của lớp điểm nóng biệt lập. Nồng độ chất gây
ô nhiễm được xác định theo phân tích có thể thấp hơn nồng độ ngưỡng vì sự pha
loãng của lớp điểm nóng với các lớp điểm nóng không làm ô nhiễm đất hoặc chất
thải. Ngoài ra, một điểm nóng bị giới hạn trong một lớp biệt lập có thể bị bỏ
sót hoàn toàn do không lấy mẫu trong lớp đó. Vì vậy, nên lấy mẫu liên tục.
6.4. Nếu nồng độ chất gây ô nhiễm trong các mẫu lớn hơn nồng độ ngưỡng, thì
cần lấy mẫu cẩn thận, chi tiết hơn để xác định phạm vi không gian của điểm nóng
hoặc chất gây ô nhiễm bị chôn lấp tốt hơn. Do vậy, sử dụng kỹ thuật lấy mẫu
mạng lưới sẽ hiệu quả nhất.
7. Xác định xác suất phát hiện điểm
nóng
7.1. Trường hợp 1: Nếu kích thước dài nhất của một mục tiêu hình elip nhỏ hơn
hoặc bằng khoảng cách lưới (tức là 2a £ G), thì chỉ
có thể tìm ra mục tiêu này được một lần và xác suất P của việc phát hiện
điểm nóng đơn giản bằng tỉ số giữa diện tích của mục tiêu AT
với diện tích của một đơn vị ô AC (tức là P = AT/AC).
7.2. Trường hợp 2: Nếu kích thước dài nhất của một mục tiêu hình elip lớn hơn
khoảng cách lưới (tức là 2a > G), thì có thể tìm ra mục tiêu
này nhiều lần. Trong trường hợp này, thuật toán do Singer và Wichman[1]
xây dựng dùng phép chuyển đổi tương đồng về đặc tính và lập trình theo FORTRAN
của Singer[2] được sử dụng để tính xác suất phát hiện mục tiêu chính
xác. Chương trình này bị hạn chế với hình elip có hình dạng S từ 0,05
đến 1,0 và tỉ số a/G từ 0,05 đến 1,0. Thuật toán của Singer được
J.R.Davidson[3] sửa lại dùng cho máy tính cá nhân (PC) chạy dưới hệ
điều hành MS DOS. Tài liệu hỗ trợ cho chương trình này, ELIPGRID-PC, có sẵn ở
Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge[4], [5].
7.3. Mục tiêu hình elip định hướng ngẫu nhiên: Xác suất phát hiện mục tiêu, P
(tìm thấy), của cỡ a hình S quy định và khoảng cách mạng
lưới G quy định có thể được lấy từ đồ thị trong Hình 3 và Hình 4 cho các
mô hình lấy mẫu mạng lưới hình vuông và hình tam giác đều. Sử dụng chương trình
ELIPGRID-PC để có được dữ liệu cho đồ thị này. Để sử dụng đồ thị này, trước
tiên tính tỉ số a/G. Sau đó vẽ một đường thẳng đứng từ điểm đại
diện cho tỉ số a/G trên trục x của đồ thị đến đường cong đại diện
cho hình dạng đã quy định trước của elip. Tiếp theo vẽ một vuông góc với trục
y. Đối với các hình dạng khác với những hình dạng hiển thị trên đồ thị, thì
phải nội suy giữa các đường cong với giá trị S gần nhất. Giá trị trên
trục y đại diện cho xác suất ít nhất một lần tìm thấy mục tiêu. Sử dụng các đồ
thị tương tự, cũng có thể xác định được khoảng cách lưới yêu cầu để phát hiện
hình dạng của hình elip mục tiêu tại xác suất phát hiện đã được yêu cầu từ trước.
