TIÊU CHUẨN QUỐC
GIA
TCVN
7303-2-33:2010
IEC
60601-2-33:2008
THIẾT
BỊ ĐIỆN Y TẾ - PHẦN 2-33: YÊU CẦU RIÊNG VỀ AN TOÀN CỦA THIẾT BỊ CỘNG HƯỞNG TỪ
DÙNG TRONG CHẨN ĐOÁN Y KHOA
Medical
electrical equipment - Part 2-33: Particular requirements for the safety of magnetic
resonance equipment for medical diagnosis
Lời nói đầu
TCVN 7303-2-33:2010 hoàn toàn
tương đương với IEC 60601-2-33:2008.
TCVN 7303-2-33:2010 do Viện
trang thiết bị và công trình y tế biên soạn, Bộ Y tế đề nghị, Tổng cục Tiêu chuẩn
Đo lường Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
Lời giới thiệu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tiêu chuẩn này đề cập đến các khía cạnh
kỹ thuật của hệ thống cộng hưởng từ dùng cho chẩn đoán y khoa và thiết bị cộng
hưởng từ trong hệ thống đó, liên quan đến an toàn của bệnh nhân được khám bằng
hệ thống này, an toàn của nhân viên cộng hưởng từ vận hành thiết bị và an toàn
của nhân viên cộng hưởng từ nghiên cứu, chế tạo, lắp đặt và vận hành hệ thống cộng
hưởng từ. Trong trường hợp có quy định các giới hạn về phơi nhiễm điện từ trường
(EMF) lên bệnh nhân và nhân viên cộng hưởng từ thì các giới hạn này không ngụ ý
là các mức phơi nhiễm như vậy có thể được coi là chấp nhận được đối với những
người lao động làm việc trong môi trường nghề nghiệp khác và đối với rộng rãi
công chúng. Các giới hạn này đưa ra một cân bằng nhạy cảm giữa rủi ro đòi hỏi bệnh
nhân và nhân viên cộng hưởng từ và lợi ích của bệnh nhân.
Trong tiêu chuẩn này, giới hạn phơi
nhiễm điện từ trường (EMF) yêu cầu đối với nhân viên cộng hưởng từ bằng với giới
hạn cho phép đối với bệnh nhân. Các mức phơi nhiễm cho phép đối với bệnh nhân
và người lao động là nhằm bảo vệ họ khỏi các ảnh hưởng tiêu cực tức thời và ảnh
hưởng lâu dài đến sức khỏe.
Các ảnh hưởng giác quan và ảnh hưởng
sinh lý chủ quan ngắn hạn chỉ có thể xảy ra đối với phơi nhiễm trường từ tĩnh, chúng
ảnh hưởng đến cơ thể của nhân viên cộng hưởng từ và chỉ trong khi khám hoặc
trong một thời gian ngắn sau khi phơi nhiễm.
Đối với phơi nhiễm với đầu ra gradien
và phơi nhiễm
trường truyền sóng radio (RF), thông thường không có các ảnh hưởng giác quan và
ảnh hưởng sinh lý ngắn hạn đến nhân viên cộng hưởng từ.
Ngoài ra, chưa có cơ sở lý thuyết và
thực tiễn nào được chấp nhận rộng rãi đối với các ảnh hưởng tích lũy về sinh học
của con người gây ra do phơi
nhiễm ở mức cho
phép.
Các khía cạnh về tổ chức liên quan đến
an toàn là trách nhiệm của người sử dụng. Trách nhiệm này gồm việc huấn luyện đầy
đủ nhân viên, quy tắc tiếp cận hệ thống MR, trình độ chuyên môn của nhân viên đối
với những quyết định liên quan đến an toàn, việc xác định trách nhiệm y tế và
các yêu cầu cụ thể đối với những người có trách nhiệm khi bệnh nhân đang ở trong hoặc gần
hệ thống MR.
Ví dụ các khía cạnh về tổ chức gồm:
- vận hành theo phương thức có điều
khiển ban đầu;
- quy trình cấp cứu để hồi tỉnh bệnh
nhân đang ở trong hệ thống
MR;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- bố trí và duy trì giao thức che chắn
bệnh nhân đối với việc phản chỉ định hoặc đối với các điều kiện có thể ảnh hưởng
đến việc phơi nhiễm có thể chấp nhận được;
- quy tắc theo dõi thường quy và giám
sát y tế của bệnh nhân trong quá trình khám;
- quy tắc để giảm thiểu và giới hạn
phơi nhiễm cho nhân viên cộng hưởng từ.
Thuyết minh mở rộng được
cung cấp trong Phụ lục BB đối với một số định nghĩa và yêu cầu để cung cấp cho
người sử dụng tiêu chuẩn này có thể tiếp cận hoàn toàn với nguồn tài liệu được
sử dụng để hỗ trợ các xem xét trong khi xây dựng dự thảo.
Mối quan hệ giữa tiêu chuẩn riêng này
với tiêu chuẩn TCVN 7303-1 (IEC 60601-1) và tiêu chuẩn phụ trợ được giải trình
trong 1.3.
Sửa đổi 2 của TCVN 7303-2-33 (IEC
60601-2-33) đề cập đến các khía cạnh kỹ thuật của hệ thống MR dùng cho chẩn
đoán y khoa và thiết bị đó, liên quan đến an toàn của bệnh nhân được khám bằng
thiết bị này, an toàn của nhân viên vận hành thiết bị cũng như nhân viên nghiên
cứu, chế tạo, lắp đặt thiết bị cộng hưởng từ. Khía cạnh mới được đưa vào trong
lần sửa đổi 2 là đề cập đến thực tế là ở một số nước, phơi nhiễm trường điện từ (EMF)
của người lao động đang hoặc sẽ được giới hạn theo luật.
THIẾT BỊ ĐIỆN
Y TẾ - PHẦN 2-33: YÊU CẦU RIÊNG VỀ AN TOÀN CỦA THIẾT BỊ CỘNG HƯỞNG TỪ DÙNG
TRONG CHẨN ĐOÁN Y KHOA
Medical
electrical equipment - Part 2-33: Particular
requirements for the safety of magnetic
resonance equipment for medical diagnosis
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Áp dụng các điều trong mục này của
Tiêu chuẩn chung, ngoài ra còn:
1. Phạm vi và mục
đích áp dụng
Áp dụng các điều này của Tiêu chuẩn
chung, ngoài ra còn:
1.1. Phạm vi áp dụng
Bổ sung:
Tiêu chuẩn này áp dụng cho thiết bị cộng
hưởng từ được định nghĩa trong 2.2.101 và hệ thống MR được định nghĩa trong
2.2.102.
Tiêu chuẩn này không đề cập đến ứng dụng
của thiết bị cộng hưởng từ ngoài sử dụng dự kiến.
1.2. Mục đích
Thay thế:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CHÚ THÍCH Tiêu chuẩn này giả thiết rằng
nhân viên cộng hưởng từ được che chắn thích hợp, được huấn luyện và hướng dẫn đầy
đủ về trách nhiệm của họ.
Tiêu chuẩn này cũng thiết lập các yêu
cầu để cung cấp thông tin cho người vận hành, các nhân viên liên quan đến thiết
bị cộng hưởng từ và cộng đồng.
Tiêu chuẩn này cũng đưa ra các phương
pháp để chứng tỏ sự phù hợp với
các yêu cầu này.
1.3. Tiêu chuẩn riêng
Bổ sung:
Tiêu chuẩn này sửa đổi và bổ sung thêm
cho bộ tiêu chuẩn TCVN (IEC), bao gồm:
TCVN 7303-1:2003 (IEC 60601-1:1988)1)
Thiết bị điện y tế - Phần 1: Yêu cầu chung về an toàn, sửa đổi 1 (1991) và sửa
đổi 2 (1995)
IEC 60601-1-1:2000 Medical
electrical equipment - Part 1-1: General requirements for safety -
Collateral standard:
Safety requirements for medical electrical systems (Thiết bị điện y tế - Phần
1-1:
Tiêu
chuẩn chung về an toàn - Tiêu chuẩn kết hợp:
Yêu cầu về an toàn đối với hệ thống điện y tế).
IEC 60601-1-4:1996 Medical
electrical equipment - Part 1-4: General requirements for safety -
Collateral standard:
Programmable medical electrical systems (Thiết bị điện y tế - Phần 1-1: Tiêu chuẩn
chung về an toàn - Tiêu chuẩn kết hợp: Hệ
thống điện y tế có thể lập trình được).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Thuật ngữ “tiêu chuẩn này” trong suốt
tiêu chuẩn riêng này được sử dụng cùng với Tiêu chuẩn chung và Tiêu chuẩn kết hợp.
Việc đánh số mục, điều của tiêu chuẩn
riêng này phù hợp với Tiêu chuẩn chung. Những thay đổi về nội dung của Tiêu chuẩn
chung được quy định bằng cách sử dụng những từ sau:
“Thay thế” nghĩa là các điều của Tiêu
chuẩn chung bị thay thế hoàn toàn bằng nội dung của tiêu chuẩn riêng này.
“Bổ sung” nghĩa là nội dung của
tiêu chuẩn riêng này được thêm vào yêu cầu của Tiêu chuẩn chung.
“Sửa đổi” nghĩa là các điều trong Tiêu
chuẩn chung được sửa đổi như chỉ dẫn bằng nội dung của tiêu chuẩn riêng này.
Các điều và hình vẽ được thêm vào các
điều và hình vẽ của Tiêu chuẩn chung được đánh số bằng đầu từ 101, phụ lục bổ
sung được ghi bằng chữ AA, BB, ... và các khoản bổ sung được ghi bằng chữ aa),
bb),...
Các điều có giải thích lý do được đánh
dấu bằng một dấu sao (*). Những giải thích này được trình bày ở Phụ lục BB. Phụ
lục BB không phải là phần nội dung chính của tiêu chuẩn riêng mà chỉ đưa thông
tin thêm; nó không phải là đối tượng của thử nghiệm.
Phải áp dụng mà không sửa đổi các mục,
điều của Tiêu chuẩn chung hoặc Tiêu chuẩn kết hợp khi không có các mục, điều
tương ứng ở tiêu chuẩn
này.
Không áp dụng bất kỳ phần nào của Tiêu
chuẩn chung hoặc Tiêu chuẩn kết hợp, cho dù có liên quan, khi nội dung của điều
đó được nêu ra trong tiêu chuẩn này.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
2. Thuật ngữ và định
nghĩa
Áp dụng điều này của Tiêu chuẩn chung,
ngoài ra còn:
Định nghĩa bổ sung:
2.2. Kiểu thiết bị (phân loại)
2.2.101. Thiết bị cộng
hưởng từ (Thiết bị
MR) (magnetic
resonance equipment)
Thiết bị điện y tế nhằm thực hiện các
khám cộng hưởng từ trên bệnh nhân. Thiết bị cộng hưởng từ gồm tất cả các bộ phận
phần cứng và phần mềm từ nguồn điện cung cấp đến màn hình hiển thị. Thiết bị cộng
hưởng từ là hệ thống điện y tế có thể lập trình được (PEMS).
2.2.102. Hệ thống cộng
hưởng từ (Hệ thống
MR)
(magnetic resonance system)
Toàn bộ thiết bị cộng hưởng từ, phụ kiện
gồm các phương tiện để hiển thị, điều khiển, nguồn, và khu vực tiếp cận có điều
khiển, nếu có.
2.2.103. Thiết bị cộng
hưởng từ toàn thân (Thiết bị MR toàn thân) (whole body
magnetic resonance equipment)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
2.2.104. Nam châm toàn
thân
(whole body magnet)
Nam châm thích hợp để sử dụng trong
thiết bị cộng hưởng từ toàn bộ cơ thể.
2.2.105. Nam châm trường
ngang
(transverse field magnet)
Nam châm có trường vuông góc với hướng
trục dọc của bệnh nhân.
2.2.106. Hệ thống
chênh từ toàn thân (whole body gradient system)
Hệ thống chênh từ thích hợp để sử
dụng trong thiết bị cộng hưởng từ toàn bộ cơ thể.
2.2.107. Hệ thống
chênh từ mục đích đặc biệt (special purpose gradient system)
Hệ thống chênh từ thích hợp để sử dụng
trong thiết bị cộng hưởng từ đối với mục đích đặc biệt.
Ví dụ về hệ thống chênh từ mục đích đặc
biệt là hệ thống chênh từ có thể tích hợp trong thiết bị cộng hưởng từ cho phép
khám đặc biệt đầu của bệnh nhân.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tất cả các cuộn dây gradient và bộ khuếch
đại cùng tạo ra trường từ gradient dọc theo một trong các trục tọa độ của thiết
bị cộng hưởng từ.
2.2.109. Cuộn chênh từ
sóng radio (RF) thể tích (volume RF gradient coil)
Cuộn chênh từ sóng radio (RF) thích hợp
để sử dụng trong thiết bị cộng hưởng từ để tạo ra trường RF đồng nhất trên toàn
bộ không gian mở rộng tạo ra bởi cuộn dây. Cuộn chênh từ sóng radio (RF) không
gian có thể là cuộn chênh từ sóng radio (RF) toàn thân, cuộn chênh từ sóng
radio (RF) qua đầu hoặc cuộn chênh từ sóng radio (RF) được thiết kế để phơi nhiễm
đồng nhất một phần nhất định của cơ thể. Cuộn dây một vòng bao quanh cơ thể hoặc
một bộ phận của cơ thể được coi là cuộn chênh từ sóng radio (RF) thể tích (ví dụ
cuộn dây một vòng qua cổ tay).
2.2.110. Cuộn chênh từ
sóng radio (RF) toàn thân (whole body RF gradient coil)
Cuộn chênh từ sóng radio (RF) không
gian có kích thước đủ để khám toàn bộ cơ thể của bệnh nhân là người trưởng
thành.
2.2.111. Cuộn chênh từ
sóng radio (RF) cho đầu (head RF gradient coil)
Cuộn chênh từ sóng radio (RF) thể tích
thích hợp để sử dụng trong thiết bị cộng hưởng từ để khám MR của
đầu bệnh nhân.
2.2.112. Cuộn chênh từ
sóng radio (RF) cục bộ (local RF gradient coil)
Cuộn chênh từ sóng radio (RF) không phải
cuộn chênh từ sóng radio (RF) thể tích. Cuộn chênh từ sóng radio (RF) cục bộ có
thể là cuộn chênh từ dùng cho phổ học.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
2.10.101. Chế độ vận hành bình thường (normal
operating mode)
Chế độ vận hành của thiết bị cộng hưởng
từ trong đó không có đầu ra nào có giá trị có thể gây sự căng thẳng về
sinh lý cho bệnh nhân.
2.10.102. Chế độ vận hành có điều
khiển mức một (first level
controlled operating mode)
Chế độ vận hành của thiết bị cộng hưởng
từ trong đó một hoặc nhiều đầu ra đạt đến giá trị có thể gây sự căng thẳng về
sinh lý lên bệnh nhân mà cần điều khiển bởi nhân viên giám sát về y tế.
2.10.103. Chế độ vận
hành có điều khiển mức hai (second level controlled operating mode)
Chế độ vận hành của thiết bị cộng hưởng
từ trong đó một
hoặc nhiều đầu ra đạt đến giá trị có thể sinh ra rủi ro đáng kể cho bệnh nhân,
đã được chấp thuận dứt khoát về đạo đức (nghĩa là một giao thức nghiên cứu về
con người đã được chấp thuận cho các yêu cầu cục bộ).
*2.10.104. Việc thăm
khám bằng cộng hưởng từ (Khám MR) (magnetic resonance
examination)
Quá trình lấy dữ liệu của bệnh nhân bằng
cộng hưởng từ.
2.11. An toàn cơ học
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Vùng mà khi tiếp cận bị kiểm soát vì
lý do an toàn.
2.11.102. Khối ngắt nguồn
từ trường khẩn cấp (emergency field shut down unit)
Thiết bị dùng để ngừng việc cấp nguồn
cho nam châm siêu dẫn hoặc nam châm thuần trở trong tình huống khẩn cấp.
2.11.103. Hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench)
Sự chuyển đổi độ dẫn điện của cuộn dây
mang dòng từ trạng thái siêu dẫn sang độ dẫn điện bình thường, dẫn đến việc hóa
khí nhanh của hỗn hợp lạnh dạng lỏng và suy giảm trường từ.
2.12. Các thuật ngữ và định nghĩa khác
*2.12.101. Cộng hưởng từ (MR) (magnetic
resonance)
Việc hấp thu năng lượng điện
từ cộng hưởng bởi các nguyên
tử nằm trong từ trường.
2.12.102. Theo dõi thường
quy
(routine monitoring)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
*2.12.103. Giám sát y tế (medical
supervision)
Chăm sóc đầy đủ về y tế đối với bệnh
nhân có thể gặp rủi ro do bị phơi nhiễm từ thiết bị cộng hưởng từ, hoặc có thể
do điều kiện y tế của bệnh nhân, hoặc do các mức phơi nhiễm hoặc do cả hai.
*2.12.104. Không gian
phù hợp (compliance
volume)
Vùng không gian tiếp cận bệnh nhân
trong đó xem xét sự phù hợp của đầu ra gradient.
Trong thiết bị cộng hưởng từ có nam
châm toàn bộ cơ thể là hình trụ thì
không gian phù hợp là hình trụ có trục trùng với trục nam châm và có bán kính
0,20 m.
Trong thiết bị cộng hưởng từ có nam
châm trường ngang và hệ thống chênh từ toàn bộ cơ thể, không gian phù hợp là
không gian được ràng buộc bởi các mặt phẳng song song với các cực của nam châm
và được phân cách bởi khoảng cách là kích thước lớn nhất của không gian tiếp cận
giữa các cực của nam châm hoặc khoảng cách bằng 0,40 m, chọn giá trị nhỏ hơn.
Trong tất cả các thiết bị cộng hưởng từ
khác, không gian phù hợp là không gian có thể chứa được bộ phận bất kỳ của bệnh
nhân theo mục đích sử dụng dự kiến của thiết bị cộng hưởng từ.
2.12.105. Tốc độ xoay
gradient lớn nhất (maximum gradient slew rate)
Tốc độ thay đổi gradient đạt được bằng
cách chuyển mạch khối gradient giữa các độ lớn gradient lớn nhất quy định của
chúng G+max và G-max trong khoảng thời gian ngắn nhất có
thể đạt được ở các điều kiện
khám cộng hưởng từ bình thường.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Cuộn dây có đường kính nhỏ được sử dụng
trong phép thử sự phù hợp để đo đầu ra gradient.
2.12.107. Nhân viên cộng
hưởng từ
(MR worker)
Người có nhiệm vụ phải vào khu vực tiếp
cận có điều khiển hoặc khu vực tương đương của hệ thống cộng hưởng từ.
CHÚ THÍCH Những người khác ví dụ như người
tình nguyện MR và người chăm sóc bệnh nhân không thuộc định nghĩa này, tuy
nhiên định nghĩa này có đề cập đến người vận hành và nhân viên (xem
phần giải thích).
2.101. Đầu ra
*2.101.1. Tốc độ hấp thụ riêng (specific absorbtion
rate)
SAR
Năng lượng tần số radio bị hấp thụ bởi
một đơn vị khối lượng của đối tượng (W/kg).
2.101.2. SAR toàn thân (whole body
SAR)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
2.101.3. SAR một phần
cơ thể
(partial body SAR)
SAR được lấy trung bình trên khối lượng
cơ thể bệnh nhân bị phơi nhiễm trong cuộn chênh từ sóng radio (RF) không gian
và trong thời gian quy định.
2.101.4. SAR đầu (head SAR)
SAR được lấy trung bình trên khối
lượng của đầu bệnh nhân và trong thời gian quy định.
2.101.5. SAR cục bộ (local SAR)
SAR được lấy trung bình trên khối lượng
10 g mô bất kỳ của cơ thể bệnh nhân và trong thời gian quy định.
2.101.6. Tốc độ thay đổi
trường từ theo thời gian (dB/dt) (time rate of change of the magnetic field)
Tốc độ thay đổi cường độ dòng từ theo
thời gian (T/s).
2.101.7. Đầu ra
gradient
(gradient output)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
2.101.8. Thời gian
kích thích hiệu quả (effective stimulus duration)
ts,eff
Thời gian của một giai đoạn tăng hoặc
giảm đơn điệu bất kỳ của gradient, được sử dụng để mô tả các giới hạn của
gradient khi kích thích tim hoặc nơ ron ngoại vi. Thời gian này được định nghĩa
là tỷ số giữa sự biến đổi trường đỉnh và giá trị lớn nhất của đạo hàm theo thời
gian của gradient trong giai đoạn đó.