Trong trường hợp này, vẽ một đường vuông góc với trục y từ xác suất được yêu
cầu trước của một lần tìm thấy đường cong đại diện cho hình dạng elip yêu cầu
trước. Sau đó vẽ một đường vuông góc xuống trục x. Từ tỉ số a/G
tại điểm giao nhau với trục x, có thể xác định được khoảng cách lưới yêu cầu
nhỏ nhất. Tương tự vậy, cũng có thể xác định được kích thước điểm nóng nhỏ nhất
của một hình dạng với khoảng cách lưới đã biết và xác suất phát hiện bằng cách
tính a từ tỉ số a/G và khoảng cách lưới G. Ngoài ra,
có thể sử dụng chương trình máy tính ELIPGRID-PC.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Hình 3 - Đồ thị mối tương quan giữa
xác suất phát hiện một điểm nóng đơn lẻ với tỉ số a/G đối với hình dạng được lựa chọn (b/a)
sử dụng mạng lưới hình vuông có khoảng cách lưới G

Hình 4 - Đồ thị mối tương quan giữa
xác suất phát hiện một điểm nóng đơn lẻ với tỉ số a/G đối với hình dạng được lựa chọn (b/a)
sử dụng mạng lưới hình tam giác có khoảng cách lưới G
8. So sánh hiệu quả tương đối của
các cách thức tìm kiếm
8.1. Hiệu quả của một mô hình tìm kiếm là xác suất mà một mục tiêu (ví dụ:
điểm nóng) sẽ được tìm thấy ít nhất một lần. Với cùng mật độ lấy mẫu, cách thức
lấy mẫu, có xác suất tìm thấy cùng một mục tiêu cao hơn sẽ hiệu quả hơn cách
thức lấy mẫu có xác suất tìm thấy thấp hơn. Hiệu quả tương đối, RE, của
một cách thức lấy mẫu khác hơn khi tìm kiếm một mục tiêu được đo như là phần
trăm khác biệt trong hiệu quả của mật độ tương đương của hai mô hình lấy mẫu.
Ví dụ: RE = 100% (PTRI - PSQR)/PSQR
trong đó PTRI và PSQR là xác suất phát hiện
mục tiêu với mạng lưới hình tam giác đều và mạng lưới hình vuông. Bằng việc mở
rộng, với cùng xác suất phát hiện mục tiêu, một mô hình lấy mẫu hiệu quả hơn sẽ
yêu cầu ít lỗ khoan hơn, và do đó sẽ kinh tế hơn. Trong trường hợp này, hiệu
quả tương đối khi tìm thấy được định hướng ngẫu nhiên (nghĩa là không rõ định
hướng) và các mục tiêu hình elip có định hướng với kích thước và hình dạng đã
định trước được so sánh với nhau sử dụng các cách thức lấy mẫu khác nhau với
mật độ lấy mẫu tương đương.
8.2. Các mục tiêu hình elip có định hướng ngẫu nhiên
8.2.1. Mạng lưới hình vuông so với mạng lưới hình tam giác
đều, khi tiêu chí
phát hiện là một hoặc nhiều lần tìm thấy, mạng lưới hình tam giác đều hiệu quả
hơn lên đến 6 % so với mạng lưới hình vuông (đối với mục tiêu hình tròn với a/G
= 0,55) trong khi một mạng lưới hình vuông không bao giờ hiệu quả đạt trên 0,2 %[6].
Hiệu quả là như nhau cho các tỉ số a/G < 0,5 vì một mục tiêu
có thể tìm thấy không quá một lần. Đối với a/G > 0,5 và nếu
yêu cầu tiêu chí phát hiện là hai hoặc nhiều lần tìm thấy, thì mạng lưới hình
chữ nhật có hiệu quả tổng thể cao hơn so với mạng lưới hình tam giác đều.
8.2.2. Lưới-điểm so với ngẫu nhiên, khi tiêu chí phát hiện là một hoặc
nhiều lần tìm thấy, thì xác kỹ thuật lấy mẫu tìm kiếm lưới-điểm là hiệu quả hơn
so với các kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên để phát hiện các chất gây ô nhiễm dưới
bề mặt. Điều này có thể dễ dàng thể hiện bằng cách so sánh xác suất phát hiện
một điểm nóng sử dụng cách thức lấy mẫu mạng lưới với xác suất phát hiện điểm
nóng sử dụng cách thức lấy mẫu ngẫu nhiên (xem Phụ lục A). Khi yêu cầu tiêu chí
phát hiện là hai hoặc nhiều lần tìm thấy và a/G < 0,5, thì
việc tìm kiếm ngẫu nhiên lại hiệu quả hơn[6].
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
8.3.1. Mạng lưới hình vuông so với mạng lưới hình tam giác
đều: Khi yêu cầu
tiêu chí phát hiện là một hoặc nhiều lần tìm thấy, thì một mạng lưới hình tam
giác đều thông thường hiệu quả hơn khi góc định hướng gần bằng 30o,
90o, hoặc 150o trong khi đó một mạng lưới hình vuông hiệu
quả hơn khi góc định hướng là từ 25o đến 65o hoặc từ 115o
đến 155o. Từ 25o đến 35o, các hiệu quả là gần
như bằng nhau. Các định hướng này làm giảm thiểu xác suất tìm thấy cùng mục
tiêu nhiều hơn một lần mà sẽ tạo ra hiệu suất lấy mẫu kém hơn.