Hình a
G
gradient trường từ
Gmax
giá trị lớn nhất của
gradient
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
dB/dt
tốc độ thay đổi trường từ theo thời
gian
(dB/dt)max
giá trị lớn nhất của tốc độ thay đổi
trường từ theo thời gian
ts,eff
thời gian kích thích hiệu quả
Hình a thể hiện ba giai đoạn thay đổi
đều của gradient G. Hình b thể hiện đầu ra dB/dt tương ứng và thời gian kích
thích hiệu quả ts,eff.
Hình 101 - Dạng
sóng gradient và thời gian kích thích hiệu quả
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ký hiệu
Đơn vị SI
Định nghĩa
B0
T
Trường từ tĩnh
B1
T
Cảm ứng từ của trường từ tần số
radio
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
T/s
Tốc độ thay đổi trường từ theo thời
gian (dB/dt)
E
V/m
Trường điện cảm ứng do chuyển mạch
gradient
G
T/m
Gradient trường từ
L01
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Giới hạn đầu ra gradient trong chế độ
vận hành bình thường
L12
V/m hoặc T/s
Giới hạn đầu ra gradient trong chế độ
vận hành có điều khiển mức thứ nhất
O
tùy từng trường hợp
Đầu ra gradient
Oi
tùy từng trường hợp
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
rb
V/m hoặc T/s
Ngưỡng
SAR
W/kg
Tốc độ hấp thụ riêng (SAR)
ts,eff
ms
Thời gian kích thích hiệu quả
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
min
Thời gian trung bình để xác định SAR
T
°C
Nhiệt độ
Wi
không có đơn vị
Hệ số trọng lượng trên khối gradient
thể hiện quan hệ giữa đầu ra gradient của khối đó tới giới hạn
3. Quy định chung
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.1. Bổ sung:
Thiết bị cộng hưởng từ không được gây
ra nguy hiểm không thể chấp nhận được liên quan đến an toàn cho bệnh nhân, người
vận hành, nhân viên và dân cư.
Sự phù hợp được coi là đáp ứng khi thiết
bị cộng hưởng từ đáp ứng các yêu cầu liên quan của tiêu chuẩn này.
Các khía cạnh an toàn chung của hệ thống
điện y tế được đề cập trong IEC 60601-1-1.
Sự phù hợp với IEC 60601-1-4 yêu cầu
nhận biết các nguy hiểm, đánh giá rủi ro của chúng, thực hiện khám thích hợp và
xác nhận hiệu lực của các cơ cấu điều khiển rủi ro. Việc chứng tỏ sự phù hợp với
các yêu cầu của tiêu chuẩn này phải là một phần của các quá trình trên và được
nhà chế tạo lưu giữ.
Tất cả các phép thử phải gồm, đầy đủ
chi tiết để có thể lặp lại phép thử một cách chính xác, giao thức thử, tất cả các dữ liệu
đầu vào và kết quả đạt được.
6. Nhận biết, ghi
nhãn và tài liệu
Áp dụng điều này của Tiêu chuẩn chung,
ngoài ra còn:
*6.8. Tài liệu kèm theo
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bổ sung:
Các tài liệu kèm theo cần cung cấp đầy
đủ thông tin để người sử dụng tuân thủ được các quy chuẩn và yêu cầu của quốc
gia về các giới hạn phơi nhiễm thích hợp cho người vận hành, nhân viên liên
quan đến trang thiết bị và cho công chúng.
*6.8.2. Hướng dẫn sử dụng
Bổ sung:
*aa) Bảo vệ trước cho bệnh nhân và nhân
viên cộng hưởng từ
Hướng dẫn sử dụng phải cung cấp khuyến
cáo rõ ràng cho người sử dụng liên quan đến việc che chắn trước cho bệnh nhân
và nhân viên cộng hưởng từ. Điều này được đặc biệt áp dụng cho bệnh nhân và
nhân viên cộng hưởng từ có thể gặp rủi ro do những hoạt động nghề nghiệp, lịch
sử y tế trước kia, tình trạng y tế hiện hành và/hoặc môi trường vật lý của thiết
bị cộng hưởng từ. Các hướng dẫn này phải nêu sự cần thiết của chương trình che
chắn trước để nhận biết được những bệnh nhân và nhân viên cộng hưởng từ nào có
thể gặp rủi ro, và phải cung cấp khuyến cáo để bảo vệ các bệnh nhân và nhân
viên cộng hưởng từ này khỏi bị thương. Đối với nhân viên cộng hưởng từ, phải
xem xét những rủi ro do hoạt động chuyên môn trong quá khứ có thể gây ra việc cấy
ghép ngẫu nhiên các vật liệu sắt từ dưới da.
Phải đề cập đến các loại bệnh nhân cụ
thể dưới đây:
- loại bệnh nhân được coi là cấm thực hiện
các khám MR;
- loại bệnh nhân có nhu cầu xử lý khẩn
cấp về y tế cao hơn bình thường, không phụ thuộc vào môi trường vật lý của thiết
bị cộng hưởng từ;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
*bb) Giám sát y tế đối với bệnh nhân
Hướng dẫn sử dụng phải cung cấp các
khuyến cáo rõ ràng
cho người sử dụng để thiết
lập chương trình giám sát
thích hợp theo các loại bệnh nhân mô tả trong 6.8.2 aa) và theo các chế độ vận
hành có điều khiển của thiết bị cộng hưởng từ như định nghĩa trong 2.10 (xem
thêm phần giải thích cho 2.12.103).
Hướng dẫn sử dụng phải:
- có khuyến cáo là tất cả các bệnh nhân tối thiểu
phải được theo dõi thường quy;
- nếu thiết bị cộng hưởng từ có khả
năng vận hành trong chế độ vận hành có điều khiển mức một: phải đưa ra khuyến
cáo rằng các quy trình phải được thiết lập để đảm bảo giám sát về y tế được
cung cấp khi vào khu vực vận hành có điều khiển mức một;
- nếu thiết bị cộng hưởng từ có chế độ
vận hành có điều khiển mức hai thì phải có thông báo rằng vận hành trong chế độ vận
hành có điều khiển mức hai yêu cầu phê chuẩn giao thức nghiên cứu con người
theo các yêu cầu cục bộ (ví dụ ban đạo đức, bảng xem xét khảo sát...).
Ngoài ra, phải công bố rằng phê chuẩn
địa phương cần quy định cụ thể các giới hạn đối với đầu ra gradient, SAR và cường
độ trường tĩnh.
*cc) Quy trình y tế khẩn cấp
Hướng dẫn sử dụng phải cung cấp khuyến
cáo rõ ràng cho người sử dụng để xác định và thực hiện các quy trình y tế khẩn
cấp cụ thể áp dụng cho bệnh nhân và tính đến sự tồn tại của trường từ, để nếu
trong quá trình khám MR, bệnh nhân cảm thấy ốm hoặc đau bởi các nguyên nhân bên
ngoài thì có thể đưa ra ngay các xử lý y tế sớm nhất có thể.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
*dd) Bệnh nhân và nhân viên cộng hưởng
từ chịu tiếng ồn quá mức
Đối với các thiết bị cộng hưởng từ có
khả năng gây ra tiếng ồn lớn hơn mức áp suất âm thanh hiệu dụng trọng số A
(LAeq, 1 h) là
99
dB(A) thì hướng dẫn sử dụng phải
- quy định rằng mức áp suất âm thanh
hiệu dụng trọng số A phải được đo theo 26 e) và 26 g);
- quy định rằng phải sử dụng dụng cụ bảo
vệ thính giác đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và dụng cụ bảo vệ thính giác này phải
đủ để giảm mức áp suất âm thanh hiệu dụng trọng số A xuống thấp hơn 99 dB(A);
- quy định rằng người vận hành phải đặc
biệt chú ý và được huấn luyện đặc biệt để định vị đúng dụng cụ bảo vệ thính
giác, đặc biệt khi không thể sử dụng miếng đệm tai tiêu chuẩn, hoặc không thể sử
dụng dụng cụ bảo vệ như đối với trẻ sơ sinh và trẻ đẻ non;
- chú ý đến cảnh báo rằng do lo lắng
tăng lên nên các mức áp suất âm thanh được chấp nhận có thể vẫn cần quan tâm đối
với phụ nữ có thai và bào thai, trẻ mới sinh, trẻ con và nhi đồng và những đứa
trẻ lớn hơn;
- quy định rõ ràng mức âm thanh tại bảng
điều khiển để an toàn cho người vận hành và nhân viên;
- chú ý đến khả năng bệnh nhân đã gây
mê có thể có khả năng bảo vệ chống lại áp suất âm thanh cao thấp hơn bình thường,
vì thế không được bỏ dụng cụ bảo vệ tai đối với những bệnh nhân này ngay cả ở những mức âm
thanh vừa phải;
- chú ý đến thực tế là ở một số nước
có thể có những quy định pháp luật liên quan đến giới hạn tiếng ồn mà nhân viên
cộng hưởng từ phải chịu;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- quy định rằng trong quá
trình khám cộng hưởng từ đối với những công việc thực hiện trong khu vực tiếp cận
có điều khiển, nhân viên cộng hưởng từ phải mang đầy đủ dụng cụ bảo vệ thính
giác phù hợp với các quy tắc bảo vệ người lao động khỏi tiếng ồn.
*ee) Khu vực tiếp cận có điều khiển
Khi thiết bị cộng hưởng từ được yêu cầu
lắp đặt trong khu vực tiếp cận có điều khiển (xem 6.8.3 aa) và 36.101)
thì hướng dẫn sử dụng phải
- quy định rõ ràng rằng người sử dụng
phải có trách nhiệm tuân thủ các yêu cầu luật pháp liên quan đến việc tiếp cận
vào khu vực tiếp cận có điều khiển;
- quy định kích thước và hình dạng của
khu vực tiếp cận có điều khiển, ưu tiên sử dụng hình vẽ minh họa;
- nêu sự cần thiết phải thiết lập đầy
đủ các quy tắc để điều khiển tiếp cận vào khu vực tiếp cận có điều khiển về mặt
rủi ro tiềm ẩn cho bệnh nhân và nhân viên trong khu vực tiếp cận có điều khiển
khỏi lực hút của các vật có chứa sắt hoặc các vật liệu từ hóa hoặc khỏi mô men
trên các vật liệu kim loại như vậy và rủi ro tiềm ẩn cho người không chủ ý đi
vào khu vực mà có thể bị ảnh hưởng bởi sự hoạt động khác thường có thể có của
thiết bị y tế cấy trong cơ thể họ ví dụ như máy trợ tim;
CHÚ THÍCH Đối với các cường độ trường
từ nhỏ hơn 0,5 mT, không yêu cầu cơ cấu điều khiển.
- liệt kê thiết bị và dụng cụ được nhà
chế tạo quy định hoặc khuyến cáo để sử dụng trong khu vực tiếp cận có điều khiển.
Đối với tất cả các thiết bị, phụ kiện hoặc dụng cụ đã liệt kê, bản mô tả cần
đưa ra các biện pháp đặc biệt cần thiết, nếu có, về việc lắp đặt cũng như các
biện pháp phòng ngừa đặc biệt để sử dụng;
- quy định rõ ràng rằng thiết bị ngoại
vi, gồm thiết bị giám sát bệnh nhân, thiết bị hỗ trợ sự sống và thiết bị chăm
sóc khẩn cấp mà có thể được quy định hoặc khuyến cáo sử dụng trong khu vực đặc biệt
có thể bị ảnh hưởng bởi trường tần số radio hoặc trường từ của thiết bị cộng hưởng từ
và thiết bị ngoại vi này cũng có thể ảnh hưởng đến hoạt động của thiết bị cộng
hưởng từ.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đối với thiết bị cộng hưởng từ có
trang bị nam châm siêu dẫn, để ngăn ngừa tai biến và hóa khí toàn bộ heli lỏng
(quench) thì hướng dẫn sử dụng phải:
- yêu cầu phải có dự phòng đủ để cấp hỗn
hợp lạnh dạng lỏng;
- khuyến cáo rằng việc đổ thêm hỗn hợp
lạnh chỉ được thực hiện bởi những người có kinh nghiệm và được huấn luyện;
- cung cấp thông tin về bảo trì và
khám nam châm kể cả các mức hỗn hợp lạnh dạng lỏng;
- cung cấp thông tin về các mức hỗn hợp
lạnh tối thiểu yêu cầu đối với vận hành bình thường;
- yêu cầu người sử dụng phải
kiểm tra thường xuyên các mức hỗn hợp lạnh;
- đưa ra các thông tin rõ ràng về các
nguy hiểm tiềm ẩn của việc sử dụng hỗn hợp lạnh dạng lỏng cũng như thông tin về
việc vận hành đúng chất lỏng này. Các thông tin này bao gồm:
· mặc quần áo bảo vệ để tránh bị tê cóng;
· các quy trình cần thực hiện sau khi xả khí;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
· sử dụng bình chứa không từ tính để cung cấp
hỗn hợp lạnh;
· các quy trình cần tuân thủ nếu phát hiện thấy
có các vật liệu dễ cháy gần bình chứa hỗn hợp lạnh.
CHÚ THÍCH Oxy dạng lỏng có thể tích tụ
hoặc nồng độ oxy dạng khí có thể cao ở khu vực gần hỗn hợp lạnh.
*gg) Chế độ vận hành
Hướng dẫn sử dụng phải cung cấp thông tin
liên quan đến ý nghĩa và cơ sở của từng chế độ vận hành: chế độ vận hành bình thường, chế
độ vận hành có điều khiển mức một, chế độ vận hành có điều khiển mức hai như
xác định trong 51.101. Hướng dẫn sử dụng cũng phải đưa ra giải thích rằng đầu
ra gradient và các mức SAR đối với bệnh nhân được dựa trên cơ sở khoa học hiện
hành liên quan đến an toàn, và mức phơi nhiễm, quyết định dừng chế độ vận hành
bình thường và sự cần thiết phải có theo dõi sinh lý của bệnh nhân phải có đánh
giá về y tế liên quan đến rủi ro tiềm ẩn của bệnh nhân so với lợi ích đạt được.
Hướng dẫn sử dụng phải giải thích rõ
ràng các yêu cầu của từng chế độ vận hành:
- Đối với thiết bị cộng hưởng từ vận
hành ở chế độ bình thường, không yêu cầu chỉ thị hoặc biện pháp hiển thị cụ thể
nào mà chỉ khuyến cáo có theo dõi thường quy.
- Đối với thiết bị cộng hưởng từ có khả
năng vận hành ở chế độ vận hành có điều khiển mức một, phải mô tả đặc tính của
thiết bị cộng hưởng từ liên quan đến chỉ thị cần hiển thị trước khi vào chế độ
này và hành động thận trọng khi vào chế độ này, như yêu cầu trong 51.101.3.
Giám sát y tế phải được khuyến cáo như yêu cầu trong 6.8.2 bb).
- Đối với thiết bị cộng hưởng từ có khả
năng vận hành ở chế độ vận
hành có điều khiển mức hai, phải cung cấp các biện pháp bảo đảm an toàn
cụ thể như yêu cầu trong 51.101.4 để ngăn vận hành không được phép trong chế độ vận
hành có điều khiển mức hai. Vận hành trong chế độ vận hành có điều khiển mức
hai chỉ được phép
theo giao thức nghiên cứu về con người được chấp nhận theo các yêu cầu của địa
phương như yêu cầu trong 6.8.2 bb).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
*hh) Bệnh nhân và nhân viên cộng hưởng
từ bị phơi nhiễm trong trường từ tĩnh
Đối với thiết bị cộng hưởng từ có khả
năng vận hành trong chế độ vận hành có điều khiển mức một hoặc chế độ vận
hành có điều khiển mức hai đối với trường từ tĩnh thì hướng dẫn sử
dụng phải:
- giải thích các ảnh hưởng có thể có
mà bệnh nhân và nhân viên cộng hưởng từ có thể gặp phải khi trường từ tĩnh cao
hơn mức của chế độ vận hành bình thường, chú ý đặc biệt đến các ảnh hưởng có thể
gặp phải nếu đầu của bệnh nhân hoặc nhân viên cộng hưởng từ di chuyển nhanh
trong khi đang ở bên trong hoặc gần thiết bị cộng hưởng từ, kể cả hoa mắt,
chóng mặt và có vị kim loại trong miệng;
- khuyến cáo rằng bệnh nhân phải giữ
nguyên vị trí trong khi vẫn nằm trong trường từ tĩnh cao;
- cung cấp thông tin về giá trị B0
mà thiết bị cộng hưởng từ có khả năng tạo ra;
- giải thích rằng khi trường từ tĩnh
chính cao hơn 2T và thấp hơn 4T thì nghĩa là hệ thống MR vẫn đang tiếp tục vận
hành ở chế độ vận hành có điều khiển mức một và do đó phải đảm bảo có các giám
sát về y tế đối với tất cả các bệnh nhân;
- giải thích rằng nhân viên cộng hưởng
từ phải được huấn luyện đầy đủ để giảm thiểu các ảnh hưởng bất lợi cho sức khỏe
do trường từ tĩnh cao. Giải thích các ảnh hưởng sức khỏe liên quan đến trường từ
tích tĩnh bị tăng lên và những thay đổi có thể có trong tương thích MR của dụng
cụ và các phụ kiện do nhân viên cộng hưởng từ đã sử dụng.
- giải thích rằng khi trường từ tĩnh
chính cao hơn 4T, hệ thống MR đang tiếp tục vận hành trong chế độ vận hành có
điều khiển mức hai và do đó phải đảm bảo rằng có giám sát về y tế đối với tất cả
các bệnh nhân. Giải thích rằng trong tình huống này, nhân viên cộng hưởng từ
không được phép tiếp cận thiết bị cộng hưởng từ mà không có sự chấp thuận của
cơ sở.
ii) Bệnh nhân bị phơi nhiễm trong trường
từ thay đổi theo thời
gian
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- giải thích các ảnh hưởng có thể có
lên bệnh nhân của mức đầu ra
gradient trong từng chế độ vận hành mà thiết bị cộng hưởng từ được cung cấp, có
chú ý đặc biệt đến các ảnh hưởng có thể có lên hệ thống thần kinh ngoại vi và
lên tim;
- cung cấp thông tin về đầu ra
gradient mà thiết bị cộng hưởng từ có thể tạo ra trong từng chế độ vận hành;
- giải thích rằng thiết bị cộng hưởng từ
sẽ hiển thị chỉ thị về chế độ vận hành thích hợp khi giá trị đầu ra gradient vượt quá mức của
chế độ vận hành bình thường;
- mô tả hệ thống chênh từ là một hệ thống
chênh từ toàn bộ cơ thể hoặc hệ thống chênh từ mục đích đặc biệt
và mô tả không gian trong đó đầu ra gradient là thích hợp.
jj) Bệnh nhân bị phơi nhiễm với trường
từ tần số radio
Hướng dẫn sử dụng phải chú ý đến các yếu tố rủi ro
mà có thể làm tăng khả năng bệnh nhân bị gia nhiệt sóng radio (RF) cục bộ quá mức
và hướng dẫn sử dụng cũng phải mô tả cách để người sử dụng giảm thiểu các yếu tố
rủi ro này. Các yếu tố rủi ro gồm:
- việc có các đồ vật dẫn (kim loại) hoặc
cấy ghép trong vùng nhạy của cuộn chênh từ sóng radio (RF). Tất cả các quần áo
có chứa sợi kim loại hoặc thành phần kim loại và tất cả các đồ vật kim loại
khác như đồng hồ, đồng xu, v.v... phải được lấy khỏi bệnh nhân;
- sử dụng các sản phẩm y tế trong các
miếng dán trên da có thể gây cháy vùng da nằm bên dưới;
- trên thực tế việc tiếp xúc da-da có
thể tạo thành vòng dẫn qua bộ phận của cơ thể, v.v... tiếp xúc bắp đùi-bắp đùi,
bắp chân-bắp chân, bàn tay-bàn tay, bàn tay-cơ thể, mắt cá chân-mắt cá chân;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- sự dịch chuyển cơ thể hoặc tứ chi
trên bề mặt cuộn chênh từ sóng radio (RF);
- tiếp xúc giữa bệnh nhân và cáp của
cuộn dây nhận sóng radio (RF) và tuyến cáp của cuộn dây sóng radio (RF) ở gần cuộn
chênh từ sóng radio (RF);
- việc hình thành các vòng lặp với cáp
của cuộn dây nhận sóng radio (RF) và dây ECG;
- sử dụng các điện cực và dây ECG
không tương thích. Thông báo cho người vận hành để chỉ sử dụng các
điện cực và dây ECG tương thích MR, ví dụ được nhà chế tạo thiết bị cộng hưởng từ
cung cấp hoặc quy định. Thông báo cho người vận hành để luôn sử dụng các điện cực
và dây ECG vẫn còn hạn sử dụng;
- việc khám cộng hưởng từ cho các bệnh
nhân được uống thuốc an thần hoặc bệnh nhân bất tỉnh hoặc bệnh nhân mất cảm
giác về một bộ phận bất kỳ trên cơ thể, ví dụ liệt chân hoặc tay và do đó không
thể thông báo cho người vận hành biết khi có sự tăng nhiệt quá mức và tổn hại
mô liên kết;
- vẫn có những cuộn dây nhận hoặc cáp
điện chưa được nối còn lại trong cuộn chênh từ sóng radio (RF) trong quá trình
khám.
Đối với thiết bị cộng hưởng từ có khả
năng vận hành ở các mức SAR lớn hơn mức ở chế độ vận hành bình thường thì hướng
dẫn sử dụng phải:
- giải thích những ảnh hưởng có thể có
khi giá trị các kiểu SAR khác nhau bị giới hạn bởi thiết bị cộng hưởng từ như
yêu cầu trong 51.103 tăng lên;
- giải thích các ảnh hưởng có thể có của
SAR trên bệnh nhân trong từng chế độ vận hành của thiết bị cộng hưởng từ, chú ý
đặc biệt đến an toàn của bệnh nhân mà khả năng điều chỉnh nhiệt độ của họ có thể
bị suy giảm và khả năng nhạy với nhiệt độ cao cơ thể tăng lên (ví dụ bệnh nhân
bị sốt hoặc suy tim, những người mất khả năng đổ mồ hôi và phụ nữ có thai).
Ngoài ra, phải cung cấp các thông tin mô tả tầm quan trọng của các điều khiển về
môi trường và ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường lên độ tăng nhiệt bên trong bệnh
nhân, cùng với những khuyến cáo về điều kiện môi trường đối với bệnh nhân;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- quy định độ chính xác của giá trị dự
đoán của các kiểu SAR khác nhau;
- giải thích rằng các giá trị đối với
các chế độ vận hành của SAR toàn bộ cơ thể nêu trong 51.103 giả thiết rằng nhiệt
độ của phòng khám không vượt quá 24 °C và độ ẩm tương đối không vượt quá 60 %.
Ngoài ra, hướng dẫn sử dụng phải giải thích SAR được điều khiển như thế nào bên
ngoài các quy định về môi trường này. Giải thích này có thể
· quy định rằng thiết bị cộng hưởng từ không được
sử dụng khi nhiệt độ lớn hơn 24 °C hoặc độ ẩm tương đối lớn hơn 60 %, hoặc
· giải thích rằng giới hạn của các chế độ vận
hành đối với SAR đang được giảm tự động theo 51.103.2 (chỉ đối với thiết bị cộng
hưởng từ có khả năng đo nhiệt độ và độ ẩm);
- chú ý đến các biện pháp giảm rủi ro do khám cộng
hưởng từ SAR cao, ví dụ như cần có thời gian nghỉ cho bệnh nhân hạ nhiệt độ, bệnh
nhân cần mặc quần áo nhẹ và có thông khí đầy đủ trong không gian bệnh nhân nằm.
*kk) Phơi nhiễm nghề nghiệp
Hướng dẫn sử dụng phải chú ý đến thực
tế là nhân viên cộng hưởng từ có thể bị phơi nhiễm với các trường điện từ (EMF)
do thiết bị cộng hưởng từ phát ra. Họ phải được cung cấp đầy đủ thông tin liên
quan đến các rủi ro do những phơi nhiễm này để có thể có các quy trình làm việc
an toàn cho nhân viên cộng hưởng từ. Yêu cầu liên quan trong 6.8.2 ii) và jj) đối
với bệnh nhân cũng phải áp dụng cho nhân viên cộng hưởng tử. Thông tin này cũng
phải gồm:
- quy định về khu vực mà nhân viên cộng
hưởng từ không được vào, nếu có;
- mức độ thực tế của phơi nhiễm trong
tất cả các khu vực mà nhân viên cộng hưởng từ có thể tiếp cận, biểu diễn bằng
các đơn vị thích hợp đối với trường từ tĩnh (xem 6.8.2 hh) và 51.104), đầu ra
gradient (xem 6.8.2 ii) và 51.102) và sóng radio (RF) (xem 6.8.2 jj) và 51.103)
do thiết bị cộng hưởng từ phát ra;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- thông báo rằng có thể có kích thích
thần kinh ngoại vi nhẹ (PNS) ở bệnh nhân và nhân viên cộng hưởng từ khi phơi
nhiễm với các gradient của chế độ vận hành có điều khiển mức một.
Phải giải thích các yếu tố rủi ro cùng
với các mức phơi nhiễm có thể có đối với nhân viên cộng hưởng từ. Cũng phải
đưa ra bản mô tả các cách để nhân viên cộng hưởng từ giảm nhẹ các yếu tố rủi ro
này.
Các yếu tố đã biết cần chú ý gồm:
- Ảnh hưởng sinh lý có thể có khi phơi
nhiễm với bức xạ sóng radio (RF) đang gia nhiệt. Phơi nhiễm với bức xạ sóng
radio (RF) có thể được giảm thiểu bằng cách giữ khoảng cách đủ với cuộn chênh từ
sóng radio (RF) hoặc bằng cách giảm thời gian phơi nhiễm trong khi khám cộng hưởng
từ;
- Ảnh hưởng sinh lý có thể có khi phơi
nhiễm với đầu ra gradient là kích thích thần kinh ngoại vi đối với người bị
phơi nhiễm. Phơi nhiễm với đầu ra gradient có thể được giảm thiểu bằng cách giữ
khoảng cách đủ với cuộn dây gradient trong khi khám cộng hưởng từ;
- Ảnh hưởng sinh lý có thể có khi phơi
nhiễm với trường từ tĩnh là hoa mắt, chóng mặt và có vị kim loại trong miệng của
người bị phơi nhiễm. Phơi nhiễm với đầu ra gradient có thể được giảm thiểu bằng
cách tránh xa nam châm (không chỉ trong khi khám cộng hưởng từ mà trong mọi
lúc) và bằng cách tránh di chuyển đầu nhanh trong trường từ tĩnh.
Hướng dẫn sử dụng có thể quy định rằng,
nhìn chung chấp nhận là không có bằng chứng được công bố xác nhận việc xảy ra
các ảnh hưởng lũy tích và/hoặc thời gian dài sau khi phơi nhiễm với EMF do thiết
bị cộng hưởng từ phát ra.
Hướng dẫn sử dụng phải quy định rằng
nên thực hiện thêm các biện pháp phòng ngừa đối với những nhân viên cộng hưởng từ
đang mang thai, mặc dù không có bằng chứng dịch tễ học đối với những ảnh hưởng
không tốt đến sức khỏe. Có thể áp dụng các qui chuẩn của địa phương.
Hướng dẫn sử dụng phải quy định rằng
các giới hạn đối với nhân viên cộng hưởng từ không thể áp dụng cho nhân viên cộng
hưởng từ đang mang thai, ở một số nước có thể yêu cầu áp dụng giới hạn đối với
công chúng cho nhân viên cộng hưởng từ đang mang thai.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
*ii) Thiết bị phụ trợ
Người sử dụng phải nhận thức rằng bất
cứ việc sử dụng thiết bị theo dõi sinh lý và thiết bị nhạy cho bệnh nhân nào cần
thực hiện dưới sự điều khiển trực tiếp của người sử dụng và là trách nhiệm của
người sử dụng.
Hướng dẫn sử dụng phải cảnh báo người
sử dụng rằng việc sử dụng thiết bị phụ trợ, ví dụ như thiết bị theo
dõi sinh lý và theo dõi tác động của van và các cuộn chênh từ sóng radio (RF),
mà chưa được thử nghiệm và chứng nhận để sử dụng trong môi trường của thiết bị cộng
hưởng từ, có thể làm bỏng hoặc gây thương tích khác cho bệnh nhân. Hướng dẫn sử
dụng phải cảnh báo thêm người sử dụng rằng ngay cả thiết bị phụ trợ có ghi nhãn
tương thích với thiết bị cộng hưởng từ hoặc hệ thống MR vẫn có thể có khả năng
gây thương tích nếu không tuân theo hướng dẫn của nhà chế tạo, đặc biệt về việc
định vị dây dẫn điện.
mm) Khối ngắt trường từ khẩn cấp
Hướng dẫn sử dụng phải chỉ ra khi nào
cần vận hành khối ngắt trường từ khẩn cấp và vận hành như thế nào trong trường
hợp khẩn cấp. Phải cung cấp các ví dụ về các tình huống có thể yêu cầu ngắt trường
từ khẩn cấp.
CHÚ THÍCH Các nam châm vĩnh viễn không
thể cấp điện lại trong trường hợp khẩn cấp.
nn) Biện pháp phòng ngừa cháy
Hướng dẫn sử dụng phải khuyến cáo cho
người sử dụng được chấp thuận về các biện pháp phòng cháy với cảnh sát phòng
cháy chữa cháy của địa phương, phải thiết lập các quy trình khẩn cấp và người sử
dụng có trách nhiệm tiến hành các hành động cần thiết.
oo) Đồ vật
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
pp) Huấn luyện cần thiết
Hướng dẫn sử dụng phải khuyến cáo rằng
cần huấn luyện bác sỹ và người vận hành để vận hành thiết bị cộng hưởng từ một
cách an toàn và hiệu quả. Huấn luyện này phải bao gồm các quy trình khẩn cấp, kể
cả những quy trình đối với những vấn đề được mô tả trong các điểm sau:
- cc) Quy trình y tế khẩn cấp
- ee) Khu vực tiếp cận có điều khiển
- mm) Khối ngắt trường từ khẩn cấp
- nn) Các biện pháp phòng ngừa cháy
- ss) Hành động khẩn cấp khi có hóa
khí toàn bộ hely lỏng
qq) Đảm bảo chất lượng
Hướng dẫn sử dụng phải mô tả quy trình
đảm bảo chất lượng khuyến cáo cho người sử dụng, kể cả bản mô tả tất cả các ảnh
ảo đã được sử dụng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hướng dẫn sử dụng phải nêu lịch trình
bảo trì khuyến cáo đối với thiết bị cộng hưởng từ. Phải đưa ra các hạng mục mà
người bảo trì cần thực hiện.
*ss) Hành động khẩn cấp trong trường hợp
hóa khí toàn bộ
heli lỏng (quench)
Hướng dẫn sử dụng phải có các hướng dẫn
về cách nhận biết hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench) và cách hành động khi có hóa
khí toàn bộ heli lỏng (quench), đặc biệt khi hệ thống thông khí của hệ thống
nam châm siêu dẫn bị hỏng.
6.8.3. Mô tả kỹ thuật
Bổ sung:
aa) Khu vực tiếp cận có điều khiển
Đối với thiết bị cộng hưởng từ phát ra
trường tạp tán lớn hơn 0,5 mT bên ngoài vỏ gắn vĩnh viễn, và/hoặc mức can nhiễu
điện từ không phù hợp với IEC 60601-1-2 thì bản mô tả kỹ thuật phải:
- chỉ ra sự cần thiết phải
xác định và lắp đặt cố định khu vực tiếp cận có điều khiển xung quanh thiết bị cộng
hưởng từ sao cho bên ngoài vùng này
1) cường độ trường từ ở rìa xung quanh
không lớn hơn 0,5 mT, và
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- đưa ra khuyến cáo phải phân định
ranh giới khu vực tiếp cận có điều khiển như thế nào, ví dụ bằng cách
đánh dấu trên nền nhà, tấm chắn và/hoặc biện pháp khác để cho phép nhân viên có
trách nhiệm điều khiển thích hợp sự xâm
nhập của những người không được ủy quyền vào khu vực này;
- quy định rằng khu vực tiếp cận có điều
khiển cần được dán nhãn tại tất cả các lối vào bằng các dấu cảnh báo thích hợp,
kể cả chỉ thị về sự có mặt của trường từ và lực hấp dẫn của chúng hoặc mô men
trên các vật liệu sắt từ (xem Phụ lục AA về ví dụ các dấu cảnh báo và dấu cấm).
Khi thiết bị cộng hưởng từ được thiết
kế để lắp đặt trong phòng mà việc tiếp xúc nghe nhìn với bệnh nhân nhiều khả
năng bị hạn chế, bản mô tả kỹ thuật phải quy định các điều khoản về
thiết kế trong phòng và trong thiết bị để kích hoạt tiếp xúc nghe nhìn với bệnh
nhân đang khám MR. Tiếp xúc nghe nhìn này phải đủ để thực hiện theo dõi thường
quy và giám sát y tế của bệnh nhân.
*bb) Tờ quy định kỹ thuật tương thích
Ngoài hướng dẫn sử dụng thiết bị cộng
hưởng từ phải có tờ quy định kỹ thuật tương thích với đầy đủ các thông tin để
cho phép thực hiện các thử nghiệm vận hành đúng thiết bị ngoại vi. Tờ quy định
kỹ thuật tương thích (hay còn gọi là tờ dữ liệu sản phẩm) phải mô tả một số
thông số đặc trưng cho thiết bị cộng hưởng từ. Các thông số này bao gồm:
- Nam châm: kiểu, cường độ trường,
kích thước khoang, loại hỗn hợp lạnh và tốc độ boil-off, phân bố trong không
gian của trường bao quanh dưới dạng đồ thị liên quan đến lắp đặt điển hình của
thiết bị cộng hưởng từ.
· Đồ thị phải thể hiện ba mặt phẳng trực giao
thích hợp xuyên qua tâm để minh họa sự mở rộng lớn nhất trong không gian của đường đẳng
từ.
· Mỗi đồ thị phải chứa tối thiểu các đường đẳng
từ có các giá trị 0,5 mT, 1 mT, 3 mT, 5 mT, 10 mT, 20 mT, 40 mT và 200 mT cũng
như thước đo khoảng cách và đường bao ngoài của nam châm.
· Vị trí có gradient trong không gian của trường
từ chính lớn nhất và các giá trị B0 và gradient không gian B0
ở vị trí đó. Ở vị trí này, lực trên vật thể sắt từ bão hòa gây ra do gradient
không gian của trường từ chính là lớn nhất.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
· Đối với thiết bị cộng hưởng từ có khả năng vận
hành ở chế độ vận hành có điều khiển mức một hoặc chế độ vận hành có điều khiển
mức hai đối với trường từ tĩnh, phải có đồ thị hiển thị các đường đẳng từ 0,5
T, 1 T, 1,5 T, 2 T, 3 T và 4 T tại các vị trí mà nhân viên cộng hưởng từ tiếp cận
được hoặc có liên quan đến nếu trường từ tĩnh ở tâm lớn hơn giá trị bất kỳ
trong các giá trị này.
- Hệ thống chênh từ: kiểu, độ lớn, thời
gian tăng, tốc độ khám cộng hưởng từ và phân bố không gian của các giá trị biên
độ lớn nhất của tổng véc tơ của tất cả ba đầu ra gradient tại các điểm mà nhân
viên cộng hưởng từ tiếp cận được hoặc có liên quan trong quá trình khám cộng hưởng
từ.
- Hệ thống RF: kiểu cuộn chênh từ sóng
radio (RF), công suất hiệu dụng đỉnh của biến áp, cuộn chênh từ sóng radio (RF)
truyền lớn nhất đặt vào và độ rộng băng tần, phân bố không gian của cuộn chênh
từ sóng radio (RF) truyền lớn nhất ở các vị trí mà nhân viên cộng hưởng từ tiếp
cận được hoặc có liên quan trong quá trình khám cộng hưởng từ.
- Giao thức tương thích: Nhà chế tạo
thiết bị cộng hưởng từ phải đề xuất giao thức có thể chạy thường xuyên trên thiết
bị cộng hưởng từ và cho phép nhà chế tạo thiết bị ngoại vi để thử chức năng của
thiết bị ngoại vi. Giao thức được thiết kế để chạy thiết bị cộng hưởng từ với
trường RF truyền
cao hoặc tốc độ biên độ khám cộng hưởng từ gradient lớn sao cho nhà
chế tạo thiết bị ngoại vi có thể nghiên cứu các ảnh hưởng của thiết bị cộng hưởng
từ lên thiết bị ngoại vi. Các phép thử không nhằm đánh giá ảnh hưởng có thể có của
thiết bị ngoại vi lên chất lượng hình ảnh thiết bị cộng hưởng từ tạo ra và
không đảm bảo rằng thiết bị ngoại vi sẽ làm việc hoàn hảo.
- Không gian dành cho bệnh nhân: kích
thước, thông gió, phương tiện liên lạc và chiếu sáng.
- Giá đỡ bệnh nhân: kích thước, định vị, độ
chính xác và tải trọng lớn nhất.
*cc) Điều khoản an toàn khi có hóa khí toàn bộ
heli lỏng (quench)
Đối với thiết bị cộng hưởng từ có nam
châm siêu dẫn, tài liệu kèm theo phải
- nêu các yêu cầu đối với hệ thống
thông khí dùng cho nam châm siêu dẫn nối hỗn hợp lạnh của nam châm với khí quyển
bên ngoài và được thiết kế để chịu được hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench) và bảo
vệ những người ở gần khi có hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench);
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- khuyến cáo chương trình bảo trì mang
tính phòng ngừa mà có quy định rằng cần khám định kỳ việc thực hiện đầy đủ các
chức năng của hệ thống thông khi dùng cho nam châm siêu dẫn;
- nêu các yêu cầu về thiết kế phòng
khám để tăng độ an toàn cho bệnh nhân và những người khác bên trong và bên
ngoài phòng khám khi hệ thống thông khí bị hỏng khi có hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench).
Thiết kế dự kiến phải đề cập đến vấn đề giảm áp lực tích tụ, giảm nhiệt độ và
thoát khí oxy khi có hóa khí toàn bộ
heli lỏng (quench). Phải liệt kê một số các giải pháp chấp nhận được đối với
các dự phòng này, được chứng minh là có hiệu lực bằng mô phỏng hoặc thử nghiệm,
sao cho ngay cả khi hệ thống thông khí của nam châm siêu dẫn hỏng thì khả năng
xảy ra nguy hiểm cho bệnh nhân và những người xung quanh bên trong cũng như bên
ngoài phòng khám, do giảm áp lực, nhiệt độ hoặc thoát khí oxy khi có hóa khí
toàn bộ heli lỏng (quench) được giảm đi đáng kể;
- quy định người sử dụng cần thiết lập
kế hoạch khẩn cấp khi có hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench), kể cả tình
huống khi hệ thống thông khí dùng cho nam châm siêu dẫn hỏng;
- quy định cần thực hiện các biện pháp
điều khiển thêm có thể có đối với hệ thống thông khí của bệnh nhân để không đưa
thêm khí heli đến bệnh nhân thông qua hệ thống thông khí. Hệ thống thông khí của
bệnh nhân cần có lối đầu vào ở vị trí an toàn (ví dụ như vị trí thấp trong phòng
khám hoặc nối trực tiếp với điều hòa không khí của phòng khám), hoặc được nối với
bộ phát hiện hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench), sao cho hệ thống thông khí của
bệnh nhân có thể tự động điều khiển khi xảy ra hóa khí toàn bộ heli lỏng
(quench) và sẽ không đưa khí heli đến bệnh nhân đang nằm trong máy khám cộng hưởng
từ.
CHÚ THÍCH 1: Hệ thống
thông khí dùng cho nam châm siêu dẫn được coi là ống thông hỗn hợp lạnh và tất
cả các bộ phận cần thiết để giúp an toàn khi có hóa khí toàn bộ heli lỏng
(quench).
CHÚ THÍCH 2: Các cấu hình
phòng khám đã được chứng minh bằng mô phỏng hoặc phép thử là chấp nhận được gồm:
- các cấu hình trong đó cửa sóng radio
(RF) mở ra ngoài hoặc
là cửa sóng radio (RF) trượt;
- các cấu hình trong đó cửa sóng radio
(RF) mở về phía trọng
nếu các cửa này có các biện pháp phòng ngừa để ngăn tích tụ áp lực. Điều này có
thể thực hiện bằng một trong các cách sau:
· có thêm hệ thống thông khí trong phòng khám
mà có thể bật nguồn (có thể tự động nhớ thiết bị giám sát oxy trên trần của
phòng khám để phát hiện sự thoát khí heli) khi có Hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench);
hoặc
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
· cửa sổ quan sát trong phòng khám có khả năng
mở ra ngoài hoặc
là cửa trượt; hoặc
· hệ thống thông khí độc lập thứ hai dùng cho
nam châm siêu dẫn vẫn có thể làm việc trong trường hợp hệ thống thông khí chính
dùng cho nam châm siêu dẫn bị kẹt; hoặc
· phương pháp tương đương được chứng minh là
có hiệu quả bằng mô phỏng hoặc phép thử.
dd) Đặc tính suy giảm trường từ
Đối với thiết bị cộng hưởng từ chứa
các nam châm siêu dẫn và nam châm điện, mô tả kỹ thuật phải cung cấp đặc tính
suy giảm của nam châm khi có hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench) hoặc khi tắt
nguồn trường từ khẩn cấp để người sử dụng có thể thực hiện quy trình hỗ trợ sự
sống thích hợp hoặc các quy trình an toàn khác. Các đặc tính này phải thể hiện
thời gian từ khi kích hoạt khối ngắt nguồn trường từ khẩn cấp đến thời điểm cường
độ trường ở tâm nam châm
trở về giá trị
20 mT.
Bản mô tả kỹ thuật phải đưa ra hướng dẫn
liên quan đến vị trí và cách lắp đặt cơ cấu chấp hành của khối ngắt nguồn khẩn
cấp.
ee) Loại hệ thống chênh từ
Hệ thống chênh từ phải được nhà chế tạo
ghi nhãn là hệ thống chênh từ toàn bộ cơ thể hoặc hệ thống chênh từ mục đích đặc
biệt.
Mục
2 - Điều kiện môi trường
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mục
3 - Bảo vệ chống nguy hiểm điện giật
Áp dụng mục này của Tiêu chuẩn chung.
Mục
4 - Bảo vệ chống các nguy hiểm về cơ
Áp dụng các điều trong mục 4 của Tiêu
chuẩn chung, ngoài ra còn:
*26. Rung và ồn
Áp dụng điều này của Tiêu chuẩn chung,
ngoài ra còn:
Thay thế:
Thiết bị cộng hưởng từ không được gây ồn
có mức áp suất âm thanh đỉnh không trọng số (LP) lớn hơn 140 dB lấy chuẩn
theo 20 mPa trong khu
vực có thể tiếp cận bất kỳ.
Phương pháp đo độ ồn âm thanh để chứng
tỏ sự phù hợp với yêu cầu đã cho và để đánh giá mức ồn liên quan đến
yêu cầu đã cho:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Micro không được đặt bên trong cuộn
dây trên đầu trừ khi cuộn dây này được đặt trên đầu của bệnh nhân trong tất cả
các lần khám cộng hưởng từ.
b) Máy đo mức âm thanh phải đặt xa tâm
của nam châm sao cho độ chính xác của máy không bị ảnh hưởng bởi trường từ xung
quanh. Điều này thường đòi hỏi sử dụng cáp kéo dãi giữa máy và micro. Micro phải
tác dụng theo mọi hướng và không nhạy với trường từ, hoặc được hiệu chuẩn có
tính đến trường từ.
Phải cẩn thận để đảm bảo tránh được hoặc
được bù thích hợp
cho các ảnh hưởng về môi trường (ví dụ nhiễu điện từ, trường gradient xung).
c) Máy đo mức âm thanh phải phù hợp với
IEC 60651, kiểu 0 hoặc kiểu 1, và/hoặc IEC 60804, kiểu 0 hoặc kiểu 1.
d) Phải thực hiện phép đo có bù dòng
Fuco chuẩn như đối với mục đích khám tiêu chuẩn.
e) Phải thực hiện phép đo sử dụng thiết bị
cộng hưởng từ ở chế độ tạo ra trường hợp xấu nhất về mặt âm thanh. Điều này được
thực hiện bằng cách sử dụng dạng sóng gradient lưỡng cực biên độ lớn nhất (xem
Hình 102) đặt đồng thời đến tất cả ba trục gradient hoặc ở điều kiện
khám cộng hưởng từ tạo ra tiếng ồn lớn nhất.
Khi sử dụng dạng sóng gradient lớn nhất,
thời gian chuyển tiếp t1, t2, t3 và t4
phải là giá trị nhỏ nhất mà thiết bị cộng hưởng từ có thể phát ra trong các điều
kiện cho phép đối với mục đích khám. Biên độ,
A+max và
A-max, được xác định là cường
độ gradient lớn nhất
mà thiết bị cộng hưởng từ có thể phát ra trong các điều kiện vận hành gradient
bình thường. Thời gian có xung, ton, phải là giá trị nhỏ nhất mà sẽ
cho phép dạng sóng dòng điện đạt đến giá trị dòng điện lớn nhất mà dạng sóng
yêu cầu. Thời gian của một chu kỳ, TR, phải nhỏ nhất điều khiển bởi các giới hạn
chu kỳ làm việc của hệ thống chênh từ.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
bộ phát hiện: đỉnh
trọng số theo thời gian: không áp dụng
trọng số theo tần số: không lấy trọng số
đo
thời gian đo: ³20 s
g) Đo áp suất âm thanh hiệu dụng trọng
số A LAeq, 1 h (theo 3.5 của ISO 1999) sử dụng bố trí
và các điều kiện của máy đo mức âm thanh sau đây:
bộ phát hiện: hiệu dụng
trọng số theo thời gian: nhanh hoặc chậm
trọng số theo tần số: lấy trọng số A
thời gian đo: ³20 s
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

CHÚ DẪN
t1, t2, t3
và t4
thời gian chuyển tiếp
ton
thời gian có xung
TR
thời gian của một chu kỳ
A+max và A-max
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hình 102 - Dạng
sóng đầu ra gradient để thực hiện phép đo độ ồn
Mục
5 - Bảo vệ chống nguy cơ bức xạ không mong muốn hoặc quá mức
Áp dụng các điều trong mục này của
Tiêu chuẩn chung, ngoài ra còn:
*36. Tương thích điện
từ
Áp dụng điều của Tiêu chuẩn chung,
ngoài ra còn:
Bổ sung:
Trường tạp tán bên ngoài khu vực tiếp
cận có khống chế phải nhỏ hơn 0,5 mT và mức nhiễu điện từ phải phù hợp với Tiêu
chuẩn kết hợp IEC 60601-1-2.
Bên trong khu vực tiếp cận có khống chế áp dụng
các yêu cầu nêu trong 6.8.2 ee).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CHÚ THÍCH 2: Bên trong
khu vực tiếp cận có không chế, các yêu cầu về giao diện đặc biệt có thể do nhà
chế tạo thiết bị cộng hưởng từ quy định.
Mục
6 - Bảo vệ chống nguy hiểm do bắt lửa của hỗn hợp khí gây mê dễ cháy
Áp dụng mục này của Tiêu chuẩn chung.
Mục
7 - Bảo vệ chống quá nhiệt và các nguy hiểm về an toàn khác
Áp dụng các điều trong mục này của
Tiêu chuẩn chung, ngoài ra còn:
45. Bình áp lực và
các bộ phận chịu áp lực
Áp dụng điều của Tiêu chuẩn chung,
ngoài ra còn:
Bổ sung:
45.101. Nếu bình chứa heli được
thiết kế như bình áp lực thì bình này phải được thiết kế phù hợp với Điều 45 của
TCVN 7303-1 (IEC 60601-1), hoặc với quy chuẩn quốc gia.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Áp dụng điều này của Tiêu chuẩn chung,
ngoài ra còn:
Bổ sung:
49.101. Khói ngắt
nguồn trường khẩn cấp
Thiết bị cộng hưởng từ có nam châm
siêu dẫn hoặc nam châm điện phải có bộ ngắt nguồn từ trường khẩn cấp.
CHÚ THÍCH 1: Ví dụ về tình
huống khẩn cấp là khi con người bị mắc kẹt trong trường từ gây ra do các vật thể
sắt từ.
CHÚ THÍCH 2: Các yêu cầu
về điều khoản trong hướng dẫn sử dụng liên quan đến thông tin về khối ngắt nguồn
trường khẩn cấp được nêu
trong 6.8.2 mm).
CHÚ THÍCH 3: Thông tin về
đặc tính suy giảm trường từ
trong quá trình ngắt nguồn
trường khẩn cấp được yêu cầu trong 6.8.3 dd) về tài liệu đính kèm.
49.102. Ngừng khám cộng hưởng
từ
Phải có phương tiện để người vận hành
có thể dừng khám cộng hưởng từ ngay lập tức bằng cách ngắt nguồn vào hệ thống
chênh từ và ngắt nguồn vào cuộn chênh từ sóng radio (RF) (xem IEC 60601-1-2).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Áp dụng các điều trong mục này của
Tiêu chuẩn chung, ngoài ra còn:
*51. Bảo vệ chống
nguy cơ quá công suất
Áp dụng điều này của Tiêu chuẩn chung,
ngoài ra còn:
51.1. Vượt quá các giới hạn an toàn có
chủ ý
Không áp dụng điều này.
51.2. Chỉ thị thông số
liên quan đến an toàn
Không áp dụng điều này.
51.4. Lựa chọn ngẫu nhiên các giá trị
đầu ra quá mức
Không áp dụng điều này.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
51.101. Chế độ vận hành
Trong quá trình vận hành, nếu một hoặc
nhiều đầu ra của thiết bị cộng hưởng từ đạt đến mức có thể gây áp lực sinh lý
lên bệnh nhân thì người sử dụng phải quyết định xem có nên thực hiện thao tác
này hay không liên quan đến lợi ích của bệnh nhân. Điều này đưa ra các yêu cầu
về thiết kế thiết bị cộng hưởng từ để có thể giúp người sử dụng thực hiện quyết
định này. Yêu cầu trong điều này mô tả ba mức vận hành thiết bị cộng hưởng từ
mà được quy định liên quan đến giao diện và thông tin người sử dụng đưa ra cho
người vận hành (51.101) và liên quan đến các giá trị đầu ra cho phép (51.102 đến
51.104).
Các yêu cầu trong điều này phải áp dụng
riêng rẽ cho tất cả các chế độ vận hành, và đặc biệt hơn đối với các chế độ vận
hành dùng cho đầu ra gradient, tốc độ hấp thụ riêng (SAR) và trường từ tĩnh.
Phải khám bằng cách xem xét để chứng tỏ
sự phù hợp với các yêu cầu của điều này liên quan đến các chế độ vận hành (tức
là các phương tiện để khám, các hành động cần thiết và thông tin và chỉ thị được
cung cấp). Phương pháp đo để chứng tỏ sự phù hợp với các giới hạn của chế độ vận
hành nêu trong 51.102 và 51.103 được nêu trong 51.105.1 đến 51.105.3.
51.101.1. Các chế độ vận hành
Thiết bị cộng hưởng từ phải tuân thủ
các yêu cầu sau:
a) Cơ cấu điều khiển phải được trang bị để
đảm bảo không vượt quá giới hạn của chế độ vận hành (được chọn). Cơ cấu điều
khiển này không được phụ thuộc
vào đầu vào của người vận hành (kích thước bệnh nhân, khối lượng hoặc vị trí)
hoặc phải được khám bằng thiết bị cộng hưởng từ để phát hiện sai lỗi đầu vào của
người vận hành.
b) Phải tự động đặt lại chế độ vận
hành bình thường
liên quan đến SAR và dB/dt khi thay đổi bệnh nhân.
c) Thiết bị cộng hưởng từ phải cung cấp
thông tin theo yêu cầu về SAR liên quan và đầu ra gradient liên quan.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đối với thiết bị cộng hưởng từ không có khả
năng vận hành ở các mức lớn
hơn chế độ vận hành bình thường như quy định trong 51.102 và 51.103 thì không
yêu cầu hiển thị trên bảng điều khiển chế độ vận hành hoặc đầu ra gradient lớn
nhất hoặc giá trị SAR dự đoán.
51.101.3. Chế độ
vận hành có điều khiển mức một
Thiết bị cộng hưởng từ nếu cho phép vận
hành ở chế độ vận
hành có điều khiển mức một như quy định trong 51.102 và 51.103 thì phải đáp ứng
các yêu cầu sau:
a) Trước khi bắt đầu mỗi lần khám cộng
hưởng từ, chỉ thị về chế độ vận hành được xác định bởi giá trị đầu ra gradient
sẽ được áp dụng trong quá trình khám cộng hưởng từ và giá trị SAR sẽ được áp dụng
trong quá trình khám cộng hưởng từ, và dự đoán các giá trị này (nếu có yêu cầu)
phải được hiển thị trên bảng điều khiển. Giá trị đầu ra gradient phải được biểu
thị dưới dạng phần trăm của mức cao của chế độ vận hành có không chế mức một
(L12) đối với quá trình khám cộng hưởng từ áp dụng.
b) Nếu giá trị đầu ra gradient hoặc
SAR điều khiển việc khám cộng hưởng từ là giá trị để tiếp cận chế độ vận hành
có điều khiển mức một thì người vận hành phải chú ý đến điều kiện này theo chỉ
thị rõ ràng trên bảng điều khiển. Bản ghi về chế độ vận hành hoặc dữ liệu tương
đương phải là một phần tích hợp của dữ liệu về hình ảnh.
c) Phải cần một hành động có chủ ý của
người vận hành để chuyển sang chế độ vận hành có điều khiển mức một.
51.101.4. Chế độ vận hành có điều khiển
mức hai
Thiết bị cộng hưởng từ không nhằm để sử
dụng trong bệnh viện, nhưng cho phép vận hành ở chế độ vận hành có điều khiển mức
hai đối với các giá trị đầu ra gradient hoặc SAR như quy định trong 51.102 và
51.103, phải phù hợp với các yêu cầu sau:
a) Biện pháp an toàn riêng để ngăn ngừa
tiếp cận chế độ vận hành có điều khiển mức hai phải không thể kích hoạt trước
khi chuyển sang chế độ vận hành có điều khiển mức hai. Biện pháp an toàn riêng
phải được thiết kế sao cho chế độ vận hành có điều khiển mức hai chỉ có thể tiếp
cận khi được phép của người chịu trách nhiệm về y tế theo giao thức nghiên cứu
con người được phê chuẩn theo các yêu cầu của địa phương. Biện pháp an toàn
riêng phải gồm khóa chìa, khóa số, mật khẩu phần mềm, hoặc cơ cấu bảo vệ khác.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
c) Bản ghi về đầu ra gradient hoặc SAR
dùng để điều khiển các giá trị khám cộng hưởng từ và dữ liệu tương đương phải
là một phần tích hợp của dữ liệu về hình ảnh.
d) Chỉ thị cho người vận hành phải có
nội dung cho thấy các điều kiện vận hành có nguy hiểm tiềm ẩn và các điều
kiện này không cần áp dụng trong mục đích khám thông thường.
e) Thiết bị cộng hưởng từ phải có
phương tiện để đặt các giới hạn điều chỉnh được (ở chế độ vận hành có
điều khiển mức hai) của đầu ra gradient hoặc các kiểu SAR khác mà người vận
hành không thể điều chỉnh, trừ khi được ủy quyền.
*51.102. Bảo vệ chống sự biến đổi quá
mức của trường từ tần số thấp do hệ thống chênh từ sinh ra
Trong tiêu chuẩn này, sự biến đổi trường
từ tần số thấp là sự biến đổi liên quan đến việc ngăn ngừa kích thích tim hoặc
kích thích thần kinh ngoại vi (PNS) (Thời gian kích thích hiệu quả > 20 ms).
51.102.1. Mục đích giới hạn đầu ra
gradient
Thiết bị cộng hưởng từ phải được thiết
kế để tự động điều khiển đầu ra gradient để ngăn ngừa kích thích tim của bệnh
nhân và của nhân viên cộng hưởng từ ở chế độ vận hành bất kỳ.
Thiết bị cộng hưởng từ phải được thiết
kế để tự động điều khiển đầu ra gradient để giảm thiểu xảy ra kích thích thần
kinh ngoại vi (PNS) quá mức trong bệnh nhân và trong nhân viên cộng hưởng từ ở chế độ vận
hành bất kỳ.
CHÚ THÍCH Thiết bị cộng hưởng từ đáp ứng
các yêu cầu nêu trong các điều dưới đây được coi là đáp ứng các mục đích này
khi cân đối với hiệu quả chẩn đoán của chúng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- PNS là cảm giác về sự kích hoạt hệ
thống thần kinh do chuyển đổi gradient,
- PNS ngưỡng là sự bắt đầu cảm thấy,
- PNS gây đau là mức bệnh nhân chịu được.
- PNS không chịu được là mức khiến bệnh
nhân sẽ yêu cầu dừng ngay quy trình khám cộng hưởng từ,
- kích thích tim là việc gây ra sự lạc nhịp hoặc
chứng loạn nhịp tim khác.
Thiết bị cộng hưởng từ phải giảm thiểu
sự xuất hiện PNS gây đau ở
chế
độ vận hành bình thường.
51.102.2. Giới hạn đầu ra
gradient
Trong điều này, giới hạn đối với bệnh
nhân và nhân viên cộng hưởng từ được thể hiện dưới dạng trường điện sinh ra
trong bệnh nhân hoặc nhân viên cộng hưởng từ do thay đổi trường từ của
gradient hoặc do dB/dt chính là tốc độ thay đổi trường này theo thời gian. Các
giới hạn này là hàm của thời gian kích thích hiệu quả ts,eff. Thời
gian kích thích hiệu quả được minh họa trong Hình 101 đối với một số dạng sóng.
Các điều kiện thử được sử dụng để chứng
tỏ sự phù hợp với các giới hạn này được định nghĩa trong 51.105.2.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
51.102.2.1. Giới hạn
để ngăn kích thích tim
Để bảo vệ chống kích thích tim trong từng
chế độ vận hành, đầu ra gradient của tất cả các bộ gradient phải đáp ứng:
E < 
trong đó
ts,eff (ms) là thời
gian kích thích hiệu quả;
E(V/m) là trường điện cảm ứng do đóng cắt
gradient.
Đối với thiết bị cộng hưởng
từ có hệ thống chênh từ toàn bộ cơ thể thì giới hạn này có thể thay bằng:
dB/dt < 
trong đó
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
ts,eff (ms) là
thời gian kích thích hiệu quả.
51.102.2.2. Giới hạn liên quan đến kích
thích thần kinh ngoại vi (PNS)
Giới hạn đầu ra gradient phải dựa vào
kết quả nghiên cứu thực nghiệm về con người như mô tả trong điểm a) của điều
này hoặc phải có các giá trị như quy định trong điểm b) của điều này.
a) Các giới hạn được xác định trực tiếp
Giới hạn liên quan đến giảm thiểu PNS
đối với kiểu hệ thống chênh từ cho trước có thể dựa trên việc xác định trực tiếp
từ nghiên cứu trên những người tình nguyện như sau:
- đối với vận hành ở chế độ vận hành
bình thường, hệ thống chênh từ phải vận hành ở mức không quá 80 % ngưỡng PNS
trung bình được xác định trực tiếp, và
- đối với vận hành ở chế độ vận
hành có điều khiển mức một, hệ thống chênh từ phải vận hành ở mức không
quá 100 % ngưỡng PNS trung bình được xác định trực tiếp.
Ngoài ra, nghiên cứu có thể sử dụng
để có được các hệ số trọng số đối với từng bộ gradient, thích hợp sử dụng để điều
khiển các đầu ra gradient (xem 51.102.2.3).
Cách thức để có được ngưỡng được xác định
trực tiếp PNS và các hệ số trọng số từ nghiên cứu những người tình nguyện phải
phù hợp với các điều kiện quy định trong 51.105.1.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
b) Giá trị mặc định
Khi đã xác định trực tiếp các giới hạn,
các giới hạn đầu ra gradient đối với chế độ vận hành bình thường (L01) và chế độ
vận hành có điều khiển mức một (L12) (như xác định trong 6.8.3 ee) không được lớn
hơn các giá trị quy định dưới đây, tùy thuộc vào ghi nhãn:
L12 = 1,0 rb(1+0,36/ts, eff),
(ts,
eff tính bằng
giây)
L01 = 0,8 rb(1+0,36/ts, eff), (ts, eff tính bằng
giây)
trong đó
ts, eff (ms) là
thời gian kích thích hiệu quả và
rb (T/s) là ngưỡng nêu trong Bảng
102.
L01 và L12 cũng như rb phải được thể hiện dưới
dạng trường E (V/m) sinh ra hoặc tốc độ thay đổi trường từ theo thời gian dB/dt
(T/s).
Bảng 102 -
Giá trị ngưỡng dùng cho từng kiểu hệ thống chênh từ
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
rb được thể
hiện dưới dạng
E (V/m)
rb được thể
hiện dưới dạng
dB/dt (T/s)
Hệ thống chênh từ toàn bộ cơ thể
2,2
20
Hệ thống chênh từ mục đích đặc biệt
2,2
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hình 103 là cách thể hiện bằng hình vẽ các giới hạn về đầu
ra gradient đối với hệ thống chênh từ toàn bộ cơ thể liên quan đến kích thích tim và
kích thích thần kinh ngoại vi, được thể hiện dưới dạng dB/dt, là hàm của thời
gian kích thích hiệu quả.