8.3.2. Mạng lưới hình thoi so với mạng lưới hình vuông và
hình tam giác đều: Hình
thoi là một hình bình hành có chiều dài các cạnh liền kề bằng nhau. Hình thoi
cũng có thể là hình vuông nếu các góc trong bằng 90o. Hai hình tam
giác đều có chung một cạnh sẽ thành hình thoi có các góc trong bằng 60o
và 120o. Nếu đã biết góc định hướng của một mục tiêu hình elip, thì
mô hình tìm kiếm hình thoi là tối ưu nếu đường chéo dài của hình thoi là song
song với trục dài của mục tiêu hình elip[7]. Bảng 1 đưa ra các thừa
số cần thiết để tính độ dài đường chéo của lưới hình thoi cho một xác suất kỳ
vọng phát hiện một mục tiêu hình elip có kích thước và hình dạng đã biết[8].
Đối với một xác suất phát hiện p đã cho, thì độ dài tối ưu đường chéo là
d1 = 2a.f1(p) và d2
= 2b.f2(p).
Bảng 1 - Các thừa số để tính độ dài
tối ưu đường chéo của mạng lưới hình thoi có các trục dài của mục tiêu hình
elip song song với đường chéo dài nhất của mạng lưới hình thoi
p
f1(p)
f2(p)
p
f1(p)
f2(p)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
7,37658
4,25888
0,55
2,22411
1,28490
0,10
5,21605
3,01148
0,60
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
1,22943
0,15
4,25888
2,45886
0,65
2,04590
1,18120
0,20
3,68828
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
0,70
1,97148
1,13823
0,25
3,29890
1,90462
0,75
1,90462
1,09964
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3,01148
1,73868
0,80
1,84415
1,06472
0,35
2,78810
1,60971
0,85
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
1,03292
0,40
2,60801
1,50574
0,90
1,73867
1,00382
0,45
2,45886
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
0,95
1,67320
0,96602
0,50
2,33267
1,34676
1,00
1,50000
0,86602
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
9. Tính toán số lỗ khoan và khoảng
cách mạng lưới với các chi phí quy định
9.1. Chi phí cho việc tiến hành tìm kiếm điểm nóng có thể được tách biệt giữa
chi phí lắp đặt, vận hành và tháo dỡ, CM, với chi phí từng lỗ
khoan và phòng thí nghiệm được liên kết hoặc phân tích hiện trường, CS,
nhân với số lỗ khoan, n. Tổng chi phí sẽ bằng CM + nCS.
Với một dự toán chi phí đã biết, CT, và ước tính cho CM
và CS, thì có thể xác định được số lỗ khoan cho một phạm vi
diện tích đã cho, AS. Đầu tiên, tính số lỗ khoan, n = CT
- CM/CS. Diện tích yêu cầu của một ô đơn
vị AC lúc đó sẽ bằng AS/n. Khoảng
cách lưới thích hợp G có thể được xác định từ công thức cho các loại ô
đơn vị khác nhau trong phần thuật ngữ. Sử dụng các công thức này, cho thấy rằng
đối với cùng mật độ lấy mẫu, khoảng cách lưới G cho một mạng lưới tam
giác đều lớn hơn mạng lưới hình vuông là một hệ số = 1,0746.
9.2. Ví dụ 2, nếu tìm kiếm một điểm nóng có dự toán chi phí $ 50000 với
chi phí lắp đặt, vận hành và tháo dỡ là $ 25000 và $ 1000 cho một lỗ khoan và
diện tích tìm kiếm là 10000 m2 (một hecta),
(1) số lượng tối đa các lỗ khoan có thể được khoan, và
(2) khoảng cách lưới yêu cầu cho mạng lưới hình vuông và
mạng lưới hình tam giác đều?
Số lượng mẫu n bằng $ 50000 - $ 25000/$ 1000 = 25.
Kích cỡ ô đơn vị AC sẽ là 10000 m2/25 = 400 m2.