Giới hạn đối với kích thích thần kinh
ngoại vi của đầu ra gradient đối với chế độ vận hành bình thường (L01) và chế độ
vận hành có điều khiển mức một (L12) trong gradient toàn bộ cơ thể, được thể hiện
dưới dạng dB/dt (T/s) theo thời gian ts (ms). Giới hạn của
51.102.2.1 đối với kích thích tim được thể hiện để so sánh.
Hình 103 - Giới
hạn đối với kích
thích tim và kích thích thần kinh ngoại vi
51.102.2.3. Điều khiển đầu ra gradient
Thiết bị cộng hưởng từ phải điều khiển
đầu ra gradient O của hệ thống chênh từ để không vượt quá các giới hạn đối với
kích thích thần kinh
ngoại vi. O phải được tính bằng tổng bình phương có trọng số của Oi,
đầu ra gradient lớn nhất của từng bộ gradient i, hoặc bằng các quy tắc cộng
thay thế.
Công thức thể hiện tổng bình phương có
trọng số phải là:
O = 
trong đó wi là hệ số trọng
số của bộ gradient.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bảng 103 - Hệ
số trọng số đối với tổng các đầu ra lớn nhất Oi của bộ gradient
Kiểu hệ thống
chênh từ
Hệ số trọng
số
wAP a
wLR a
wHF a
Hệ thống chênh từ toàn bộ cơ thể
Giá trị mặc định
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
1,0
1,0
Nam châm trụ
1,0
0,8
0,7
Xác định bằng thực nghiệm
1,0
b
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hệ thống chênh từ mục đích đặc biệt
Giá trị mặc định
1,0
1,0
1,0
Xác định bằng thực nghiệm
1,0
b
b
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
a wAP,
wLR, wHF: Các hệ số trọng số cho phép đối với bộ
gradient, tùy thuộc vào việc định hướng của các bộ gradient liên
quan đến hệ thống tọa độ của bệnh nhân với các trục AP (trước-sau), LR
(trái-phải) và HF (đầu-chân).
b Các giá trị
hệ số trọng số có được bằng cách xác định trực tiếp hoặc có thể sử dụng
phương pháp có hiệu lực khác.
*51.103. Bảo vệ chống năng lượng tần số
radio quá mức
51.103.1. Giới hạn nhiệt độ
Thiết bị cộng hưởng từ phải giới hạn độ
tăng nhiệt bên trong cơ thể và giới hạn nhiệt độ cục bộ theo không gian trong
cơ thể bệnh nhân ở giá trị nêu
trong Bảng 104 bằng cách giới hạn các tham số chuỗi xung và giới hạn công suất
tần số radio. Các giá trị cho phép đối với độ tăng nhiệt của nhân viên cộng hưởng
từ do thiết bị cộng hưởng từ gây ra bằng với các giá trị đối với bệnh nhân như
được xác định trọng Bảng 104 đối với chế độ vận hành bình thường và chế độ vận
hành có điều khiển mức một.
Bảng 104 - Giới
hạn nhiệt độ
Chế độ vận
hành
Độ tăng nhiệt
bên trong cơ thể,
°C
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đầu, °C
Thân, °C
Tứ chi, °C
Bình thường
0,5
38
39
40
Có điều khiển mức một
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
38
39
40
Có điều khiển mức hai
>1
>38
>39
>40
Sự phù hợp với các giới hạn nhiệt độ
và độ tăng nhiệt có thể đạt được bằng cách hạn chế tốc độ hấp thụ riêng (SAR)
như quy định trong 51.103.2.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đối với các bề mặt tiếp cận được, áp dụng
các giới hạn nhiệt độ của Tiêu chuẩn chung TCVN 7303-1 (IEC 60601-1). Để đánh
giá, xem phần giải thích.
51.103.2. Giới hạn SAR
Phương pháp đo để chứng tỏ sự phù hợp
với các yêu cầu này được mô tả trong 51.105.3.
Bảng 105 đưa ra dãy các giá trị cho
phép đối với SAR toàn thân, SAR một phần cơ thể, SAR đầu và SAR cục bộ đối với
chế độ vận hành bình thường và chế độ vận hành có điều khiển mức một. Đối với
chế độ vận hành có điều khiển mức hai, không đưa ra giới hạn. Các giới hạn này
được xem là trách nhiệm của từng nước sử dụng thiết bị.
Khối lượng được sử dụng để xác định
SAR toàn bộ cơ thể là khối
lượng của bệnh nhân. Khối lượng để xác định SAR một phần cơ thể được gọi là khối
lượng phơi nhiễm của bệnh nhân. Khối lượng này chính bằng khối lượng bệnh nhân
nằm trong không gian hiệu quả của cuộn chênh từ sóng radio (RF). Không gian hiệu
quả của cuộn chênh từ sóng radio (RF) phải là không gian trong đó không có quá
95 % tổng năng lượng sóng radio (RF) hấp thụ vào bên trong vật liệu đồng nhất
điền đầy không gian mà bệnh nhân thường tiếp cận tới.
Khối lượng để xác định SAR đầu phải là
khối lượng của đầu được lấy xấp xỉ bằng mô hình thích hợp.
Khối lượng để xác định SAR cục bộ phải
là 10 g.
Bảng 105 - Giới
hạn SAR
Thời gian lấy trung
bình
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
SAR toàn bộ
cơ thể
SAR một phần
cơ thể
SAR qua đầu
SAR cục bộ
Vùng cơ thể ®
Toàn bộ cơ
thể
Phần cơ thể
bị phơi nhiễm
Đầu
Đầu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tứ chi
Chế độ vận hành ¯
(W/kg)
(W/kg)
(W/kg)
(W/kg)
(W/kg)
(W/kg)
Bình thường
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
2 - 10 a
3,2
10 b
10
20
Có điều khiển mức một
4
4 - 10 a
3,2
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
10
20
Có điều khiển mức hai
>4
>(4 – 10) a
>3,2
>10 b
>10
>20
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Giới hạn SAR trong khoảng thời gian
10 s bất kỳ không được vượt quá ba lần giá trị quy định
a Giới hạn tỷ lệ động với
tỷ số “khối lượng
bệnh nhân bị phơi nhiễm/khối lượng bệnh nhân”:
Chế độ vận hành bình thường:
SAR một phần cơ thể = 10 W/kg – (8 W/kg
* khối lượng bệnh nhân bị phơi nhiễm/khối lượng bệnh nhân)
Chế độ vận hành có điều khiển cấp một:
SAR một phần cơ thể = 10 W/kg – (6 W/kg
* khối lượng bệnh nhân bị phơi nhiễm/khối lượng bệnh nhân)
b Trong các
trường hợp khi ổ mắt nằm trong trường của cuộn chênh từ sóng radio (RF) cục bộ
nhỏ, cần thận trọng để đảm bảo rằng độ tăng nhiệt không vượt quá 1 °C.
CHÚ THÍCH Giới hạn phơi nhiễm đối với
nhân viên cộng hưởng tử bằng giới hạn đối với bệnh nhân. Do đó, trên
thực tế sự phù hợp với các giới hạn SAR đối với bệnh nhân cũng có nghĩa là
phù hợp đối với nhân viên cộng hưởng từ.
Đối với SAR toàn thân, các giá trị ở Bảng
105 có hiệu lực ở nhiệt độ môi trường thấp hơn 24 °C. Ở nhiệt độ cao hơn, các
giá trị này phải được giảm theo tùy thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm môi trường thực tế. Độ
giảm giới hạn SAR đối với nhiệt độ môi trường bắt đầu ở nhiệt độ suy giảm. Nhiệt
độ suy giảm là 25 °C đối với độ ẩm không khí <60 %. Đối với mỗi 10 % tăng
lên của độ ẩm không khí so với 60 % thì nhiệt độ suy giảm giảm đi 0,25 °C (ví dụ 24
°C ở độ ẩm không
khí 100 %).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Hình 104 - Sự
suy giảm giới hạn SAR toàn thân ở nhiệt độ và độ ẩm
cao
Các đường cong thể hiện các giới hạn
SAR toàn thân theo nhiệt độ môi trường T đối với ba giá trị độ ẩm tương đối h.
Đường thấp hơn: Chế độ vận hành bình thường; đường cao hơn: Chế độ vận hành có
điều khiển mức một.
51.103.3. Điều khiển SAR
Đối với phơi nhiễm với cuộn chênh từ
sóng radio (RF) thể tích, thiết bị cộng hưởng từ phải không chế SAR đầu, SAR một
phần cơ thể và SAR toàn thân.
Đối với phơi nhiễm với cuộn dây radio
(RF) cục bộ, thiết bị cộng hưởng từ phải điều khiển SAR cục bộ và SAR toàn
thân.
CHÚ THÍCH 1 Tùy thuộc vào trường hợp
phơi nhiễm thực tế cho trước - được xác định bởi các kích thước của cuộn chênh
từ sóng radio (RF) và kích thước của bệnh nhân và vị trí tương đối của bệnh
nhân so với cuộn dây - một trong các khía cạnh của SAR sẽ là yếu tố giới hạn và
do đó sẽ xác định năng lượng sóng radio (RF) lớn nhất cho
phép truyền.
CHÚ THÍCH 2: Yêu cầu về
hiển thị SAR nêu trong 51.101.1.
*51.104. Bảo vệ chống phơi nhiễm trong
trường từ tĩnh
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đối với trường từ tĩnh, áp dụng các giới
hạn của chế độ vận hành dưới đây như được định nghĩa trong 51.101:
a) Chế độ vận hành bình thường gồm các
giá trị của trường từ tĩnh bằng hoặc nhỏ hơn 2 T;
b) Chế độ vận hành có điều khiển mức một
gồm các giá trị của trường từ tĩnh lớn hơn 2 T và bằng hoặc nhỏ hơn 4 T;
Vì đặc trưng ổn định của các giá trị
trường từ tĩnh nên khái niệm về hành động có chủ ý của người vận hành để vào chế độ vận
hành có điều khiển mức một là không cần thiết. Phải cung cấp tất cả các hành động
của người vận hành, thông tin cho bệnh nhân và người giám sát bệnh nhân như mô
tả trong 6.8.2 bb).
c) Chế độ vận hành có điều khiển mức hai
gồm các giá trị của trường từ tĩnh lớn hơn 4 T ở tâm.
51.105. Phương pháp chứng tỏ sự phù hợp
với các yêu cầu
51.105.1. Xác định trực tiếp các giới
hạn đầu ra gradient
Khi giới hạn đầu ra dựa trên việc xác
định trực tiếp thì việc thực hiện nghiên cứu và xác định giá trị ngưỡng phải
phù hợp với điều này.
Nghiên cứu phải thực hiện trên những
người tình nguyện. Thông số quan sát phải là ngưỡng PNS.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nghiên cứu phải có giao thức được xác
định rõ ràng, kể cả giai đoạn huấn luyện người tình nguyện thử nghiệm và thử
nghiệm đối với tính lặp lại của kinh nghiệm. Cỡ mẫu tối thiểu phải là 11. Các mẫu
đại diện phải được lấy từ những người trưởng thành có sức khỏe bình thường ở cả
hai giới.
Để xét đến tất cả các vị trí của bệnh
nhân phải xác định vị trí của trường hợp xấu nhất đối với một thời gian kích
thích hiệu quả và một người tình nguyện, bằng cách cho người tình nguyện dịch
chuyển từng bước trong hệ thống chênh từ.
Để xét đến tất cả các dạng sóng cho
phép ba tùy chọn sau:
a) phải ghi lại giá trị ngưỡng đối với
tất cả các dạng sóng đại diện,
b) phải ghi lại giá trị ngưỡng đối với
các dạng sóng hình sin hoặc hình thang và phải suy ra sự phụ thuộc của ngưỡng vào dạng
sóng đối với các dạng sóng khác từ những mô hình thích hợp, hoặc
c) đối với tất cả các dạng sóng, ngưỡng
phải được coi là bằng với giá trị ghi được đối với dạng sóng hình sin hoặc hình
thang.
Để xét đến toàn bộ dãy các khoảng thời
gian kích thích hiệu quả được hệ thống chênh từ cho phép, phải thử ít nhất ba
giá trị trên một nhóm 10 đến dãy
liên quan lớn nhất về mặt lâm sàng. Có thể sử dụng nội suy giữa các kết quả. Tất
cả các đầu ra gradient phải được thử độc lập, và khi không đạt được sự kích
thích ở giá trị đầu
ra gradient lớn nhất thì phải thử tổ hợp hai hoặc ba bộ gradient trong đó ít nhất
có một bộ được điều chỉnh ở đầu ra lớn nhất của nó.
Đối với mỗi dạng sóng gradient được thử,
đối với mỗi bộ gradient và mỗi thời gian kích thích hiệu quả, giá trị trung bình của ngưỡng
PNS phải được rút ra từ giá trị ngưỡng quan sát được trên người tình nguyện ở vị
trí của trường hợp xấu nhất.
Sự khác nhau về ngưỡng đối với cùng một
dạng sóng trên bộ gradient được quan sát trong nghiên cứu có thể được sử dụng
là cơ sở cho các hệ số
trọng số.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Báo cáo này tối thiểu phải quy định:
- dạng sóng và thời gian kích thích có
hiệu quả được sử dụng;
- thông số được sử dụng để mô tả đầu
ra gradient;
- vị trí của người tình nguyện trong
thiết bị
cộng
hưởng từ ở trường hợp xấu nhất;
- đặc tính nhân khẩu học liên quan của
người tình nguyện trong thiết bị cộng hưởng từ;
- số lượng người tình nguyện;
- giao thức nghiên cứu;
- các ngưỡng kích thích trung bình
quan sát được;
- các ngưỡng kích thích xác định trực
tiếp được công bố;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- các hệ số trọng số được công bố.
51.105.2. Xác định đầu ra
gradient lớn nhất
51.105.2.1. Yêu cầu chung để xác định
đầu ra gradient lớn nhất
Nhiệm vụ xác định sự phù hợp
Đối với từng bộ gradient, giá trị lớn
nhất trong không gian của đầu ra gradient trong không gian phù hợp phải được
xác định ở tốc độ khám cộng hưởng từ gradient lớn nhất, sử dụng dạng
sóng do thiết bị cộng hưởng từ cung cấp cho sử dụng lâm sàng hoặc dạng sóng
hình sin hoặc hình thang.
51.105.2.2. Xác định đầu ra gradient lớn
nhất đối với bệnh nhân
Việc xác định này phải bằng tính toán
a) hoặc bằng phép thử b) như sau:
a) Xác định sự phù hợp bằng tính toán
Khi đầu ra gradient được thể hiện dưới
dạng dB/dt, tính toán có thể dựa trên hình dạng hình học của cuộn dòng của cuộn
dây gradient, sử dụng luật Biot-Savart.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trường điện được tính theo công thức:
E = –¶A/¶t – ÑF
trong đó
A là điện thế của véc tơ từ
trường do dòng điện trong cuộn dây gradient sinh ra và
F là điện thế tĩnh điện do điện tích
gây ra (như mô tả thêm trong Mục 15 của phần giải thích)
Các mô hình thích hợp khác (như mô
hình không đồng nhất) có thể tạo ra các giá trị ngưỡng trường điện khác nhau và
có thể được sử dụng thay thế nếu nhà chế tạo đồng ý.
Điện thế của các véc tơ từ trường đối
với các phần chia bởi các đường thẳng có thể được tính cho từng phần
chia rồi cộng lại (như các véc tơ thành phần).
Báo cáo các kết quả:
- kích thước của không gian phù hợp và
tọa độ đường bao của chúng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- cường độ gradient lớn nhất G+,max;
G-,max
- giá trị tốc độ khám cộng hưởng từ
gradient lớn nhất;
- giá trị thời gian của đoạn dốc xuất
hiện khi chuyển mạch bộ gradient giữa các giá trị cường độ gradient lớn nhất
quy định
ở tốc độ khám cộng
hưởng từ lớn nhất (ms)
- giá trị đầu ra
gradient (dB/dt hoặc E)
- tọa độ của vị trí có đầu ra gradient
lớn nhất
- chi tiết về mô hình đối với độ dẫn
không đồng nhất của bệnh nhân, khi được sử dụng.
b) Xác định sự phù hợp của đầu ra
gradient bằng phép thử
Trang bị thử
1) Thiết kế cuộn dây tìm kiếm
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Từng thành phần của cuộn dây tìm kiếm
đều phải tròn và phải nhỏ so với bộ
gradient cần thử để đảm bảo độ chính xác. Thành phần của cuộn dây tìm kiếm gồm
n vòng dây có bán kính r. Chiều dài dọc trục của cuộn dây phải nhỏ hơn 20 % đường
kính của nó. Các thành phần của cuộn dây tìm kiếm phải được xác định bằng cách tính
toán hoặc đo. Độ lớn tức thời của thành phần dB/dt đồng trục với thành phần của
cuộn dây tìm kiếm phải được xác định từ điện áp đỉnh, Vcoil, sinh ra trong cuộn
dây do thay đổi luồng từ theo thời gian:

Ví dụ, thành phần của cuộn dây tìm kiếm
điển hình gồm 15 vòng dây đồng đường kính 0,6 mm cuộn quanh trục đường kính 50 mm (r
= 25 mm) tạo thành cuộn dây trong dài xấp xỉ 9 mm. Điện áp cảm ứng 200 mV tạo
ra dB/dt = 6,79 T/s đồng trục với cuộn dây tìm kiếm.
Từng thành phần riêng rẽ của cuộn dây
tìm kiếm phải có bộ suy giảm được hiệu chuẩn để cung cấp độ nhạy tương tự với từng
thành phần của cuộn dây tìm kiếm. Các tín hiệu của từng thành phần riêng rẽ của
cuộn dây tìm kiếm phải được đưa vào song song với bộ suy giảm có đầu ra bằng
căn bậc hai của tổng bình phương các đầu vào. Bộ suy giảm này phải có đầu ra là
điện áp, chính là điện áp của cuộn dây tìm kiếm. Hệ số nhạy liên quan đến điện
áp cuộn dây tìm kiếm Vout và dB/dt (T/s) là:
Vout = S dB/dt
Độ nhạy tối thiểu 0,01 V/T/s
được khuyến cáo để đo tín hiệu có biên độ trong khoảng nhỏ dB/dt (trong khoảng
1 T/s).
2) Hiệu chuẩn cuộn dây tìm kiếm
Cần hiệu chỉnh cuộn dây tìm kiếm để đo
hệ số nhạy S.
3) Thiết bị đo điện áp
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Thiết bị đo điện áp (máy hiện sóng có
lưu giữ) phải được đặt ở vị trí để có
thể thực hiện chính xác và không bị ảnh hưởng bởi các trường từ.
Điện áp của cuộn dây tìm kiếm phải được
nối với thiết bị đo điện áp bằng cáp có trở kháng cao; ví dụ cáp xoắn để tránh
vòng dạng sóng có thể xảy ra với cáp đồng trục. Các đầu ra của cuộn dây tìm kiếm có thể được nối
với máy hiện sóng nhờ bộ lọc analog, để giảm tối đa các thành phần tần số đóng
cắt, đối với các bộ khuếch đại gradient sử dụng nguồn đóng cắt.
4) Cơ cấu định vị
Phải có phương tiện để định vị và dóng thẳng
hàng cuộn dây tìm kiếm trong nam châm theo cách chắc chắn và
tái lập được. Cơ cấu định vị phải cho phép định vị cuộn dây tìm kiếm trong toàn
bộ không gian phù hợp.
Các phép đo:
Các phép đo phải được thực hiện trong
không gian phù hợp đối với mỗi bộ gradient, sử dụng dạng sóng do thiết bị cộng
hưởng từ cung cấp cho mục đích chẩn đoán hoặc các dạng sóng gradient hình sin
hoặc hình chữ nhật.
1) Tắt hoặc giảm tối đa máy phát tần số
radio để tránh nhiễu.
2) Tắt tất cả các bộ gradient trừ bộ
đang thử.
3) Điều chỉnh bộ
gradient ở tần số khám cộng
hưởng từ gradient lớn nhất với dạng sóng lặp lại.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5) Đo giá trị đỉnh Vout
của điện áp cuộn dây tìm kiếm tại vị trí đó.
6) Độ lớn của đầu ra gradient phải được
xác định bằng công thức dB/dt = Vout/S.
Báo cáo kết quả
Thông số chung:
Kích thước
- kích thước của không gian phù hợp
và tọa độ các đường biên của không gian đó
m
- giá trị lớn nhất của tốc độ khám cộng
hưởng từ gradient trên mỗi bộ gradient
mT/m/ms
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- cường độ gradient lớn nhất G+,max,
G-,min
mT/m
- giá trị thời gian của độ dốc xuất
hiện khi chuyển mạch bộ gradient giữa
các giá trị cường độ gradient lớn nhất
quy định ở tốc độ khám
cộng hưởng từ gradient lớn nhất
ms
- tọa độ của vị trí có đầu ra
gradient lớn nhất
m
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
T/s
51.105.2.3. Xác định trường tạp tán đầu
ra gradient như yêu cầu để báo cáo trong 6.8.3 bb
Để có thể đánh giá được phơi nhiễm đối
với nhân viên cộng hưởng từ, đối với mỗi bộ gradient giá trị lớn nhất trong
không gian của đầu ra gradient phải được xác định trong không gian phù hợp mở rộng, xem Hình 107a
và Hình 107b. Dạng điểm cụ thể phải đại diện cho các vị trí của trường hợp xấu
nhất nơi nhân viên cộng hưởng từ tiếp cận đến và có thể bị phơi nhiễm nhiều nhất
bởi bộ gradient đó.
CHÚ THÍCH Đối với các loại nam châm
trường ngang, trục của hình trụ (tức là trục của bệnh nhân) vuông góc với trục
nam châm. Thuật ngữ lỗi của bệnh nhân được thay thế bằng khe hở nam châm giữa
hai miếng bịt đầu cực; thuật ngữ chiều dài nam châm được thay bằng đường kính
miếng bịt đầu cực.
- Dạng điểm cụ thể phải được định vị
trên trục ảo xung quanh trục của bệnh nhân với đường kính bằng lỗi của bệnh
nhân nhỏ nhất tiếp cận được.
- Trụ bắt đầu tại tâm của nam châm và
kéo dài hơn khe hở lỗi của bệnh nhân (một nửa chiều dài nam châm) ít nhất là
0,5 m.
- Theo hướng trục của trụ, các điểm phải
có khoảng cách không lớn hơn 0,1 m.
- Đối với mỗi vị trí trục của trụ, phải
có tối thiểu 16 điểm cách đều nhau trên bề mặt trụ (tức là phân bố trên đường
tròn). Các vị trí phải bao gồm các vị trí nằm giữa hai trục gradient x và y (tức là
n x 45°, n = 1,
3, 5, 7).
- Vecto trường từ đối với mỗi đầu
ra gradient phải được tính bằng cách
sử dụng luật Biot-Savart hoặc được đo đối với mỗi điểm trên hình trụ.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Các giá trị độ lớn lớn nhất phải được
vẽ dọc theo vị trí trục của trụ. Phải đánh dấu vị trí trên trục của khe hở bore
của bệnh nhân.
CHÚ THÍCH Dạng điểm cũng được coi là
có liên quan khi đánh giá PNS có thể có đối với nhân viên cộng hưởng từ và minh họa
sự phân bố trường tương đối bên ngoài không gian mà bệnh nhân có thể tiếp cận.
Báo cáo kết quả:
· khoảng cách của các điểm dọc trục của trụ;
· số lượng các điểm, vòm;
· đồ thị các giá trị độ lớn lớn nhất dọc theo
trục của trụ.

Hình 107a - Nam châm hình trụ

...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CHÚ DẪN
a nam châm
b tâm của nam
châm
c trục bệnh nhân
và trục của trụ ảo
d đường kính
trụ ảo đại diện cho bore của bệnh nhân tối thiểu có thể tiếp cận
en các điểm của
bề mặt trụ ở đó phải xác
định độ lớn của tất cả ba vecto trường từ. Độ lớn lớn nhất của trường từ trên bề
mặt trụ tại khoảng cách zi tính từ tâm tại điểm bất kỳ trong các
điểm en đại diện cho trường hợp xấu nhất trên bề mặt fi.
Hình 107 -
Xác định giá trị lớn nhất trong không gian của đầu ra gradient
51.105.3. Xác định năng lượng tần số
radio
51.105.3.1. Nhiệt độ
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
51.105.3.2. Xác định SAR
SAR toàn bộ cơ thể phải được xác định
bằng cách đo năng lượng sóng radio (RF) hấp thụ và khối lượng bệnh nhân dựa
trên dữ liệu đầu vào của người vận hành hoặc bằng phương tiện phù hợp khác.
Năng lượng sóng radio (RF) hấp thụ mà thiết bị cộng hưởng từ xác định phải được
thử bằng phép đo có sử dụng một trong các phương pháp quy định dưới đây hoặc
phương pháp tương đương.
SAR một phần cơ thể phải được xác định
từ SAR toàn bộ cơ thể bằng cách áp dụng thuyết bền vững thích hợp có hiệu lực
hoặc mô hình thực nghiệm thể hiện mối liên quan giữa SAR một phần cơ thể với
kích thước của cuộn chênh từ sóng radio (RF) trong không gian, khối lượng kích
cỡ và bệnh nhân, và vị trí của bệnh nhân. Mô hình phù hợp để xác định khối lượng
bệnh nhân bị phơi nhiễm trong ví dụ để mô phỏng cơ thể bệnh nhân bằng các hình
trụ đồng nhất. Có thể xác định phân bố SAR cục bộ bằng mô hình lý thuyết hoặc bằng
thực nghiệm.
Mô hình áp dụng trong trường hợp SAR một
phần cơ thể và SAR cục bộ phải được khám bằng cách so sánh các giá trị có được
từ mô hình với các giá trị tính toán trực tiếp từ phép đo (ví dụ: phân bố nhiệt
độ trong ảnh ảo).
Phải xác định sự phù hợp bằng cách xem
xét các phép đo khám việc xác định SAR trên toàn bộ dải mức công suất mà thiết
bị cộng hưởng từ có thể đưa ra, đảm bảo vận hành an toàn bởi các giới hạn SAR
quy định.
Phương pháp có thể chấp nhận để xác định
năng lượng sóng radio (RF) hấp thụ được gọi là “phương pháp năng lượng xung” và
“phương pháp nhiệt lượng”.
Phương pháp năng lượng xung
a) Định nghĩa năng lượng xung:
góc ở đỉnh
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ptới 2
Năng lượng tần số radio giá trị đỉnh
đưa vào các đầu nối của cuộn chênh từ sóng radio (RF) khi có tải là đối tượng
thử 2.
Pphản xạ 2
Năng lượng tần số radio giá trị đỉnh
được phản xạ từ các đầu nối của cuộn chênh từ sóng radio (RF) khi có tải là đối
tượng thử 2.
Pkhác 2
Năng lượng tần số
radio giá trị đỉnh được hấp thụ hoặc tiêu tán trong thiết bị cộng hưởng từ
khi cuộn dây có tải là đối tượng thử 2. Ví dụ, trong hệ thống cầu phương được
cấp nguồn bởi bộ chia bốn cổng, đây là năng lượng tần số radio giá trị đỉnh
được truyền đến tải giả.
Pđối tượng
Năng lượng tần số
radio giá trị đỉnh thực được truyền đến đối tượng thử 2.
Pcuộn dây
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ptới 1
Năng lượng tần số
radio giá trị đỉnh đưa vào các đầu nối của cuộn chênh từ sóng radio (RF) khi
có tải là đối tượng
thử 1.
Pphản xạ 1
Năng lượng tần số radio giá trị đỉnh
được phản xạ từ các đầu nối của cuộn chênh từ sóng radio (RF) khi có tải là đối
tượng thử 1.
Pkhác 1
Năng lượng tần số radio giá trị đỉnh
được hấp thụ hoặc tiêu tán trong thiết bị cộng hưởng từ khi cuộn chênh từ
sóng radio (RF) có tải là đối tượng thử 1. Ví dụ, trong hệ thống cầu phương
được cấp nguồn bởi bộ chia bốn cổng, đây là năng lượng tần số radio giá trị đỉnh
được truyền đến tải giả khi cuộn
chênh từ sóng radio (RF) có tải là đối tượng thử nghiệm 1.
B1
Cảm ứng từ của trường từ
tần số radio được sử dụng trong quang phổ và mô tả cộng hưởng từ.
b) Trang bị thử
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đối tượng thử 1 phải là đối tượng thử
nghiệm được sử dụng trong quá trình hiệu chuẩn các góc ở đỉnh và quá trình
xác định tổn hao của cuộn chênh từ sóng radio (RF) bằng phương pháp năng lượng
xung. Đối tượng thử 1 phải được đổ vật liệu có thể được mô tả bằng thiết bị cộng
hưởng từ nhưng độ dẫn của vật liệu không được nhỏ hơn 0,003 S/m. Điều này đảm bảo
rằng các tổn hao tần số radio của đối tượng thử nghiệm là không đáng kể, do đó
cho phép đo tổn hao của các cuộn dây trong khi góp phần nhỏ vào tổn hao của hệ
thống. Đối tượng thử 1 phải có kích cỡ nhỏ và gọn. Thể tích của đối tượng thử
nghiệm phải nhỏ hơn 250 ml. Kích thước dài nhất của đối tượng thử không được vượt quá
ba lần kích thước ngắn nhất.
Đối tượng thử 2
Đối tượng thử 2 phải là đối tượng thử
mà SAR của chúng phải được xác định bằng cách sử dụng phương pháp năng lượng
xung. Đối tượng thử này cần có đặc tính mang tải của cuộn dây tương tự với mang
tải là bệnh nhân.
Đối với SAR toàn bộ cơ thể, khối lượng
bệnh nhân và đối với SAR qua đầu, khối lượng đầu của bệnh nhân có thể được coi
là khối lượng tương đương của ảnh ảo này.
c) Quy trình đo
Phải sử dụng quy trình thử dưới đây hoặc
quy trình đo tương tự
1) Bố trí thử nghiệm
Phải thực hiện phép đo năng lượng tần
số radio giá trị đỉnh bằng cách sử dụng máy hiện sóng có băng tần vượt quá 5 lần
hoặc lớn hơn so với tần số dự kiến và bộ ghép nối hai hướng lớn hơn 30 dB hoặc
bộ suy giảm.
Nối bộ ghép nối theo hướng, máy hiện
sóng và các thiết bị đo năng lượng khác bằng đường dây truyền đồng trục trở kháng 50 W như thể hiện trên Hình 105 hoặc
Hình 106. Đảm bảo rằng đầu vào máy hiện sóng được kết thúc bằng trở kháng 50 W. Máy hiện sóng phải
được đặt ở vị trí để nó
được chính xác và
không bị ảnh hưởng bởi các trường từ.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CHÚ THÍCH Không thể hiện điện trở kết
thúc 50 W trên máy hiện
sóng.
Hình 105 - Bố
trí trang bị thử dùng cho phương pháp năng lượng xung để đo
SAR bằng cuộn chênh từ sóng radio (RF) cầu phương

CHÚ THÍCH Không thể hiện điện trở
kết thúc 50 W trên máy hiện
sóng.
Hình 106 - Bố
trí trang bị thử cho phương pháp năng lượng xung để đo SAR bằng cuộn chênh từ
sóng radio (RF) tuyến tính
2) Quy trình đo
Bước 1: đặt đối tượng
thử 1 tại tâm trong thiết bị cộng hưởng từ.
Bước 2: hiệu chuẩn góc ở đỉnh. Phải sử
dụng phương pháp chuẩn (phần cứng và/hoặc phần mềm) do từng nhà chế tạo quy định
để đặt góc ở đỉnh đến giá trị dự kiến đối với kiểu khám cộng hưởng từ được chọn.
Phải sử dụng cùng góc ở đỉnh cho phép đo năng lượng của đối tượng thử 1 và đối
tượng thử 2.
Bước 3: bắt đầu quy trình khám cộng
hưởng từ được chọn cho phép đo SAR. Đảm bảo rằng thời gian khám cộng hưởng từ đủ
dài để cho phép hoàn thành các phép đo dự kiến hoặc đặt thiết bị khám cộng hưởng
từ để lặp lại trình tự xung một cách vô hạn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bước 5: đo suy giảm năng lượng của đường
truyền giữa cuộn chênh từ sóng radio (RF) và bộ ghép nối và đường truyền giữa cổng
tải giả và máy
hiện sóng.
Bước 6: chuyển đổi các phép đo điện áp
đỉnh-đỉnh thành năng lượng hiệu quả tại đỉnh xung. Năng lượng hiệu quả tại đỉnh
xung được đo trên máy hiện sóng là:
Vpp2 / 8 x Z0
trong đó
Vpp là giá trị điện áp đỉnh-đỉnh
đo được;
Z0 là trở kháng đặc trưng của
đường truyền (và cũng là trở kháng đầu vào của máy hiện sóng).
Năng lượng giá trị đỉnh tính được tại
máy hiện sóng phải được chuyển đổi thành năng lượng giá trị đỉnh đến các đầu
nối vào của cuộn chênh từ sóng radio (RF) bằng cách coi suy giảm trên đường
truyền và ghép nối của bộ ghép nối theo hướng là không đổi.
Đối với cuộn chênh từ sóng radio (RF)
cầu phương:
Ptới = Pfm x a1 / a3
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Pkhác = Pom / a4
trong đó
Pfm là năng lượng tới
đo được tại đầu cực của máy hiện sóng;
Prm là năng lượng phản
đo được tại đầu cực của máy hiện sóng;
Pom là năng lượng
“khác” đo được tại đầu cực của máy hiện sóng;
a1 suy giảm năng lượng
dưới dạng phân số (không tính bằng dB) của bộ ghép nối năng lượng tới;
a2 suy giảm năng lượng
dưới dạng phân số (không tính bằng dB) của bộ ghép nối năng lượng tới;
a3 suy giảm năng lượng
dưới dạng phân số (không tính bằng dB) của bộ ghép nối năng lượng
khác;
a4 suy giảm giữa cổng
tải giả và máy hiện sóng (=0 đối với cuộn chênh từ sóng radio (RF) tuyến tính).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
a = a0 (R2
+1)/2R
trong đó
a suy giảm cuối cùng;
a0 suy giảm trong
điều kiện không tương thích;
R tỷ số điện áp sóng đứng.
Tính năng lượng giá trị đỉnh mà cuộn
dây không mang tải hấp thụ:
Pcuộn dây = Ptới 1
– Pphản xạ 1 – Pkhác 1
Chú ý rằng Ptới 1, Pphản xạ 1 và Pkhác 1 rút ra từ thực
nghiệm sử dụng đối tượng thử 1.
Sau khi phép đo ban đầu được thực hiện
trên đối tượng thử 1, lặp lại phép đo này sử dụng đối tượng thử nghiệm 2.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tính năng lượng giá trị đỉnh mà đối tượng
thử nghiệm 2 hấp thụ, Pđối tượng:
Pđối tượng = Ptới 2
– Pphản xạ 2 – Pkhác 2 – Pcuộn dây
Chú ý rằng Ptới 2, Pphản
xạ 2 và Pkhác 2 đều có được từ các phép đo trên đối tượng thử
nghiệm 2, trong đó Pcuộn dây có được từ tính toán khi sử dụng đối tượng
thử nghiệm 1.
Tính năng lượng trên mỗi xung được đối
tượng hấp thụ: tích phân từng dạng sóng tần số radio trong chuỗi xung và tìm độ
rộng các xung chữ nhật tương đương (về mặt năng lượng) mà có các mức năng lượng
đỉnh giống với
chuỗi xung đang xét. Phải lặp lại bước này đối với mỗi kiểu xung tần số radio
trong chuỗi xung (ví dụ các xung 90° cũng như các xung 180°). Các xung chữ nhật
tương đương phải có năng lượng đỉnh và deposition năng lượng giống với xung
đang xét. Độ rộng xung, WChữ nhật phải được tính từ dạng sóng xung tần
số radio, B1(t) chuẩn hóa theo giá trị đỉnh B1đỉnh như
sau:

Ví dụ, xung dạng sinc (hoặc sin q/ q) gần tương đương về
mặt năng lượng với xung chữ nhật có cùng giá trị đỉnh của năng
lượng và một nửa chiều rộng lobe chính của xung dạng sinc.
Tính năng lượng trên mỗi xung, Ui:
Ui = Pđối tượng x
Wchữ nhật
Tính tổng năng lượng trung bình, Ptb,
do đối tượng hấp thụ trong thời gian đo. Tổng năng lượng trung bình đối với các
chuỗi xung có thời gian lặp xung (TR) đã được xác định là tổng của tất cả các
năng lượng trong tất cả các xung trong mỗi lần lặp lại chia cho TR:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đối với chuỗi xung trong đó TR chưa
xác định (ví dụ chuỗi
xung đơn ngắn), tổng năng lượng trung bình phải được tính từ tổng tất cả các
năng lượng trong tất cả các xung được sử dụng trong quá trình khám cộng hưởng từ
chia cho tổng thời gian khám cộng hưởng từ, S:

Tính SAR đối với đối tượng thử 2 có khối lượng
tương đương là M:
SAR = 
d) Báo cáo kết quả, phương pháp năng
lượng xung
Phải ghi lại các dữ liệu sau:
1) Kiểu cuộn chênh từ sóng radio (RF)
sử dụng trong phép thử
2) Giá trị đo được của SAR đối với từng
đối tượng thử và chuỗi xung sử dụng
Thông số
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Năng lượng tới giá trị đỉnh
W
- Năng lượng phản xạ giá trị đỉnh
W
- Năng lượng tổn hao trên cuộn dây
W
- Tổn hao năng lượng khác giá trị đỉnh
W
- Dạng sóng tần số radio
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Góc ở đỉnh
độ
- Độ rộng xung chữ nhật tương đương
(Wchữ nhật)
ms
- TR hoặc S
ms
- Thông số bất kỳ khác yêu cầu để đảm
bảo độ tái lập
- Năng lượng sóng radio (RF) hấp thụ
tính được (Ptb)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Khối lượng của đối tượng thử 2
kg
- SAR đo được
W/kg
- SAR được hiển thị
W/kg
- Độ chính xác của phép đo năng lượng
% (hoặc dB)
3) SAR hiển thị được điều khiển bởi
thiết bị cộng hưởng từ ≥ SAR đo được
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phương pháp nhiệt lượng
e) Trang bị thử
Đối tượng thử 1
Đối tượng thử 1 phải là đối tượng được
sử dụng trong quá trình hiệu chuẩn các góc ở đỉnh và trong quá trình xác định tổn hao của
cuộn chênh từ sóng radio (RF) bằng phương pháp xung năng lượng. Đối tượng thử 1
phải được đổ đầy vật liệu để có thể tạo hình ảnh bởi thiết bị cộng
hưởng từ nhưng có độ dẫn không được nhỏ hơn 0,003 S/m. Điều này đảm bảo tổn hao
tần số radio của đối tượng là không đáng kể, do đó cho phép thực hiện phép đo tổn hao cuộn
dây mà không góp thêm vào tổn hao của hệ thống. Đối tượng thử 1 phải nhỏ và gọn.
Thể tích của đối tượng thử phải nhỏ hơn 250 ml. Kích thước dài nhất của đối tượng
thử nghiệm không được lớn hơn ba
lần kích thước ngắn nhất.
Đối tượng thử 3
Đối tượng thử 3 phải là đối tượng thử
hình vòng khuyên mà SAR của chúng phải được xác định bằng cách sử dụng phương
pháp nhiệt lượng. Đối tượng thử này cần có đặc tính mang tải của cuộn dây tương tự với
mang tải là bệnh nhân. Để xác định SAR toàn bộ cơ thể, đối tượng thử cần được
mang tải tương đương với người trong phạm vi từ 50-90 kg. Để xác định SAR qua đầu,
đối tượng thử này cần có đặc tính mang tải tương tự với đầu của bệnh nhân trong
cuộn chênh từ sóng radio (RF) qua đầu. Trong trường hợp thứ nhất, khối lượng bệnh
nhân, và trong trường hợp thứ hai, khối lượng đầu của bệnh nhân có thể được ấn
định dưới dạng ảnh ảo (khối lượng ảnh ảo tương đương, Mtương đương).
Vòng khuyên phải đủ rộng để chứa được đối tượng thử 1.
CHÚ THÍCH Ví dụ bản thân ảnh ảo có thể
chứa đầy dung dịch natri clorua trong nước và nồng độ được điều chỉnh để có độ
dẫn tạo ra tải quy định ở trên. Dung dịch điền đầy này cũng có thể chứa vật liệu
doping như mangan clorua để rút ngắn đặc tính hồi phục của dung dịch để giữ cho
nó không nhìn thấy được trên ảnh cộng hưởng từ. Thể tích tổng của đối tượng thử có thể
nhỏ hơn 25 l, đối tượng thử đặt hoàn toàn trong trường sóng radio (RF) của cuộn
chênh từ sóng radio (RF) (tức là chiều dài hình học của đối tượng thử < chiều
dài của cuộn dây hiệu quả).
Đặc tính nhiệt của đối tượng thử hình
khuyên phải thích hợp để duy trì độ tăng nhiệt 2 °C cao hơn nhiệt độ môi trường
(trong vật liệu độn) trong vòng 5 % trong 1 h.
Phép đo nhiệt độ
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
f) Bố trí thử
Đặt trang bị đo nhiệt độ ở vị trí để độ
chính xác không bị ảnh hưởng bởi trường từ tĩnh hoặc bởi nhiễu tần số radio.
Đặt đối tượng thử 3 tại tâm trong cuộn
chênh từ sóng radio (RF) trước khi khám cộng hưởng từ.
Số lượng dữ liệu thu được khi khám cộng
hưởng từ phải được điều chỉnh sao cho việc khám cộng hưởng từ đủ dài để tạo ra
độ tăng nhiệt tối thiểu 20 lần lớn hơn sai số của hệ thống đo nhiệt độ. Đối với
dung dịch nước, phơi 1 h trong SAR 1 W/kg sẽ tạo ra độ tăng nhiệt trung bình
0,86 °C (0,0143 °C/min), giả thiết là không có tổn thất nhiệt. Có thể đo được độ
tăng nhiệt cao hơn tại các vị trí quan trọng hơn độ tăng nhiệt thấp. Tuy nhiên,
tăng nhiệt cao hơn có thể tăng sai số tổn thất nhiệt.
g) Quy trình đo SAR
Bước 1: cân bằng đối tượng thử 3 trong
lõi nam châm không có luồng khí thổi qua.
Bước 2: đo nhiệt độ ban đầu của lõi
thiết bị cộng hưởng từ và nhiệt độ ban đầu của phòng khám cộng hưởng
từ.
Bước 3: lấy đối tượng thử nghiệm ra khỏi
lõi và lộn ngược ba lần để khuấy vật liệu độn.
Bước 4: đo nhiệt độ ban đầu, Ti,
của đối tượng thử bằng cách ấn cảm biến nhiệt độ vào vật liệu độn. Nhiệt độ ban
đầu của lõi không được chênh lệch với Ti quá 1 °C.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bước 6: hiệu chuẩn góc ở đỉnh. Phương
pháp chuẩn (phần cứng và/hoặc phần mềm) được từng nhà chế tạo sử dụng phải được
sử dụng để điều chỉnh góc ở đỉnh đến giá trị mong muốn đối với kiểu khám cộng
hưởng từ được chọn.
Bước 7: khám cộng hưởng từ với dữ liệu
thu thập đủ để đảm bảo phép đo dự kiến (xem điểm f) ở trên).
Lấy đối tượng thử ra khỏi lõi và đo
nhiệt độ cuối, Tf, của dung dịch độn của đối tượng thử 3 sau khi lộn
ngược đối tượng thử 3 lần.
Nếu Tf – Ti <
2 °C, có thể tiếp
tục thực nghiệm bằng cách đặt đối tượng thử trong lõi và bắt đầu lại quá trình
khám cộng hưởng từ. Không được tính thời gian trễ của phép đo trong tổng thời
gian.
Đo nhiệt độ cuối của lõi và nhiệt độ
cuối của phòng khám cộng hưởng từ. Nếu nhiệt độ phòng khám cộng hưởng từ hoặc
nhiệt độ lỗi thay đổi quá 0,5 °C/h thì thực nghiệm cần được lặp lại trong các
điều kiện ổn định hơn.
Tính năng lượng, U (tính bằng J) được đối
tượng thử 3 hấp thụ theo khối lượng, M, của chất độn (tính bằng kg) và nhiệt
dung riêng, c, của dung môi độn (tính bằng J/kg.°C):
U = M x c(Tf – Ti)
Tính năng lượng hấp thụ trung bình P (tính bằng W)
trong thời gian khám cộng hưởng từ t (tính bằng s):
P = U/t
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
SAR = P/M
Tính SAR biểu kiến, SARapp
sử dụng:
SARapp = P/Mtương
đương
trong đó Mtương đương là khối
lượng
của
bệnh nhân được mô phỏng bởi đối tượng thử nghiệm 3 (ví dụ được
khám bằng cách so sánh hệ số chất lượng cuộn dây tương ứng).
h) Báo cáo kết quả, phương pháp nhiệt
lượng
Thông số
Kích thước
- Nhiệt độ ban đầu của đối tượng thử
3
°C
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
°C
- Nhiệt độ ban đầu của lõi
°C
- Nhiệt độ cuối của lõi
°C
- Nhiệt độ ban đầu của phòng khám cộng
hưởng từ
°C
- Nhiệt độ cuối của phòng khám cộng
hưởng từ
°C
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
kg
- Khối lượng tương đương của đối tượng
thử 3 (Mtương đương)
kg
- Thể tích của đối tượng thử 3
l
- Các kích thước khác của đối tượng
thử 3
m
- Mô tả dạng sóng tần số radio
–
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
độ
- Thời gian lặp (TR)
ms
- Thời gian phản hồi (TE)
ms
- Số lát cắt
–
- Số lượng dội lại
–
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
s
- Thông số bất kỳ khác cần để đảm bảo
độ tái lập
- SARapp
W/kg
- SAR được hiển thị bởi thiết bị cộng
hưởng từ
W/kg
- Vị trí đo nhiệt độ trong phép đo
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(có/không)
51.105.3.3. Xác định trường từ tạp tán
B1 như yêu cầu
trong báo cáo ở 6.8.3 bb)
Trường từ truyền sóng radio (RF) lớn
nhất của cuộn chênh từ sóng radio (RF) phải được đo hoặc tính và được ghi lại
trong báo cáo tại các vị trí có thể tiếp cận và liên quan đến nhân viên cộng hưởng
từ. Trường B1(z) phải được đo hoặc tính ở các điểm dọc
theo đường thẳng dọc trục của bệnh nhân bắt đầu tại tâm của nam châm.
CHÚ THÍCH Đối với các nam châm hình trụ,
trục bệnh nhân tương ứng với trục nam châm; đối với kiểu nam châm trường ngang,
trục của hình trụ (tức là trục của bệnh nhân) vuông góc với trục nam châm. Chỉ thích
hợp đo/tính trường B1 dọc theo trục bệnh nhân vì trường B1
được coi là đủ đồng nhất tròn từng mặt phẳng của cuộn chênh từ sóng radio (RF).
- Khoảng cách giữa mỗi điểm kế tiếp
không được nhỏ hơn 0,1 m.
- Độ lớn của trường B1 phải được đo
hoặc tính cho mỗi điểm.
- Khi đo, phép đo có thể được thực hiện
bằng cách sử dụng cuộn dây pick-up thích hợp và bộ phân tích mạng hoặc bằng cách sử dụng
máy phát tín hiệu sóng radio (RF) và bộ phân tích phổ. Đối với các nam
châm có trường từ sóng radio (RF) phân cực vòng, chỉ nên xác định thành phần hướng
tâm.
- Phải tính tỷ số giữa B12(z)
và B12(0) cho mỗi điểm.
- Giá trị tính được đối với từng điểm ở
khoảng cách z tính từ tâm nam
châm phải áp dụng cho tất cả các vị trí trên mặt đáy của lõi ảo để đại diện cho
điều kiện trường hợp xấu nhất trên mặt đáy, xem Hình 108a và 108b. Mặt đáy của
lõi được xác định bằng góc mở được cho bởi hình chiếu từ tâm nam châm đến góc mở của nam
châm. Chiều cao của lõi được cho bằng khoảng cách z. Đối với các kiểu nam châm
trường ngang, mặt đáy được xác định bằng cách xếp chống các mặt đáy bằng cách
quay lõi xung quanh tâm nam châm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Báo cáo kết quả:
- tọa độ các điểm nơi đo hoặc tính B12(z)
- độ lớn của trường từ B12(z)
tại các điểm được đo so với độ lớn B12(0) tại tâm