Đối với mạng lưới hình vuông, khoảng cách lưới G bằng
= = 20 m. Đối với mạng lưới hình tam
giác đều, khoảng cách lưới G bằng = 21,49 m. Với G đã biết,
thì có thể sử dụng đồ thị để xác định xác suất phát hiện một điểm nóng với kích
thước a và hình dạng S đã định. Kiểm tra các giá trị AC
và S khác nhau sẽ biết mạng lưới hình tam giác đều là hiệu quả hơn so
với mạng lưới hình vuông đối với hầu hết các giá trị của a và S.
10. Xác suất phát hiện nhiều điểm
nóng
10.1. Xác suất phát hiện một điểm nóng có thể dễ dàng mở rộng cho hai hoặc
nhiều các điểm nóng nếu biết số lượng các điểm nóng, điều này được giả định
rằng mỗi điểm nóng có một xác suất phát hiện bằng nhau, và vị trí của các điểm
nóng là độc lập với nhau. Do xác suất phát hiện được giả định là độc lập và
bằng nhau, nên có thể lấy ưu điểm của xác suất phân bố nhị thức, b(x;n;P)
= (
)Px(1
- P)n-x cho được xác suất của x tìm thấy (nghĩa là lần
tìm thấy) trong n các lần thử độc lập (nghĩa là các mục tiêu) với xác
suất tìm thấy P. Đại lượng (
), số kết hợp của n điểm nóng
riêng biệt thực hiện x tại một thời điểm, là tương đương với n!/x!(n-x)!.
Sự ưu việt khi sử dụng công thức nhị phân là dễ dàng được xác định những xác
suất sau đây: (1) xác suất phát hiện chính xác x điểm nóng trong
tổng số n điểm nóng, (2) xác suất không phát hiện được điểm nóng
nào (nghĩa là P (không tìm thấy) = (1 - p)n),
và (3) xác suất phát hiện ít nhất một điểm nóng trong tổng số n
điểm nóng (đó là P (tìm thấy) = 1 - (1 - p)n).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
11. Ảnh hưởng của lấy mẫu tổ hợp và
của khoảng cách lấy mẫu đến sự phát hiện điểm nóng
11.1. Khi chi phí phân tích tương đối cao hơn so với chi phí lấy mẫu, thì mẫu
tổ hợp đất và chất thải là có thể có lợi thế hơn về mặt kinh tế. Nên sử dụng
cùng mô hình mạng lưới như đã được mô tả trước đây. Tuy nhiên, các mẫu đơn nên
được tổ hợp từ các vị trí khoan gần nhau. Trong lấy mẫu tổ hợp, các mẫu được tổ
hợp phải có cùng kích cỡ, hình dạng và định hướng. Nếu vật liệu đất hoặc chất thải
được phân theo chiều ngang, hoặc sẽ được lấy theo các lớp, thì việc tổ hợp các
tầng hoặc lớp đất tương tự có thể là thích hợp nhất. Trong trường hợp các chất
gây ô nhiễm quan tâm có áp suất hơi, có thể dẫn đến việc mất các chất gây ô
nhiễm nếu bị tiếp xúc với không khí, thì không nên tổ hợp các mẫu và phải tránh
thất thoát do bay hơi trong quá trình lấy mẫu và vận chuyển. Tham khảo thêm
ASTM D6051 về hướng dẫn lấy mẫu tổ hợp.
11.2. Nồng độ ngưỡng để phát hiện điểm nóng phải thấp hơn so với nồng độ
ngưỡng cho một mẫu tổ hợp căn cứ vào các nồng độ mẫu đơn lẻ (hợp phần) sẽ được
lấy trung bình số học. Theo cách tiếp cận bảo thủ nhất, nồng độ ngưỡng cho các
mẫu tổ hợp cần phải bằng nồng độ ngưỡng cho các mẫu đơn lẻ chia cho số mẫu được
tổ hợp.
PHỤ LỤC A
(Tham
khảo)
So sánh hiệu quả của mô hình tìm kiếm lưới-điểm với mô hình tìm kiếm
ngẫu nhiên để phát hiện các điểm nóng hình elip
A.1. Các câu hỏi thường đặt ra là liệu mô hình tìm kiếm ngẫu nhiên hay mô
hình lấy mẫu hệ thống là phương pháp hiệu quả nhất cho việc phát hiện các mục
tiêu. Phụ lục này chứng minh rằng khi chỉ yêu cầu tìm thấy cho việc phát hiện
một mục tiêu được định hướng ngẫu nhiên thì lấy mẫu hệ thống là hiệu quả hơn.