Hình 108 a) - Nam châm hình trụ

Hình 108 b) -
Nam châm trường ngang
CHÚ DẪN
a nam châm
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
c trục của bệnh nhân
zi khoảng cách của
điểm e, đến tâm
B1(z) phải được xác định bằng
cách đo hoặc tính toán. Tỷ số giữa B12(z) và B12(0)
phải được tính cho mỗi điểm ei. Giá trị tính được tại điểm ei
phải áp dụng đối với phần xám tương ứng fi. Giá trị tại điểm ei
luôn đại diện cho trường hợp xấu nhất đối với vị trí bất kỳ trong vùng fi.
Hình 108 -
Xác định trường từ tạp tán B1
Mục
9 - Hoạt động không bình thường và trạng thái lỗi; Phép thử môi trường
Áp dụng các điều trong mục này của
Tiêu chuẩn chung, ngoài ra còn:
52. Hoạt động không
bình thường và trạng thái lỗi
52.1. Bổ sung:
Phải đánh giá an toàn của thiết bị cộng
hưởng từ theo các yêu cầu của Điều 52 trong tiêu chuẩn kết hợp IEC
60601-1-4.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phải bảo vệ các chương trình điều khiển
phần mềm và phần cứng chống tiếp cận hoặc sửa đổi không được phép.
CHÚ THÍCH Sự thay đổi không được phép
phần mềm hoặc phần cứng có thể tạo ra các điều kiện nguy hiểm và có thể làm cho
thiết bị cộng hưởng từ không còn phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn này.
Mục
10 - Yêu cầu về kết cấu
Áp dụng các điều trong mục này của
Tiêu chuẩn chung, ngoài ra còn:
59. Kết cấu và bố trí
Áp dụng điều này của Tiêu chuẩn chung,
ngoài ra còn:
Bổ sung:
59.101. Hỗn hợp lạnh dạng lỏng và hỗn
hợp lạnh dạng khí
Đối với thiết bị cộng hưởng từ có
trang bị nam châm siêu dẫn thì phải có phương tiện để theo dõi mức hỗn hợp lạnh.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Áp dụng các phụ lục của Tiêu chuẩn
chung, ngoài ra còn:
Phụ lục L
(tham khảo)
Tài liệu viện dẫn - Các tài liệu đã đề cập
trong tiêu chuẩn này
Thay thế:
IEC 60601-1-2 : 2001, Medical
electrical equipment
- Part 1: General requirements for safety - Collateral standard:
Electromagnetic compatibility - Requirements and tests (Thiết bị điện y tế -
Part 1: Yêu cầu chung về an
toàn - Tiêu chuẩn kết hợp: Tương thích điện từ - Yêu cầu và phép thử)
Bổ sung:
IEC 60651 : 1979, Sound level
meters (Máy đo mức âm thanh)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Sửa đổi 2 (2000)
IEC 60788 : 1984, Medical radiology - Terminology
(X quang y tế - Thuật ngữ)
IEC 60804 : 2000, Integrating-averaging
sound level meters (Máy đo mức âm thanh lấy trung
bình tích phân)
ISO 3846 : 1989, Liquid flow
measurement in open channels by weirs and flumes - Rectangular
broad-crested weirs (Đo luồng chất lỏng trong các kênh hở bằng đập nước và máng
nước)
ISO 3864, Safety colours
and safety signs (Màu an toàn và dấu hiệu an toàn)
ISO 1999 : 1990, Acoustics -
Determination of occupational noise exposure and estimation of noise-induced
hearing impairment (Âm thanh - Xác định phơi nhiễm tạp âm nghề nghiệp
và đánh giá ảnh hưởng thính giác do tạp âm gây ra)
ISO 7731 : 1986, Danger signals for
work places - Auditory danger signals (Tín hiệu nguy hiểm dùng
cho môi trường làm
việc - Tín hiệu nguy hiểm nghe thấy được)
Phụ lục AA
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ví dụ về các biển cảnh báo và biển cấm1)

Biển cảnh báo
Cảnh báo, rủi ro trường từ mạnh

Biển cảnh báo
Cảnh báo, rủi ro bức xạ không ion
hóa

Biển cấm
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Biển cấm
Người mang vật cấy bằng kim loại
không được tiếp cận

Biển cấm
Mảnh kim loại hoặc đồng hồ không được
tiếp cận
Ví dụ về ghi nhãn đối với các thiết bị
y tế và các hạng mục khác về an toàn trong môi trường MR được giới thiệu trong
ASTM F2503-05 1). Điều này đặc biệt liên quan đến ghi
nhãn đối với thiết bị an toàn MR, thiết bị ổn định MR và thiết bị không an toàn
MR.
Phụ lục BB
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hướng dẫn và thuyết minh một số điều khoản cụ
thể
Liên quan đến Lời giới thiệu.
Khía cạnh mới quan trọng nhất được đưa
vào tiêu chuẩn này là hiện nay người thuê nhân viên cộng hưởng từ khuyến khích
xác định các quy tắc và thiết lập các yêu cầu đối với nhân viên cộng hưởng từ, bởi
vì ở một số nước,
luật pháp đang hoặc sẽ giới hạn nhiễu điện từ do hệ thống MR gây ra mà người
lao động có thể phải chịu.
Liên quan đến 2.12.102 Cộng hưởng từ
(MR)
Hiện tượng MR xuất hiện khi tần số bức
xạ điện từ bằng tần số tiến động larmor của các mô men từ hạt nhân hoặc mô men
từ điện tử.
Liên quan đến 2.12.103 Giám sát y tế
Giám sát y tế đòi hỏi đánh giá rõ ràng
bởi nhân viên y tế có trình độ về rủi ro và lợi ích của từng lần khám cộng hưởng
từ cụ thể, hoặc quyết định bởi người có trình độ thay cho nhân viên y tế mà bệnh
nhân đáp ứng tập hợp các tiêu chí mục tiêu, được nhân viên y tế có trình
độ lập ra, đối với các tham số của lần khám cộng hưởng từ và điều kiện bệnh
nhân. Giám sát y tế có thể đòi hỏi theo dõi sinh lý của bệnh nhân bằng thiết bị
được thiết kế để đo hoặc đánh giá các trạng thái sinh lý khác nhau (ví dụ nhịp
tim, dấu hiệu ECG, huyết áp, sự định lượng ô xy huyết dạng xung; nhưng xem các
cảnh báo trong 6.8.2 bb)).
Liên quan đến 2.12.107 Nhân viên cộng
hưởng từ
Khái niệm nhân viên cộng hưởng từ liên
quan đến mức phơi nhiễm của một nhóm người lao động với nhiễu điện từ (EMF) do
hệ thống MR phát ra. Mức này có thể cao hơn giá trị mà các quy định pháp lý cho
phép ở một số nước
đối với người lao động nói chung, do đó cần đưa ra các giới hạn phơi nhiễm EMF
đặc biệt đối với nhân viên cộng hưởng từ như định nghĩa trong tiêu chuẩn này.
Các giới hạn phơi nhiễm EMF quy định trong tiêu chuẩn này cho phép nhân viên cộng
hưởng từ có thể đi vào khu vực tiếp cận có điều khiển ngay cả khi đang khám cộng hưởng
từ. Mức giới hạn này và rủi ro đưa đến
cho nhân viên cộng hưởng từ sẽ được thảo luận thêm trong phụ lục này.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ngoài nhân viên cộng hưởng từ, có thể
nhận thấy có hai nhóm cá thể khác cũng bị phơi nhiễm EMF do hệ thống MR phát
ra. Đó là những người tình nguyện MR và những người chăm sóc bệnh nhân
Người tình nguyện MR là người tự nguyện
đồng ý với quy trình MR để nghiên cứu được các quy định pháp lý cho phép, và do
đó chịu các giới hạn do ủy ban về đạo đức cho phép. Người tình nguyện MR, do
đó, không được coi là nhân viên cộng hưởng từ theo định nghĩa của tiêu chuẩn
này.
Người chăm sóc bệnh nhân MR là người
trợ giúp bệnh nhân trong quá trình khám và do đó có thể chịu phơi nhiễm
cùng mức độ với bệnh nhân. Do đó, người chăm sóc bệnh nhân MR có thể được thông
báo và che chắn theo cùng một cách như với bệnh nhân. Người chăm sóc bệnh nhân
MR là người không được sử dụng như nhân viên cộng hưởng từ nên không được coi
là nhân viên cộng hưởng từ theo định nghĩa của tiêu chuẩn này.
Liên quan đến 2.101.1 Tốc độ hấp thụ
riêng (SAR)
SAR là hàm của tần số (tăng xấp xỉ
theo bình phương của tần số), kiểu và số lượng xung tần số radio, độ rộng và tốc
độ lặp của các xung và kiểu cuộn dây được sử dụng để truyền. Các yếu tố sinh học
quan trọng là độ dẫn của mô, trọng lượng riêng của mô, vùng cơ thể cần khám, kiểu
mô (ví dụ mức độ
tràn) và khối lượng của bệnh nhân.
Liên quan đến 6.8 Tài liệu kèm theo
Ngoài các yêu cầu thông thường đối với cơ sở và kết
cấu thích hợp, phải xem xét các ảnh hưởng của kết cấu xung quanh về sự đồng nhất
của trường từ và ảnh hưởng của các trường từ lên thiết bị khác. Các đồ vật bằng
kim loại gần nam châm có thể hút mạnh và/hoặc chịu mô men mạnh bởi trường từ
tĩnh của thiết bị cộng hưởng từ, ngay cả khi nằm trong hoặc trên cơ thể bệnh
nhân.
Các tín hiệu tần số radio (RF) từ thiết
bị cộng hưởng từ có thể ảnh hưởng đến thiết bị gần kề hoặc cơ cấu điện tử mà bệnh
nhân, người vận hành hoặc những người khác mang khi đang ở trong thiết bị cộng
hưởng từ hoặc vùng lân cận.
Liên quan đến 6.8.2 Hướng dẫn sử dụng
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Liên quan đến an toàn của bệnh nhân,
các tài liệu này cần có thông tin cụ thể quy định về nội dung của chương trình
khám cộng hưởng từ trước của bệnh nhân, giám sát y tế của bệnh nhân trong trường
hợp sử dụng thiết bị cộng hưởng từ theo các chế độ vận hành có điều khiển và
các quy trình khẩn cấp.
Liên quan đến an toàn của nhân viên,
các tài liệu tương tự cần có thông tin cụ thể về việc vận chuyển các thiết bị điện tử
và/hoặc các đồ vật kim loại trong khu vực tiếp cận có điều khiển và sử dụng hỗn
hợp lạnh trong trường hợp sử dụng
nam châm siêu dẫn.
Liên quan đến 6.8.2 aa) Sàng lọc
trước đối với bệnh nhân và nhân viên cộng hưởng từ
Khám MR thường được coi là chống chỉ định
[1]3[2]
đối với bệnh nhân có vật cấy bằng kim loại hoặc vật cấy hoạt hóa điện, từ hoặc
cơ (ví dụ máy trợ tim) vì trường từ và trường điện từ do thiết bị cộng hưởng từ
sinh ra có thể tạo ra lực hút và/hoặc mô men mạnh đến vật cấy bằng kim loại hoặc
có thể gây nhiễu đến vận hành của các thiết bị này.
Yêu cầu này cũng áp dụng cho những bệnh
nhân đang sử dụng hệ thống trợ giúp sự sống bên ngoài hoạt hóa điện, từ hoặc
cơ.
Cấm chỉ định thực hiện quá trình sàng
lọc đối với các bệnh nhân có kẹp chống phình động mạnh trong não trừ khi bác sỹ đảm
bảo chắc chắn rằng kẹp không bị từ hóa.
Khám bằng thiết bị cộng hưởng từ, liên
quan đến sàng lọc trước bệnh nhân, đòi hỏi có cảnh báo cụ thể trong các trường
hợp sau:
- bệnh nhân có kẹp phẫu thuật cấy (kẹp
cầm máu) hoặc vật liệu từ tính khác (trường từ có thể làm tuột kẹp);
- bệnh nhân liên quan đến nghề nghiệp
hoặc hoạt động mà có thể gây ra sự cấy ngẫu nhiên các vật liệu sắt từ, hoặc người
có thể bị gắn những mảnh kim loại do các hoạt động quân sự;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- bệnh nhân có hệ thống điều chỉnh nhiệt
của cơ thể không hoàn hảo (ví dụ trẻ đẻ non, nhẹ cân hoặc một số bệnh nhân ung thư);
- bệnh nhân có vật cấy bằng kim loại, bởi
vì những vật cấy này có thể gây ra các sai lệch trong hình ảnh chẩn đoán do méo
trường từ;
- bệnh nhân có van tim nhân tạo cấy
ghép;
- bệnh nhân đang có thai bởi vì an
toàn của các khám MR không được thiết lập hoàn chỉnh cho thai nhi hoặc bào
thai. Bác sỹ có trình độ cần xác định (sau khi cân nhắc các giải pháp lựa chọn)
nếu giá trị khám của khám MR lớn hơn các rủi ro có thể xảy ra.
Liên quan đến 6.8.2 bb) Giám sát y
tế cho bệnh nhân
Liên quan đến sự cần thiết phải có
giám sát y tế cho bệnh nhân, yêu cầu một số cảnh báo cụ thể khi thực hiện khám
MR trong các trường hợp sau:
- bệnh nhân mà tim có tiềm năng ngừng
đập cao hơn bình thường;
- bệnh nhân có nhiều khả năng bị tai
biến hoặc có phản ứng sợ hãi;
- bệnh nhân có tim bị mất bù, bệnh
nhân bị sốt và những bệnh nhân hỏng khả năng đổ mồ hôi;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh không thể sử
dụng kênh giao tiếp bằng âm thanh được cung cấp cùng với thiết bị cộng hưởng từ;
- khám được thực hiện ở nhiệt độ phòng
lớn hơn 24 °C hoặc độ ẩm lớn hơn 60 %.
Liên quan đến 6.8.2 cc) Quy trình y
tế khẩn cấp
Cần chú ý đến các xem xét về an toàn
liên quan đến các quy trình khẩn cấp mà có thể cần thiết đối với các điều kiện
cụ thể của bệnh nhân. Mặc dù đây là trách nhiệm của người sử dụng nhưng có thể
có ích nếu nhà chế tạo đưa ra lời khuyên về vấn đề này:
- khuyến cáo rằng cần thiết lập quy
trình để đưa bệnh nhân nhanh chóng ra khỏi ảnh hưởng của nam châm (nếu cần bằng
cách tắt nguồn nam châm) trong trường hợp khẩn cấp;
- khuyến cáo cho người sử dụng thiết lập
kế hoạch thích hợp để xử lý bệnh nhân, bên ngoài ảnh hưởng của nam châm, người
mà có yêu cầu trợ giúp khẩn cấp (vì việc sử dụng an toàn và có hiệu quả thiết
bị điện từ hoặc
thiết bị khẩn cấp bằng kim loại
khác có thể không đạt được khi ở gần nam châm).
Trong suốt quá trình khám
MR cần đảm bảo giao tiếp với bệnh nhân hoặc theo dõi bệnh nhân bị gây mê/tê.
Một số bệnh nhân có thể có những phản ứng
sợ hãi thì cần được thảo luận trước khi thực hiện khám MR.
Liên quan đến 6.8.2 dd) Bệnh nhân
và nhân viên cộng hưởng từ chịu tiếng ồn quá mức
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
85 dB(A) + 9
dB + 5 dB = 99 dB(A)
Yêu cầu này quan trọng vì thiết bị cộng
hưởng từ hiện đại có thể sinh ra mức ồn cho bệnh nhân cao hơn 99 dB(A). Mc Jury
[6] gần đây đã ghi nhận được các mức đến 115 dB(A). Thiết bị cộng hưởng từ có
thể sinh ra phổ tiếng ồn băng rộng có tâm gần 1 kHz [7]. Tuy nhiên, thiết kế bộ
gradient mạnh trong thiết bị cộng hưởng từ mới có thể dẫn đến mức tiếng ồn cao
hơn cũng như các tần số trung tâm cao hơn [8] (xem thêm Điều 26). Suy giảm tiếng
ồn do sử dụng thiết bị
bảo vệ thính giác (đệm
tai hoặc nút bịt tai) thường nằm trong phạm vi từ 25 dB đến 30 dB ở 2 kHz. Việc
sử dụng không đúng ngẫu nhiên hoặc không sử dụng thiết bị bảo vệ thính giác
không phải là vấn đề an toàn đối với hầu hết bệnh nhân [9]. Khoảng thời gian
phơi nhiễm điển hình của các bệnh nhân này sẽ ít hơn 1 h rất nhiều
và mức ồn điển hình trong hầu hết các lần khám cộng hưởng từ thấp hơn rất nhiều
(5 dB - 10 dB) so với giá trị lớn nhất mà thiết bị cộng hưởng từ có thể phát ra. Tuy
nhiên điều này không đúng với thiết bị cộng hưởng từ có thể sinh ra các mức ồn
rất cao. Ngoài ra, cần đặc biệt cẩn thận đối với trường hợp bệnh nhân được gây
mê. Trong trường hợp đó, sự phản xạ trong tai có thể không có hoặc thấp hơn rất
nhiều so với bệnh nhân tỉnh táo, do ảnh hưởng của thuốc thư giãn cơ lên các cơ
xương bàn đạp trong tai giữa [10]. Sự cần thiết đặc biệt phải sử dụng thiết bị
bảo vệ tai trong trường hợp đó phải được nhấn mạnh trong hướng dẫn sử dụng.
Liên quan đến 6.8.2 ee) Khu vực tiếp
cận có điều khiển
Lắp đặt khu vực tiếp cận có điều khiển
và sử dụng thích hợp các dấu hiệu cảnh báo và ghi nhãn là cần thiết để điều khiển
phơi nhiễm cho những người có vật cấy y tế trong trường từ cường độ lớn, và tránh đưa các
đồ vật bằng sắt từ vào khu vực tiếp cận có điều khiển (xem thêm thuyết minh
cho 6.8.2 jj) và 6.8.3 bb)).
1) Lực hút và mô men lên các vật liệu
sắt từ
CHÚ THÍCH Mục này đề cập đến các khu vực
bên trong khu vực tiếp cận có điều khiển.
Tất cả các nam châm được bao quanh bởi
từ trường. Các lưu ý an toàn chính nhằm xây dựng rào chắn để ngăn chặn các đồ vật
bằng sắt từ đưa vào khu vực tiếp cận có điều khiển.
Ngoài ra, méo trường từ cảm ứng do các
đồ vật từ tính nhỏ trong
bệnh nhân hoặc đưa vào ngẫu nhiên và bám vào bên trong nam châm có thể gây ra
sai lệch hình ảnh. Với các nguyên nhân này, khu vực khám phải luôn được đảm bảo
không có sự xâm nhập không được phép.
Các trường hợp nguy hiểm khác mà có thể
cảm ứng do sự tương tác giữa vật liệu sắt từ và trường từ gồm:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- các vật liệu sắt từ rơi ra bám vào
nam châm làm bị thương bệnh nhân từ bên ngoài; và
- đồ vật bằng sắt từ nặng, bị hút vào bề mặt của
nam châm, làm bệnh nhân bị kẹt giữa đồ vật đó và nam châm.
Lực hút và/hoặc mô men của nam châm
lên đồ vật được làm bằng vật liệu sắt từ là do tương tác giữa trường từ và sự từ
hóa sinh ra trong đồ vật. Do đó lực này sẽ phụ thuộc vào giá trị và tốc độ thay
đổi theo không
gian của từ trường, vào đặc tính từ thẩm riêng của vật liệu làm đồ vật cũng như
phụ thuộc vào khối lượng và hình dạng của chúng.
Tương tự, mô men sinh ra bởi nam châm
lên đồ vật phụ thuộc vào số lượng đồ vật giống nhau, mô men cũng có thể xuất hiện
khi không có bất kỳ một lực hút nào trong trường hợp trường từ hoàn toàn đồng
nhất. Đồ vật sẽ luôn có mô men tác dụng lên trừ khi nó nằm thẳng hàng với trường
từ, trong khi lực hút sẽ chỉ xuất hiện khi có trường từ không đồng nhất.
Tuy lực lên đồ vật phụ thuộc vào bản
chất từ tính và tốc độ thay đổi trường từ trong không gian, nhưng vẫn nên quy định
các biện pháp phòng ngừa liên quan đến giá trị giới hạn trường từ vì phép đo
trường từ tĩnh có thể được thực hiện dễ dàng hơn. Ảnh hưởng của lực hút luôn trở
nên có hiệu lực khi trường từ lớn hơn 3 mT.
Nam châm có thể được phân loại thành một
số loại thông dụng như sau:
- nam châm siêu dẫn,
- nam châm sắt từ, và
- nam châm vĩnh cửu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các loại nam châm khác nhau có thể
phân loại theo lực hút của vật liệu sắt từ như sau:
- Nam châm loại không được che chắn
Loại nam châm này có vùng trường từ rộng
nhất và do đó tạo ra khu vực nguy hiểm rộng nhất. Vì tốc độ thay đổi của trường
từ thấp nên các lực mong muốn là ít khắc nghiệt hơn. Do trường từ của chúng thấp
hơn nam châm siêu dẫn nên nam châm sắt từ có vùng nguy hiểm với tỷ lệ nhỏ hơn nam châm
siêu dẫn.
- Nam châm loại được che chắn
Trường từ của nam châm này bị hạn chế
và do đó vùng nguy hiểm
cũng được hạn chế. Tuy nhiên, do gradient trường đáng kể nên lực hấp dẫn lớn nhất
do nam châm loại này sinh ra lớn hơn lực hấp dẫn do nam châm loại không được
che chắn sinh ra.
- Nam châm vĩnh cửu
Vùng trường từ này được hạn chế nhất, do
đó có vùng nguy hiểm nhỏ nhất. Tuy nhiên gradient trường từ lại lớn hơn. Do đó,
nguy hiểm là vật liệu sắt từ có thể bị hấp dẫn ngay cả trong vùng có cường độ
trường từ nhỏ. Ngoài ra, nam châm vĩnh cửu không thể bị mất từ tính trong các
trường hợp khẩn cấp trong khi đó các nam châm loại khác lại có thể.
2) Ảnh hưởng của trường từ tĩnh lên
các thiết bị
Sử dụng các dấu hiệu cảnh báo và định
nghĩa về khu vực tiếp cận có điều khiển là cần thiết để điều khiển phơi nhiễm của
con người có vật cấy y tế. Nhìn chung, khu vực thấp hơn 0,5 mT không được coi là nguồn nhiễu
tiềm ẩn, ví dụ máy
trợ tim [11]. Tiêu chuẩn Châu Âu EN 50061 [12] phản ánh thực tế này bằng
định nghĩa ngưỡng 1 mT.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đầu ra của ống nhân quang bị ảnh hưởng
bởi độ lớn và hướng của trường từ, thiết bị mà vận hành của chúng rất nhạy với
độ lợi của ống nhân quang (ví dụ thuộc máy quay nhấp nháy hoặc hệ thống chụp X
quang có sử dụng máy tính) có thể nằm trong số những thiết bị chịu ảnh hưởng bởi
các trường từ thấp nhất. Toàn bộ thiết bị hoặc từng ống nhân quang riêng rẽ có thể
được che chắn
từ,
nhưng trong hầu hết các trường hợp, khe hở lớn của máy quay nhấp nháy sẽ rất
khó để che chắn
từ.
Máy điện não đồ và điện tâm đồ có thể
được sử dụng trong các khu vực gần vị trí của thiết bị cộng hưởng từ, máy điện
não đồ rất nhạy với sự thay đổi của trường từ theo thời gian còn máy điện tâm đồ
tương đối ít nhạy. Tuy nhiên, nhà chế tạo thiết bị điện não đồ hoặc điện tâm đồ
cần cung cấp các dữ liệu
định lượng.
Liên quan đến 6.8.2 ff) Hỗn hợp lạnh
dạng lỏng và khí
1) Vận hành hỗn hợp lạnh dạng lỏng:
heli và ni tơ
a) Đặc tính của hỗn hợp lạnh
- có hại cho sức khỏe (xem thêm Điểm
2);
- không mùi;
- không cháy;
- không độc;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- khi bay hơi, chúng tạo sương mù và sẽ
lan rộng.
Sương ni tơ sẽ nhanh chóng lắng xuống
sàn.
Ở nhiệt độ môi trường (20 °C), 1 l
heli lỏng sẽ tạo ra khoảng 750 l khí heli và 1 l ni tơ lỏng sẽ tạo ra khoảng
700 l khí ni tơ.
b) Những nguy cơ liên quan đến hỗn hợp
lạnh
Vận hành không đúng hỗn hợp lạnh có thể
gây ra:
- thương tổn do lạnh;
- nghẹt thở;
- ngưng tụ oxy.
· Thương tổn do lạnh
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
· Nghẹt thở
Khí heli và ni tơ bị rò rỉ sẽ thế chỗ
của oxy. Nồng độ oxy trong không khí ít hơn 17 % đến 18 % không đủ cho sự hô hấp
của con người. Giới hạn nồng độ oxy trong không khí cần đáp ứng luật hoặc quy
chuẩn quốc gia.
Nếu xuất hiện đám mây heli hoặc ni tơ
trong phòng khám thì cần rời
phòng ngay lập tức và chỉ trở lại sau khi nồng độ oxy được khám đáp ứng điều luật hoặc
quy chuẩn quốc gia.
· Ngưng tụ oxy
Nhiệt độ của bình chứa ni tơ và heli
có thể có nhiệt độ tương đối thấp để ngưng tụ oxy hoặc không khí được làm giàu
oxy và có thể làm tăng nguy cơ cháy.
Nếu có mỡ, dầu hoặc vật liệu dễ cháy
khác gần bình chứa, sự xuất hiện của hỗn hợp lạnh dạng khí có thể làm hình
thành chất lỏng dễ cháy do sự hóa lỏng không khí và ngưng tụ oxy.
c) Quần áo bảo vệ
Mặc quần ảo bảo vệ là cần thiết trong
mọi công việc liên quan đến hỗn hợp lạnh hóa lỏng.
Quần áo này gồm:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- găng tay làm việc;
- tấm che mặt;
- áo choàng dùng cho phòng thí nghiệm
(bằng bông hoặc lanh);
- giày an toàn không từ tính.
2) Hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench)
Hóa khi toàn bộ heli lỏng (quench) là
do quá nhiệt dây dẫn của nam châm được ngâm trong heli lỏng (ví dụ gây ra do mất
chân không, sự nhiễu loạn của máy móc, các lực bên ngoài quá lớn, v.v...).
Nam châm siêu dẫn có thể xả ra vài
trăm lít hỗn hợp lạnh dạng khí trong mỗi giờ làm việc bình thường. Trong quá
trình Hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench), trong vài phút có thể xả ra khoảng 104
l đến 106 l khi ở áp suất khí quyển.
Thông thường, Hóa khí toàn bộ heli lỏng
(quench) xảy ra khi lượng heli lỏng không đủ để làm lạnh cuộn siêu dẫn. Do nhiệt
độ cuộn dây tăng lên, dây siêu dẫn trở thành dẫn điện bình thường và bắt đầu quá trình
bay hơi quá mức.
Nếu không sử dụng thông khí thích hợp,
có thể xuất hiện ba ảnh hưởng sau trong quá trình bay hơi nhanh khi có Hóa khí
toàn bộ heli lỏng (quench):
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- không khí trong phòng sẽ bị thay bằng
heli, làm cho khó thở thậm chí không thể thở được;
- khí heli xuất hiện khi có Hóa khí toàn bộ
heli lỏng (quench) thường rất lạnh và thậm chí có thể đóng băng các đồ vật trên
đường đi của khí.
3) Đổ đầy hỗn hợp lạnh
Ở một số kiểu thiết bị cộng hưởng từ cần
đổ đầy lại định kỳ hỗn hợp lạnh để giữ heli cao hơn mức an toàn để ngăn Hóa khí toàn bộ
heli lỏng (quench). Trong quá trình đổ đầy lại này, xảy ra bay hơi nhanh hỗn hợp
lạnh dạng khí mà có thể gây ra tình trạng tương tự như đề cập ở trên. Khoảng
10 % đến 30 % heli lỏng sẽ biến thành khí trong quá trình đổ đầy lại bình thường.
Liên quan đến 6.8.2 gg) Chế độ vận
hành
Xem thuyết minh cho 51.103.
Liên quan đến 6.8.2 hh) Phơi nhiễm
bệnh nhân và nhân viên cộng hưởng từ với trường từ tĩnh
Trường từ tĩnh được sử dụng trong thiết
bị cộng hưởng từ thương mại có cường độ khoảng từ 0,02 mT đến 3,0 mT.
Các khối thực nghiệm có cường độ trường lên đến 10 T. Trong khi các nam châm
vĩnh cửu và nam châm sắt từ được sử dụng trong một số thiết bị cộng hưởng từ
thì hầu hết các thiết bị cộng hưởng từ thương mại đều sử dụng nam châm siêu dẫn.
Trong nam châm siêu dẫn, trường từ
tĩnh thường song song với trục đọc của cơ thể. Trong một số thiết bị cộng hưởng
từ có nam châm trường ngang, trường từ tĩnh vuông góc với trục dọc của cơ thể bệnh
nhân.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trừ một số công việc can thiệp, người
vận hành thường có thể coi là chỉ bị phơi nhiễm với trường từ tĩnh của thiết bị
cộng hưởng từ, cụ thể là trường từ vân tĩnh.
Cần nhận thấy rằng Chỉ thị 2004/40/EC của
Châu Âu (như được đề cập trong thuyết minh cho 6.8.2 kk)) không có
các giá trị giới hạn phơi nhiễm đối với người lao động trong trường từ tĩnh.
Các giá trị phơi nhiễm được nêu trong Bảng 1 của Chỉ thị Châu Âu. Dải tần số thấp
nhất trong phạm vi “đến 1 Hz” và do đó không bao gồm 0 Hz của trường từ tĩnh.
Giá trị đối với phơi nhiễm trong trường từ tĩnh có thể được đưa vào ở phiên bản
sau của Chỉ thị Châu Âu năm 2009. Hướng dẫn đối với các giá trị này có thể được
đưa vào sớm hơn nhiều và được ICNIRP (xem thuyết minh cho 6.8.2 kk)) xuất bản
năm 2007.
Trong tiêu chuẩn này, phơi nhiễm trường
từ tĩnh đối với nhân viên cộng hưởng từ được phép lên đến 4 T. Đề xuất giá trị
này vì các ảnh hưởng đến cảm giác và sinh lý đã biết của phơi nhiễm với các trường
từ tĩnh đến 4 T bị giới hạn ở việc quan sát khách quan như chóng mặt hoặc hoa mắt. Các
quan sát trên những người
liên quan này có thể phụ thuộc vào việc dịch chuyển đầu trong khi phơi nhiễm và
khác nhau giữa những người khác nhau và không được coi là có ảnh hưởng bất lợi
đến sức khỏe đối với nhân viên cộng hưởng từ ngoài những bộ phận bị phơi nhiễm.
Mặc dù đối với kiểu nhân viên cộng hưởng
từ cụ thể, tần số phơi nhiễm trong trường từ tĩnh > 2 T có thể là tương đối
cao nhưng nhìn chung không có những nguy hại đã biết được chấp nhận cho các
nhân viên cộng hưởng từ này vì những ảnh hưởng về cảm giác. Ngoài ra, xác xuất
nguy hại đến
bệnh
nhân do các ảnh hưởng này lên nhân viên cộng hưởng từ (có thể do mất tập
trung hoặc điều khiển bàn tay không ổn định) được đánh giá là rất thấp. Nó tùy
thuộc vào từng nơi làm việc riêng rẽ và các hướng dẫn và quy định cụ
thể về chức năng đối với thực tế công việc. Do đó, rủi ro liên quan đến cả hai
nguy cơ được đánh giá là chấp nhận được ngay cả ở trường từ tĩnh đến 4
T. Đối với cả bệnh
nhân và nhân viên cộng hưởng từ, phơi nhiễm với các giá trị cao hơn 4 T yêu cầu
phải theo quy chuẩn quốc gia.
Điểm quan trọng trong xem xét này dựa
trên thực tế là nhiều báo cáo được công bố cho thấy rằng không phơi nhiễm với
trường từ tĩnh nhưng khi di chuyển trong trường từ tĩnh (kể cả trường tạp tán của
nam châm trong thiết bị cộng hưởng từ), gây ra những ảnh hưởng về cảm giác và
sinh lý quan sát được. Thừa nhận rằng chỉ bị phơi nhiễm trong trường từ tĩnh
(ví dụ đứng cạnh nam châm hoặc vẫn nằm trên giá đỡ bệnh nhân trong trường từ) sẽ
không tạo ra ảnh hưởng về cảm giác. Điều này đưa ra đề xuất các mức giới hạn
phơi nhiễm nên được thể hiện dưới dạng T/s hơn là T.
Di chuyển trong trường từ tạp tán
không đồng nhất của nam châm sẽ sinh ra dòng điện trong mô người, mà có thể đòi
hỏi một giá trị giới hạn phơi nhiễm. Xuất bản gần đây [139] đã minh họa rằng mật
độ dòng điện sinh ra có thể vượt quá các giá trị được thiết lập theo hướng dẫn
của ICNIRP trong dải tần một vài Hz, mà giá trị này có thể được coi là dải tần
tương ứng đối với di chuyển của nhân viên cộng hưởng từ trong trường tạp tán của
nam châm. Mặc dù Chỉ thị Châu Âu 2004/40/EC không đề cập đến giới hạn phơi nhiễm
trường từ tĩnh nhưng việc di chuyển trong trường từ tĩnh rõ ràng không thể
không tính đến và do đó các giá trị giới hạn phơi nhiễm chi trong chỉ thị hiện
hành phải được hiểu là mâu thuẫn với thực tế hiện nay ở hầu hết tất
cả các hệ thống MR trường từ cao trong bệnh viện.
Trong năm 2006, Tổ chức Y tế Thế giới
đã xuất bản báo cáo với tiêu đề: Tiêu chí sức khỏe môi trường 232, trường từ tĩnh [137].
Báo cáo này là kết quả của việc xem xét trên phạm vi rộng tất cả các tài liệu về
các ảnh hưởng sức khỏe của trường điện và trường từ tĩnh. Hơn 500
tài liệu đã được đưa ra và thảo luận. Báo cáo này đề cập đến cơ chế phản ứng có
thể có với cơ thể
người, kể cả các nghiên cứu vitro, nghiên cứu động vật, nghiên cứu trong phòng
thí nghiệm về con người, nghiên cứu dịch tễ học, đánh giá rủi ro đến sức khỏe
và các khuyến cáo cho các nghiên cứu tiếp theo. Báo cáo này là cơ sở chính để cập
nhật cho hướng dẫn của ICNIRP đối với phơi nhiễm của con người trong trường từ
tĩnh. Tuy nhiên cần lưu ý rằng kết luận của báo cáo mở rộng này đối với các ảnh
hưởng đến sức khỏe liên quan đến trường từ tĩnh vẫn chỉ ở dạng: “Dù sao, thiếu
thông tin nghiêm trọng có nghĩa là chưa thể mô tả chính xác các rủi ro do phơi
nhiễm trong trường từ tĩnh”.
Có thể thêm rằng ở các giá trị trường
từ tĩnh rất cao (>10 T) các ảnh hưởng ghi lại trên lần phân chia thứ ba của
trứng ếch dẫn đến sự tiến triển không bình thường như báo cáo của Denegre
[136]. Một nghiên cứu lý thuyết được Keltner công bố [79] cho thấy rằng ngay cả
ở các giá trị trường từ tĩnh rất cao (=10 T), các ảnh hưởng về thủy động lực học
của magneto trong các mạch máu chính vẫn sẽ có những ảnh hưởng không đáng kể
lên áp suất của mạch máu.
Cơ chế hiệu ứng sinh học có thể có
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Cơ chế ít hấp dẫn nhất và có lẽ quan
trọng nhất đối với các hiệu ứng sinh học MR là nguy cơ phóng ra. Đồ vật bằng sắt
từ sẽ chịu các lực tịnh tiến mà sẽ hút chúng về phía vùng có trường từ cao
trong nam châm [15]. Lực này phụ thuộc vào tích giữa cường độ trường từ tĩnh và
gradient trong không gian của cường độ trường từ. Nam châm được che chắn trường
từ thấp có thể, tại những vị trí nhất định trong không gian, sinh ra các
gradient từ lớn hơn nam châm không che chắn trường từ cao [16]. Kết quả là các
nam châm được che chắn trường từ thấp có thể sinh ra các lực lên đồ vật bằng sắt
từ lớn hơn các nam châm không che chắn trường từ cao ở một số vị
trí nhất định [16]. Nguy cơ phóng ra này cần phải có sự huấn luyện của con người.
Đối tượng nghịch từ sẽ chịu các lực tịnh
tiến hút chúng về vùng từ trường thấp ra xa khỏi nam châm [15, 17, 18]. Nước có
tính nghịch từ yếu. Ueno và Iwasaka [17, 18] chỉ ra rằng ở nam châm lõi
nhỏ 8 T, nước có thể phải chịu lực lên đến 30 % lực hấp dẫn. Lực này làm cho nước
bị tách ra trong các vùng trường đồng nhất của nam châm. Để ước lượng lần đầu,
nam châm siêu dẫn điền từ được sử dụng trong thiết bị cộng hưởng từ có thể được
lấy xấp xỉ như một cặp
Helmholtz. Giả thiết cặp Helmholtz có bán kính R và trường từ tĩnh tại tâm của
cặp cuộn dây này là B0. Xem xét đối tượng có độ nhạy là c và khối lượng riêng
là r. Lấy gia tốc
trọng trường là g, độ thẩm từ của không gian tự do là m0 và z là trục
của cặp Helmholtz. Gia tốc lớn nhất a (lấy chuẩn theo gia tốc trọng trường) mà
đồ vật này phải chịu
trong trường từ của cặp Helmholtz có bán kính R có thể được thể hiện như sau:

Có thể thể hiện rằng lực
giá trị đỉnh từ cuộn
dây Helmholtz xuất hiện ở z/R = 0,787
(giả thiết là tâm của cặp Helmholtz ứng với z = 0). Ueno đã ghi lại được tích lực
lớn nhất (B ¶B/¶z) của hệ thống bore
nhỏ là 400 T2/m ở z = 75 mm. Giả thiết là áp dụng mô hình Helmholtz, bán
kính của cặp Helmholtz phải là R = z/0,787 = 0,075/0,787 = 0,095 và tích lực lớn
nhất là B ¶B/¶z = 0,569 B02/R
= 381 T2/m (sự khác nhau nhỏ hơn 4,7 %).
Hiệu ứng “Moses” của Ueno được quan
sát trong nam châm 8 T, bore nhỏ (0,05 m). Công thức (BB 1) cho thấy rằng nước,
có độ từ thẩm (c = -9,05 x 10-6
và khối lượng riêng = 1 000 kg/m3), sẽ chịu một gia tốc khoảng 30 %
gia tốc trọng trường. Nước trong khay phẳng trong các phần của nam châm sao cho
phần ở giữa của
khay thì khô còn hai bên của tâm khay có mực nước cao nhất. Ueno cũng nhận thấy
các hiệu ứng sinh học khó thấy khác [19] liên quan đến tích lực của nam châm.
Công thức (BB 1) dự đoán rằng lực (và có thể cả hiệu ứng sinh học) từ nam châm
tương tự với nam châm Helmholtz (ví dụ như nam châm solenoid) phụ thuộc vào
bình phương cường độ trường từ và nghịch đảo với bán kính hiệu quả của cặp
Helmholtz. Giả thiết là nam châm toàn bộ cơ thể có bán kính tương đương
Helmholtz là 1 m, khi đó tích lực đối với nam châm toàn bộ cơ thể có cường độ
trường từ 4 T chỉ là 4 % tích lực của nam châm Ueno. Vì vậy, trong nam châm
toàn bộ cơ thể có cường độ trường từ 4 T, nước chỉ chịu gia tốc khoảng 1 % gia tốc trọng
trường.
Cơ chế hiệu ứng sinh học gián tiếp
nhưng nghiêm trọng liên quan đến các đồ vật bằng sắt từ là máy trợ
tim. Máy trợ tim có thể có các cơ cấu đóng cắt trễ bằng sắt từ mà được kích hoạt
bằng trường từ một vài gaux [16]. Các bộ phận giả, sun, đinh và các vật cấy
khác có thể phải chịu lực trong trường từ tĩnh. Phải thận trọng để đảm bảo
không ảnh hưởng bất lợi đến an toàn của bệnh nhân đó.
Trước khi bỏ qua vấn đề về đồ vật bằng
sắt từ, phải nhận biết cơ chế nguy hiểm tiềm ẩn, gián tiếp khác. Cơ chế nguy hiểm
tiềm ẩn này liên quan đến xu hướng bão hòa của lõi từ trong biến áp và một số
cuộn dây khi có trường từ tĩnh cao. Thiết bị có chứa các lõi từ như vậy có thể
bị hỏng và không làm việc nữa. Nếu thiết bị này dùng để theo dõi hoặc có chức
năng hỗ trợ sự sống thì bão hòa lõi
từ có thể gây ra các rủi ro tiềm ẩn đáng kể cho bệnh nhân.
Đồ vật dẫn điện, kể cả các đồ vật có độ
từ thẩm tương đối gần bằng 1, có thể nhạy với các lực cơ học giảm dần. Các lực
này sẽ xuất hiện nếu đồ vật chuyển động cắt ngang qua các đường sức từ trường.
Dòng điện sinh ra trong đồ vật dẫn điện sẽ, theo định luật Lenz [20], sinh ra
trường từ mà ngược với trường từ tĩnh và làm tắt dần chuyển động.
Vận tốc dẫn thần kinh
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trường điện cảm ứng
Vật mang điện tích, ví dụ máu, di chuyển
trong trường từ tĩnh sinh ra điện áp ngang [22]. Điện áp, V, cảm ứng do hiệu ứng
magneto-thủy động lực có thể rút ra bằng cách xem xét lực Lorentz, F. Lực này, khi
chia cho điện tích cơ bản q sẽ thể hiện trường điện ngang. Nếu đường kính của mạch
máu là D, vận tốc máu là m và q là góc giữa véc tơ vận tốc và trường từ tĩnh thì từ luật
lực Lorentz, ta có (xem Hình BB.1):

Luật cảm ứng Faraday thể hiện
mối quan hệ giữa điện áp cảm ứng và tốc độ thay đổi thông lượng qua diện tích
A. Thông lượng là tích phân của
tích điểm của cường độ trường từ B trên diện tích A.
Trong các trường từ tĩnh, pháp tuyến của
diện tích A phải thay đổi theo thời
gian t sinh ra diện áp cảm ứng V:

Hô hấp, co bóp tim và lưu
thông máu có thể sinh ra điện áp trong cơ thể. Một sự biểu thị của điện áp cảm ứng
này (Hình BB.1) là sự nâng phần sóng “T” của đồ thị điện tim ở các mức trường từ
tĩnh cao [23]. Trong tâm thu, co bóp tim và lưu thông máu sinh ra điện áp trong
cơ thể sát với biện độ và gần với thời gian chu kỳ tim của sóng “T” [23]. Di
chuyển của lồng ngực trong quá hô hấp trong trường từ tĩnh sẽ sinh ra điện áp
trong cơ thể. Schenck [24] đã liên hệ sự chóng mặt, mà con người gặp phải khi
làm việc gần các trường từ cao, với áp suất sinh ra trong ống bán nguyệt của
tai trong do trường điện cảm ứng khi có chuyển động.
Hiệu ứng sinh học do đường dây tải điện
và MR
Trường từ động và tĩnh mức thấp liên
quan đến đường dây tải điện có đóng vai trò trong việc tạo ung thư hay không
đang thu hút nhiều sự quan tâm của công chúng. Các nghiên cứu dịch tễ học về
các ảnh hưởng của phơi nhiễm nhà ở với các đường dây tải điện ở 50 Hz và 60
Hz đến bệnh ung thư cho thấy các rủi ro quá mức đối với một số ung thư nhất định
[25 - 31]. Tuy nhiên, ý nghĩa thống kê của phát minh này bị nhầm lẫn. Xấp xỉ một
nửa nghiên cứu trên phơi nhiễm nhà ở của người trưởng thành với đường dây tải
điện đã tìm thấy ảnh hưởng. Tuy
nhiên, chỉ một nghiên cứu cho thấy ý nghĩa thống kê. Các nghiên cứu khác không
cho thấy ảnh hưởng. Một số nghiên cứu về phơi nhiễm nghề nghiệp với trường từ
50 Hz đến 60 Hz đã được thực hiện [25, 32-36]. Một lần nữa kết quả lại bị nhầm
lẫn ở ý nghĩa thống kê của kết quả. Các nghiên cứu này đã công nhận là các trường
cỡ miligaux, thấp hơn các trường xảy ra trong tự nhiên, gây ra các hiệu ứng
sinh học này. Giả thuyết phản trực giác và các kết quả thực nghiệm hỗn hợp đã dẫn
Bernhardt [37] đi đến kết luận rằng cần nghiên cứu thêm nữa để có thể làm rõ vấn
đề này.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Cơ chế dự kiến khác đối với các hiệu ứng
sinh học trường từ tĩnh
Tốc độ phản ứng hóa học cân bằng và nồng
độ có thể bị thay đổi nếu một số hoặc tất cả các chất phản ứng hoặc sản phẩm tạo
thành có mô men từ mà có nhiệt động phản ứng thay đổi đáng kể [16, 17, 24, 39 -
41]. Tuy nhiên, đến 4 T, các xem xét nhiệt động cho thấy rằng các hiệu ứng gần
như không thể đo được [24].
Các cơ chế khác có thể có đối với hiệu
ứng sinh học trường từ tĩnh đã được đề xuất. Ví dụ, tạo đường hầm
proton trong DNA nhờ những thay đổi về độ lớn điện thế gây ra do trường từ tĩnh
[40]. Một số cơ chế khác cũng đã được thảo luận trong các xem xét [16, 24, 37,
40, 42 - 46].
Hiệu ứng sinh học trường từ tĩnh quan
sát được
Nghiên cứu thực nghiệm
Hình ảnh điện tâm đồ phần sóng T nâng
cao chỉ là một hiệu ứng trường từ tĩnh không cơ học được chấp nhận rộng rãi.
Hình ảnh này được ghi lại với bệnh nhân được nằm trong trường tĩnh tối thiểu là
0,3 T. Hiện tượng
này thuộc lĩnh vực nguyên nhân sinh học hơn là hiệu ứng. Lưu thông máu sinh ra
điện áp cảm ứng mà dẫn đến hình ảnh sóng T. Không gây ra các hiệu ứng bất lợi;
bệnh nhân tiếp tục sinh ra các vết ECG bình thường ngay sau khi được đặt trong trường
từ [16, 23]. Lưu ý là Jehenson và những người khác [71] cũng tìm ra độ tăng 17
% trong chiều dài chu kỳ của tim sau 10 min phơi nhiễm với trường 2 T. Chiều
dài chu kỳ của tim quay trở về giá trị
bình thường sau 10 min tính từ khi phơi nhiễm và giữ bình thường suốt 22 h sau
đó.
Trường từ tĩnh sử dụng trong khám MR
không làm tăng nhiệt độ cơ thể [47] như dự kiến [48]. Hình như không có những
hiệu ứng đột biến [16, 42, 49]. Tuy nhiên, Narra và những người khác [70] đã
phát hiện ra rằng chuột chỉ cần phơi nhiễm 30 min trong trường từ 1,5 T cũng
làm giảm 15 % tinh dịch trong tinh hoàn vào ngày thứ 16 và 26 sau phơi nhiễm.
Không có ảnh hưởng lên độ dẫn thần kinh và âm ỉ [50 - 52]. Tính dễ bị kích
thích của thần kinh hoặc không bị ảnh hưởng [50] hoặc tăng đáng kể [51] bởi trường
từ tĩnh cao.
Nhiều cơ chế dự kiến có thể áp dụng ở
cường độ trường rất cao nhưng hình như không góp phần đáng kể ở mức trường từ
tĩnh 2,0 T. Ví dụ, Atkins [53] chứng tỏ rằng ở nhiệt độ bình thường của cơ thể
các xem xét nhiệt động yêu cầu trường từ tĩnh tối thiểu phải là 10 T để tạo ra
những thay đổi đáng kể trong việc hình thành enzym. Wikwso và Barach [20] cho
thấy rằng trường từ 24 T chỉ có thể ảnh hưởng nhẹ đến độ dẫn thần kinh. Gần
đây, Kinouchi, Yamaguchi và Tenforde [72] cho thấy các trường tĩnh đến 10 T không cần
quan tâm do các điện áp cảm ứng trong động mạch chủ.
Có một số báo cáo không có
nhiều căn cứ về hiệu ứng
sinh học của trường từ tĩnh. Tiêu thụ oxy quan sát được có giảm đôi chút trong
cật và gan của bào thai chuột trong trường 0,7 T [54]. Tuy nhiên, nghiên cứu
khác không phát hiện các hiệu ứng ở 0,6 T [55]. Các kết quả mâu thuẫn được ghi lại
trên huyết học của động vật bị phơi nhiễm hàng tuần trong trường từ tĩnh cao
[56 - 58]. Có một số bài báo nghiên cứu về lĩnh vực này sâu hơn [16, 24, 37, 40, 42
- 46].
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nghiên cứu dịch tễ học của phơi nhiễm
con người với trường từ tĩnh cao đã được thực hiện [59 - 63]. Dữ liệu về các
người lao động Nga bị phơi nhiễm trong quá trình làm việc với cả trường từ tĩnh
và trường từ tần số thấp đến 0,1 T có chứa nhiều quan sát (ví dụ đau đầu, đau
ngực, hoa mắt) [62, 63]. Các nghiên cứu này cũng thiếu hướng dẫn kiểm soát
thích hợp đối với những yếu tố phức tạp như hóa chất ở nơi làm việc.
Các nghiên cứu ở người lao động Mỹ những
người phải làm việc với trường từ cao không cho thấy những ảnh hưởng nguy hiểm
trong các trường đến 0,5 T trong một nghiên cứu [59] và 2,0 T trong một nghiên
cứu khác [60]. Trong khi cần tiếp tục các nghiên cứu trong các lĩnh vực này thì
hiện nay vẫn chưa có bằng chứng chứng
tỏ phơi nhiễm với các trường từ tĩnh nhỏ hơn 2,0 T sẽ đặt bệnh nhân vào nguy hiểm.
Một lĩnh vực cần quan tâm là liệu trường
từ tĩnh có nguy hiểm đến những bào thai của những người lao động mang thai hay
không. Trong khi việc chứng tỏ sự an toàn theo nghĩa tuyệt đối đòi hỏi một số
lượng lớn các thực nghiệm thì chưa có bằng chứng trong tài liệu nêu rằng phơi
nhiễm với trường từ tĩnh là nguy hiểm. Một khảo sát dịch tễ học [61] gần đây của
các kỹ sư công nghệ MR ở Mỹ không tìm thấy mối tương quan giữa phơi nhiễm trường
từ tĩnh cao và tỷ lệ sảy thai tự phát, vô sinh hoặc đẻ non. Ueno đã nghiên cứu
sự phát triển phôi thai của ếch trong trường từ 6,34 T và nhận thấy rằng sự
phân chia, sự nhân bào và sự phân biệt tế vào không bị ảnh hưởng [48). Kay cũng
nghiên cứu sự phát triển phôi thai của ếch trong trường từ tĩnh cao và không
phát hiện những ảnh hưởng bất lợi [64]. McRobbie cũng đã nghiên cứu chuột mang
thai trong trường từ gradient và không phát hiện những ảnh hưởng đến số lần đẻ
và tỷ lệ sinh trưởng [65].
Trường từ tĩnh: Tiêu chuẩn an toàn nghề
nghiệp
Trong Bảng BB.1 cung cấp danh mục các
tiêu chuẩn phơi nhiễm nghề nghiệp trong trường từ. Chúng gồm các tiêu chuẩn [74
- 77] từ cơ quan bảo vệ ngành X quang quốc gia (NRPB) được sử dụng ở Anh, từ đại
hội Hoa Kỳ về các nhân viên vệ sinh công nghiệp của chính phủ (ACGIH), từ phòng
thí nghiệm quốc gia Lawrence Livermore (LLNL) và từ phòng thí nghiệm bức xạ của
Úc (ARL). Lưu ý là tất cả các tiêu chuẩn đều đòi hỏi giới hạn “liều lượng” trường từ
tĩnh ở 200 mT hoặc 60 mT. Giả thiết là các giới hạn này áp dụng cho ngày làm việc
8 h thì ở 0,5 T chỉ một giờ một ngày cũng có thể có ảnh hưởng giống như ở trong
trường sử dụng mức 60
mT.
Cơ sở khoa học đối với các giới hạn liều
lượng trường từ tĩnh hiện chưa có. Có một giá trị chuẩn [78] để giữ điện áp hiệu dụng
thấp hơn 1 mV. Hiển nhiên lo lắng rằng áp suất máu có thể tăng đáng kể trong
trường từ tĩnh cao dẫn đến các giới hạn trên độ dài phơi nhiễm trong trường từ
tĩnh. Vì sẽ được thảo
luận trong mục tiếp theo nên lo lắng này không cần quan tâm [79]. Tuy nhiên vẫn
tồn tại các tiêu chuẩn phơi nhiễm nghề nghiệp trên cơ sở liều lượng. Các tiêu chuẩn
phơi nhiễm trường từ tĩnh trong tương lai có thể được cập nhật về các phơi nhiễm
MR.
Bảng BB.1 -
Tiêu chuẩn phơi nhiễm nghề nghiệp trường từ tĩnh
Nguồn
Toàn bộ cơ
thể trung bình theo thời gian (8h)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tứ chi
trung bình theo thời gian (8h)
Tứ chi lớn
nhất
ICNIRP a
200 mT
2 T
–
5 T
NRPB b
200 mT
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
200 mT
4 T
ACGIH c
60 mT
2 T
200 mT
2 T
LLNL d
60 mT
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
600 mT
2 T
ARL e
60 mT
5 T
200 mT
10 T
a Ủy ban quốc
tế về bảo vệ bức xạ không ion hóa; 1993
b Cơ quan bảo
vệ ngành X quang quốc gia (Vương quốc Anh)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
d Phòng thí
nghiệm quốc gia về Lawrence Livermore
e Phòng thí
nghiệm bức xạ Úc
Trường tĩnh: cơ chế đối với liên quan
nghề nghiệp
Như thảo luận ở trên, khi có trường từ
tĩnh, vật liệu sắt từ có thể phải chịu các lực tịnh tiến về phía các vùng có cường
độ trường cao hơn [24]. Đồ vật sắt từ cũng có thể phải chịu mô men có xu hướng
làm cho các mô men trường từ của chúng thẳng hàng với mô men trường từ tĩnh [24]. Khi
di chuyển, các đồ vật dẫn điện có thể phải chịu các lực và mô men trong các trường
từ tĩnh theo định luật Lenz [24].
Điện thế do chuyển động [22] có thể cảm
ứng trong chất
lỏng dẫn (ví dụ như máu) di chuyển trong trường từ tĩnh. Điện thế do chuyển động
gây ra hình ảnh trên điện tâm đồ (EKG) [23]. Di chuyển đầu nhanh có thể gây ra
điện áp trong mạch bán nguyệt của tai trong đủ để vượt qua ngưỡng cảm nhận
chóng mặt [24]. Dự đoán lý thuyết về sự tăng áp suất máu do dòng chuyển động
gây ra ảnh hưởng đến các tiêu chuẩn an toàn nghề nghiệp. Tuy nhiên, độ lớn của ảnh
hưởng này rất nhỏ [79].
Các trường điện do điện thế chuyển động
sinh ra có thể tạo ra hình ảnh sóng T nâng cao trên điện tâm đồ. Các trường điện
E này có thể rút ra từ công thức (BB.4) (xem Hình BB.1):