Đối với các mẫu thu được theo ngẫu nhiên trong diện tích tìm kiếm được xác định,
xác suất tìm thấy của một mục tiêu có thể được tính từ phân bố nhị thức sau:
P(r) = pr (1 - p)(n-r) (A.1)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
P(0) = p0 (1 - p)(n-0) (A.2)
P(0) = (1 - p)n
Trong đó P(0) là "rủi ro của người tiêu dùng" đối
với mô hình lấy mẫu ngẫu nhiên. Xác suất bổ sung của một hoặc nhiều tìm thấy
được tính như sau:
P(tìm thấy) = 1 - P(0) = 1 - (1 - p)n (A.3)
Khi p = AT/AS trong đó AT
là diện tích của mục tiêu, thì:
P(tìm thấy) = 1 - P(0) = 1 - (1 - AT/AS)n (A.4)
A.2. Dễ dàng thấy lấy mẫu ngẫu nhiên cho hiệu quả thấp hơn lấy mẫu mạng lưới
hình vuông thiết kế để phát hiện điểm nóng hình elip. Đối với mục tiêu hình
elip, tỉ số p của tổng diện tích tìm kiếm chiếm bởi một mục tiêu là:
P = = (A.5)
Trong đó pab là diện
tích của mục tiêu hình elip và AS là diện tích tìm kiếm, và a và b
theo thứ tự là nửa trục chính và nửa trục phụ của elip. Khi diện tích của mạng
lưới hình vuông (D2) bằng AS/n:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Vì hình dạng của elip S = b/a:
p =
S (A.7)
Thì có thể so sánh trực tiếp xác suất phát hiện một mục tiêu
hình elip sử dụng tìm kiếm ngẫu nhiên với tìm kiếm hệ thống với các giá trị
khác nhau của a, S và D.
A.2.1. Đối với mật độ lấy mẫu so sánh, như kích cỡ của mục tiêu hình tròn tăng
liên quan đến khoảng cách lưới, khả năng bỏ sót một mục tiêu giảm nhanh với mô
hình lấy mẫu dạng lưới hình vuông hơn với mô hình lấy mẫu ngẫu nhiên. Ngoài ra,
cùng mật độ lấy mẫu đã cho, thì khả năng bỏ sót một mục tiêu tăng lên với sự
tăng lên của kích thước của diện tích tìm kiếm.
A.2.2. Điều này được ghi nhận bởi Singer[6], tuy nhiên, nếu mong
muốn để phát hiện là hai hoặc nhiều hơn hai lần tìm thấy trên một mục tiêu đơn
lẻ, thì lấy mẫu ngẫu nhiên có thể hiệu quả hơn vì độ dài của các nửa trục chính
tăng tương quan với khoảng cách lưới.
THƯ MỤC TÀI
LIỆU THAM KHẢO
[1] Singer, D. A., and Wickman, F. E., "Probability
Tables for Locating Elliptical Targets with Square, Rectangular and Hexagonal
Pointnets", Special Bulletin 1-69, Mineral Sciences Experimental
Station, The Pennsylvania State University, 1969, p. 100.
[2] Singer, D. A., "Elipgrid, a FORTRAN IV Program for
Calculating the Probability of Success in Locating Elliptical Targets with
Square, Rectangular and Hexagonal Grids," Geocom Programs, Vol 4,
1972, pp. 1-16.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[4] Davidson, J. R., Jr., "ELIPGRID-PC: Hot Spot
Probability Calculations", Battelle/Pacific Northwest National Laboratory,
Richland, Washington, 1995 Available http://terrassa.pnl.gov:2080/DQO/software/elipgrid.html,
July 15, 1998.
[5] Davidson, J. R. "Monte Carlo Tests of the
ELIPGRID-PC Algorithm", ORNL/TM-12899, Oak Ridge National
Laboratory, Oak Ridge Tennessee, 1995.
[6] Singer, D. A., "Relative Efficiencies of Square and
Triangular Grids in the Search for Elliptically Shaped Resource Targets", J.
of Research, U.S. Geological Survey, Vol 3, No. 2, 1975, pp. 163-167.
[7] Drew, L. J., "Pattern Drilling Exploration: Optimum
Pattern Types and Hole Spacings When Searching for Elliptical Targets," Mathematical
Geology, Vol 11, No. 2, 1979, pp. 223-254.
[8] Mickey, M. R., Jr., and Jespersen, H. W., Jr.,
"Some Statistical Problems of Uranium Exploration, Final Technical
Report", RME-3105, United States Atomic Energy Commission,
September 8, 1954.