(BB.4)
Trường điện này trực giao với mặt phẳng
chứa vecto vận tốc dòng chuyển động và trường từ tĩnh. Vận tốc dòng
vận chuyển cao nhất trùng về thời gian với sóng T trên điện tâm đồ EKG. Ví dụ,
giả thiết rằng vận tốc máu giá trị đỉnh là 6 m/s [40], trường tĩnh và trường
dòng chuyển động tạo một góc 30° và đường kính động mạch = 0,02 m, do đó điện
áp sinh ra là 9 mV. Đối chiếu kết quả này với biên độ sóng “R” trên EKG điển
hình cỡ 10 mV. Những chỗ lồi lên trên sóng T biến mất cùng với trường từ tĩnh.
Những chỗ lồi lên trên sóng T này xuất hiện không có ý nghĩa về mặt sinh học.
Liệu thường xuyên sinh ra các điện áp cảm ứng này có cần quan tâm hay không còn
là vấn đề chưa chắc chắn. Tuy nhiên, bằng chứng để xác định và đề xuất là không
an toàn được công bố đến tối thiểu là 7 T.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Hình BB.1 -
Trường từ tĩnh: điện thế do chuyển động và độ trễ
Máu chảy trong trường từ tĩnh sinh ra
điện thế chuyển động vuông góc với vận tốc, trường từ tĩnh và góc giữa chúng. Lực
hãm ngược với dòng chuyển động của máu cũng được tạo ra nhưng độ lớn của lực
này không đáng kể về
sinh lý ít nhất đến
giá trị 5 T.
Trường điện cảm ứng sẽ tạo ra dòng
chuyển động của các hạt mang điện dọc theo trường điện. Các hạt mang điện này chuyển
động vuông góc với trường từ sẽ chịu lực ngược với chiều chuyển động của máu
[22] (xem Hình BB.1). Hiển nhiên lực này được coi lầ cần quan tâm vì nó có thể làm tăng
áp
suất
máu. Tuy nhiên, Keltner và những người khác [79] cho thấy cả về lý thuyết lẫn
thực nghiệm là không cần quan tâm đến ảnh hưởng này.
Kết luận
Không có hoặc có rất ít những ảnh hưởng
có hại của phơi nhiễm trường từ tĩnh (thực nghiệm đến 7 T). Các quan tâm về lý
thuyết xuất phát từ trường có cường độ 10 T. Xem xét về các ảnh hưởng của các
trường từ tĩnh mạnh đã được xuất bản [82]. Các ảnh hưởng này và các dữ liệu
khác đã khiến Ủy ban thuốc và thực phẩm Hoa kỳ coi các trường tĩnh dưới 4 T
không có những rủi ro đáng kể [73].
Liên quan đến 6.8.2 kk) Phơi nhiễm
nghề nghiệp
Giới hạn bảo vệ người lao động khỏi đối
với phơi nhiễm trường điện từ đã được đưa ra trong Chỉ thị Châu Âu 2004/40/EC
[124] và được Ủy ban Châu Âu thông qua tháng 4 năm 2004. Giới hạn được đưa ra dựa
trên hướng dẫn của Ủy ban quốc tế về bảo vệ bức xạ không ion (ICNIRP) đối với
người lao động nói chung [125].
Giới hạn phơi nhiễm trường điện từ đối
với nhân viên cộng hưởng từ đưa ra trong tiêu chuẩn này lớn hơn giới hạn cho
phép trong hướng dẫn của
ICNIRP [125] bởi các lý do sau:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Đây là triết lý của ICNIRP để đưa ra các giới
hạn phơi nhiễm để bảo vệ người lao động nói chung. ICNIRP không cân nhắc sự cần
thiết cân bằng giữa rủi ro liên quan đến sức khỏe với lợi ích xã hội
(ICNIRP không xem xét đến vấn đề xã hội và kinh tế) và do đó ICNIRP không thể
xét đến sự giảm nhẹ có thể có trong hướng dẫn đối với các loại người lao động đặc
biệt dựa trên các luận cứ xã hội. Do đó, ICNIRP không thừa nhận tình trạng cụ
thể và duy nhất của công nhân MR và rủi ro/lợi ích đối với bệnh nhân và cân bằng
giữa lợi ích với rủi ro đối với nhân
viên cộng hưởng từ.
- Hướng dẫn của ICNIRP đối với phơi
nhiễm an toàn của bệnh nhân MR mới được xuất bản gần đây [126]. Các giới hạn đồng
nhất với các giới hạn trong IEC 60601-2-33, phiên bản 2 (2002).
- Phương pháp quản lý rủi ro này được
áp dụng cụ thể cho phơi nhiễm với các trường từ tĩnh đối với nhân
viên cộng hưởng từ, xem phần bổ sung cho thuyết minh của 6.8.2 hh) trong sửa đổi
2.
- Giới hạn trong phạm vi vài Hz đến
khoảng 100 kHz đối với nhân viên cộng hưởng từ dựa trên ngưỡng kích thích cơ bắp
và thần kinh ngoại vi và kích thích cơ tim và đủ thấp để tránh tất cả các hiệu ứng
sinh học này. Không có báo cáo nào xem xét kỹ về hiện tượng đom đóm mắt do
gradient gây ra.
- Vì trong một số trường hợp, kích
thích thần kinh ngoại vi tối thiểu được chấp nhận nên có thể yêu cầu đưa thêm
hướng dẫn cho nhân viên cộng hưởng từ để giảm phơi nhiễm với đầu ra gradient. Vì
lý do này, việc dự đoán đầu ra gradient hiện nay cũng được hiển thị (khi có yêu
cầu) trên bảng điều khiển và có thể được sử dụng để làm giảm phơi nhiễm bằng
cách tạo ra khoảng cách đủ với máy khám cộng hưởng từ trong quá trình khám cộng
hưởng từ hoặc bằng cách giảm giá trị đầu ra gradient đến giá trị thấp hơn đối với
việc khám cộng hưởng từ yêu cầu.
Đối với các nhân viên cộng
hưởng từ, cần cung cấp thêm một số biện pháp phòng ngừa, nhưng không có bằng chứng
về dịch tễ học đối với các ảnh hưởng có hại lên sức khỏe. Nhân viên cộng hưởng từ
mang thai không nên ở lại trong
phòng khám cộng hưởng từ trong quá trình khám cộng hưởng từ để tránh những phơi
nhiễm không cần thiết với gradient và trường điện từ tần số radio và mức nhiễu.
Có thể áp dụng các qui chuẩn quốc gia.
Hướng dẫn sử dụng nêu rằng các giới hạn
đối với người lao động có thể không áp dụng được khi nhân viên cộng hưởng từ đang
mang thai, ở một số quốc gia có thể yêu cầu rằng có thể áp dụng các giới hạn đối
với “công chúng” cho bào thai.
Phương pháp quản lý rủi ro cũng được
áp dụng đối với phơi nhiễm EMF đầu ra gradient sinh ra bởi hệ thống MR khi cân
bằng xác suất rủi ro bức xạ ion với MR [127]. Ảnh hưởng tích lũy của phơi nhiễm
với bức xạ ion đã được nghiên cứu rất rộng rãi. Người lao động phơi nhiễm với bức
xạ ion có năng lượng ³
12,4 vôn điện tử (hoặc 2 x 10-18 J) được điều chỉnh bởi các giới hạn
khuyến cáo bởi các tổ chức như Ủy ban quốc gia về bảo vệ và đo bức xạ (NCRP) và
Ban kỹ thuật quốc tế về bảo vệ bức xạ (ICRP) [128]. Các dữ liệu sau đây minh họa
sự khác nhau giữa kiểu bức xạ và dải tần số của EMF trong hệ thống MR (1 kHz đến
1 GHz): Máy khám cộng hưởng từ MR có thể cần trường từ có cường độ 5,68 x 106
T (tần số cộng hưởng đối với proton là 2,4 x 104 Hz) để đạt đến mức
ngưỡng này (khoảng 5 lần biên độ cao hơn cường độ trường của máy khám cộng hưởng
từ hiện hành bất kỳ). Tại 4 T, năng lượng trong các hạt proton MR bất kỳ (giả
thiết hệ thống có khả năng bức xạ) thấp hơn ngưỡng 12,4 vôn điện tử là 1,4 x 106
lần. Trong thực tế, năng lượng của các hạt proton 4 T bất kỳ thấp hơn 5,8 x 105
lần năng lượng ngưỡng cần thiết
để phá vỡ liên kết hydro-hydro trong nước (liên kết yếu nhất trong số các liên
kết) [129]. Vì vậy, trong các tương tác sinh học MR tương tự với bức xạ, hỏng
hóc do bức xạ ion từ những photon đơn lẻ là không thể xảy ra. Lập luận này gợi ý là
có thể kết luận rằng sẽ không tồn tại các ảnh hưởng tích lũy trên mức phân tử
từ phơi nhiễm EMF của MRI. Với kiến thức của nhóm làm việc, cho đến nay chưa có
nghiên cứu nào cho thấy bất cứ ảnh hưởng nào trong số các ảnh hưởng tích lũy
này.
Ở Mỹ, giới hạn phơi nhiễm nghề nghiệp
hàng năm [132, 133] đối với bức xạ ion hóa (10 CFR 20 subpart C) là 0,05 Sv (5
rem), trong khi công chúng không thể chịu quá 0,001 Sv (0,1 rem). Ngưỡng đối với
những ảnh hưởng quan sát được từ bức xạ ion hóa [132] là khoảng 0,05 Sv. Bệnh
nhân thực hiện quá trình khám cộng hưởng từ X quang bằng máy tính qua đầu sẽ nhận
đến 0,03 Sv [132]. Rủi ro tử vong do ung thư từ phơi nhiễm với 0,01 Sv (1 rem)
được ước lượng vào khoảng 0,0005 [132]. Ngược lại, không có rủi ro về tử vong từ
phơi nhiễm MR với điều kiện là vận hành phù hợp với các giới hạn IEC 60601-2-33
(2002).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Xác suất kích thích tim trong giới hạn
của phiên bản 2 của IEC 60601-2-33 gần bằng không, như thể hiện trong thuyết
minh của 51.102 4). Reilly [130] đã xác định rằng các ngưỡng kết sợi tim tuân
theo phân bố loga chuẩn với ngưỡng đối với một trong những nhóm nhạy nhất ở khoảng một nửa
giá trị trung tuyến. Ngoài ra, Reilly ước lượng rằng đối với một loài động vật
xác định trước, ngưỡng
kích thích tim trung bình vào khoảng 40 % mức kết sợi tim. Reilly ước lượng rằng
tốc độ thay đổi trường từ, (dB/dt)1%tim, mà có thể kích thích tim
trong những nhóm nhạy nhất của dân số liên quan đến thời gian độ dốc gradient tổng,
d, và hằng số thời gian, t, và có thể được biểu diễn bằng công thức sau:

Reilly sử dụng giá trị t bằng 3 ms. Bourland
[90] nhận thấy rằng các ngưỡng kích thích tim chó khi được điều chỉnh đến tỷ số tương đối
giữa người và chó phù hợp với các ước lượng của Reilly được ngoại suy đến giá
trị trung bình của tim.
Trong thuyết minh của IEC thể hiện rằng các ước lượng của Reilly chỉ ra xác suất
kích thích tim ở giới hạn kích thích thần kinh ngoại vi trung bình là cỡ khoảng
10-9. Schaefer [131] cũng tìm ra giá trị ước lượng trương tự. Vì thế
kích thích tim là rất hiếm khi xảy ra ở các giới hạn của IEC 60601-2-33, phiên bản 2
(2002).
Kích thích thần kinh ngoại vi chống lại
đom đóm mắt đối với đầu ra gradient
Rõ ràng là đối với dải tần số ứng với
đầu ra gradient, dải tần từ 1 kHz đến 10 kHz, các giới hạn của ICNIRP dựa trên
việc ngoại suy các ảnh hưởng liên quan đến điện thế trong võng mắt mà có thể
gây ra sự kích thích thị giác (đom đóm mắt). Chưa có bằng chứng cho thấy sự
kích thích thị giác này tạo nên ảnh hưởng bất lợi hoặc gây hại cho mắt lâu dài.
Các hiệu ứng này được quan sát ở các tần số thấp hơn một chút so với tần số tương ứng đối với
MR. Vì mô của võng mắt có thể so sánh với mô não (hệ thống thần kinh trung ương) nên
các hiệu ứng này được ICNIRP sử dụng làm mô hình đối với các hiệu ứng trong hệ
thống thần kinh trung ương và được ngoại suy đến dải tần số cao
hơn một chút. Ngoài ra, các hướng dẫn này của ICNIRP bao gồm cả biên dự phòng an toàn lớn
và dẫn đến giới hạn phơi nhiễm được thể hiện bằng 10 mA/m2. Xem xét
gần đây về hiệu ứng này được thực hiện bởi NRPB năm 2004 và đã khẳng định giá
trị 10 mA/m2 (kể cả hệ số biên dự phòng an toàn là 10). Ở các tần số
cao hơn một chút, mật độ dòng điện do đầu ra gradient sinh ra trong bệnh nhân lớn
hơn rất nhiều và được biết là sinh ra kích thích thần kinh ngoại vi tại các tần
số và dạng sóng tương ứng đối với MR. Kích thích thị giác dường như không phải
là hiệu ứng sinh học tương ứng đối với các tần số cao hơn một chút và các dạng
sóng gradient cụ thể áp dụng cho MR (và chưa được ghi lại liên quan đến đầu ra
gradient của thiết bị cộng hưởng từ). Đối với bệnh nhân MR, các giới hạn dựa
trên hiệu ứng kích thích thần kinh ngoại vi. Quan sát này được ICNIRP khẳng định
trong tiêu chuẩn gần đây [126], cụ thể là đề cập đến các giới hạn phơi nhiễm đối
với bệnh nhân MR. Các giới hạn PNS chưa được ghi lại là tạo ra các tình huống
không an toàn trong thông lệ y tế.
Đối với dải tần kHz, ICNIRP đã thiết lập
các giá trị có ảnh hưởng được thể hiện dưới dạng cường độ trường từ là 610 V/m.
Giá trị này lớn hơn nhiều so với các giá trị đối với trường từ tĩnh do đầu ra
gradient sinh ra trong cơ thể con người. Các giới hạn phơi nhiễm đối với mật độ
dòng điện là 10 mA/m2 ở 1 kHz và 10 A/m2 ở 1 MHz. Từ
100 kHz đến 1 MHz phải đáp ứng giới hạn SAR toàn bộ cơ thể là 0,4 W/kg. Giá trị
có ảnh hưởng 610 V/m được rút ra từ dòng điện LF/RF, dòng điện này sinh ra từ
trường điện trong không gian gần như trống rỗng. Bên trong cơ thể con người,
trường điện E thấp hơn rất nhiều do độ dẫn điện s » 1 S/m. Giả thiết là
tụ điện lớn có chiều dài L và diện tích mặt cắt A với lát cắt dầy hơn nhiều LB
(cơ thể người) có hằng số điện môi tổ hợp er, (er = e’ + ie” = e’ + is/e0w) thì điện dung tổng
được tính bằng công thức:

Vì IerI ³ 1 (đối với dải
tần đang xét) và LB £
L nên điện dung C không bị ảnh hưởng do có cơ thể người. Do đó, dòng điện I chạy
qua điện trở được cho bởi công thức:

...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
J = we0E
I, J chỉ là độ lớn, U là điện thế tính
bằng vôn và R là trường điện tính bằng V/m.
Ở 1 kHz và E = 610 V/m đạt được mật độ
dòng điện là 33 mA/m2
và ở 1 MHz mật độ
dòng điện bằng 33 mA/m2 một cách tương ứng. Các giá trị này nhỏ hơn
rất nhiều các giới hạn phơi nhiễm.
Hãy xem xét các giá trị SAR. SAR được
cho bởi công thức:
SAR = 
trong đó r là khối lượng riêng
của mô.
Với s = 1 S/m và r = 103
kg/m3 đạt được SAR bằng 10-7 W/kg ở 1 kHz và 0,1 W/kg ở 1
MHz với giả thiết các giới hạn phơi nhiễm là 0,01 A/m2 ở 1 kHz và 10
A/m2 ở 1 MHz, tương ứng.
Liên quan đến 6.8.2 ii) Thiết bị phụ
trợ
Cần cẩn thận khi chọn thiết
bị theo dõi/cảm biến để đảm bảo rằng các thiết bị này được thiết kế riêng để sử
dụng với thiết bị cộng hưởng từ (ví dụ dây ECG điện trở cao). Vật liệu dẫn điện,
không kể vật liệu phải thực hiện tiếp xúc điện với bệnh nhân (ví dụ điện cực
ECG) cần được cách điện với bệnh nhân. Tất cả các vật liệu dẫn điện cần được
cách nhiệt với bệnh nhân. Phải tuân thủ hướng dẫn của nhà sản xuất khi bố trí
dây dẫn theo dõi (ví dụ để tránh các vòng khép kín) và các cáp khác gần
bệnh nhân. Mục đích của tất cả các biện pháp này nhằm giảm thiểu hóa khả năng xuất hiện
dòng điện cảm ứng do ghép nối với cuộn chênh từ sóng radio (RF), kèm theo rủi
ro bỏng bệnh nhân.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ngoài các thông tin được nêu trong điểm
cc) của 6.8.2 về các quy trình y tế khẩn cấp và điểm ff) 6.8.2 của về hỗn hợp lạnh
dạng lỏng và khí, điểm
ss) này cung cấp thông tin
thích hợp với các trường hợp khẩn cấp xuất hiện khi có sự thoát ra
ngoài của khi heli từ nam châm vào phòng khám hoặc các phòng liền kề khác trong
quá trình hóa khí toàn bộ
heli lỏng (quench). Trường hợp này có thể xuất hiện khi hệ thống thông khí của
nam châm siêu dẫn bị hỏng một phần
hoặc toàn bộ trong quá trình hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench) nam châm.
Trong trường hợp này, có thể gây ra các nguy hiểm cho những người liên quan.
Thông tin được cung cấp ở đây sẽ hữu ích cho người
vận hành để thiết lập kế hoạch khẩn cấp được điều chỉnh theo các quy định của
quốc gia.
Trong khi bình thường ít khi xảy ra hóa
khí toàn bộ heli lỏng (quench), việc hỏng hệ thống thông khí của nam châm lại
càng ít xảy ra hơn. Mặc dù hàng nghìn hệ thống MR đang vận hành nhưng chỉ có một
vài báo cáo liên quan đến các tai nạn hoặc tai nạn tương tự gây bị thương cho
người có mối liên quan với hóa khí toàn bộ heli lỏng
(quench). Tuy thế, nhà sản xuất được yêu cầu phải chỉ ra nguy hiểm tiềm ẩn khi
kết hợp các sự kiện và cung cấp thông tin liên quan đến các loại khẩn cấp này.
Lưu ý rằng thông tin nên đề cập đến những sự kiện ít xảy ra nhưng có thể nghiêm
trọng khi hệ thống thông khí bị hỏng vào thời điểm hóa khí toàn bộ
heli lỏng (quench) của nam châm siêu dẫn.
Hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench) là
gì?
Trong quá trình hóa khí toàn bộ heli lỏng
(quench), nam châm mất tính siêu dẫn của nó. Trường từ của nam châm giảm trong
khoảng vài giây - điển hình là kéo dài xấp xỉ 20 s. Nam châm bắt đầu nóng lên. Heli dạng lỏng
bay hơi ở tốc độ 500 đến 1 500 l trong vài phút và tỏa rộng nhanh chóng. Tốc độ bay hơi
chính xác tùy
thuộc vào mức đổ đầy cũng như cường độ trường của nam châm. Nam châm 3 T có thể
có tốc độ bay hơi cao hơn nam châm 1,5 T. Một lít heli lỏng bay hơi thành xấp xỉ
khoảng 700 l khí heli. Trong các điều kiện lớn nhất, chúng vào khoảng 1 000 m3
khí. Hóa khí toàn bộ
heli lỏng (quench) bằng tay có thể được bắt đầu do kích hoạt khối tắt nguồn trường
khẩn cấp. Nguồn gây ra hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench) khác là khi mức đổ đầy
của heli bị giảm xuống đến điểm ở đó nam châm bắt đầu nóng lên. Trong một số
trường hợp hiếm gặp khác, hóa khí toàn bộ
heli
lỏng
(quench) tự phát có thể quan sát được nhưng không thể giải thích được bằng các
nguyên nhân rõ ràng.
Tiếng xì hoặc rít gây ra do sự thoát
nhanh khí heli lạnh có thể xuất hiện cùng với hóa khí toàn bộ heli lỏng
(quench). Màn sương trắng chìm xuống sàn nhà chủ yếu từ phần bên trên của nam
châm và gần với đường hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench) do ngưng tụ cả hơi nước và
không khí. Luồng khí heli giảm bớt trong khoảng vài phút. Không khí ở gần các bộ
phận không cách nhiệt của nam châm và đường hóa khí toàn bộ heli lỏng
(quench) bị ngưng tụ thành dạng lỏng và rơi xuống nền nhà.
Rủi ro liên quan đến hỏng hệ thống
thông khí
Mục đích của hệ thống thông khí của
nam châm siêu dẫn là nhằm xả hoàn
toàn khí heli ra bên ngoài. Thành phần chính của hệ thống này là ống dẫn được
thiết kế để chuyển khí heli thoát ra khu vực thoáng an toàn. Xác suất hóa khí
toàn bộ heli lỏng (quench) cần tính đến xem xét cẩn thận trong quá trình thiết
kế của cả nam châm hệ thống thông khí của nam châm siêu dẫn. Do đó, hóa khí toàn
bộ heli lỏng (quench) hoàn toàn có hại đối với con người. Nam châm và hệ thống
lắp đặt MR cũng bị hỏng trong quá trình hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench).
Tình huống khẩn cấp sẽ phát sinh nếu hệ
thống thông khí hóa khí toàn bộ
heli lỏng (quench) bị hỏng. Heli nhẹ hơn không khí, không độc và không cháy.
Tuy nhiên, vì nó thế chỗ oxy nên có khả năng gây nghẹt thở. Heli đông lạnh
thoát ra ngoài không khí môi trường sẽ tạo ra những đám mây màu trắng do ngưng
tụ. Đám mây này ảnh hưởng bất lợi đến thị giác.
Con người có thể bị làm cho bất tỉnh do lượng
khí heli đi vào hệ hô hấp. Tùy thuộc vào nồng độ heli có trong không khí, chỉ cần
một vài hơi thở đủ để gây bất tỉnh.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các kiểu hỏng hệ thống thông
khí của nam châm siêu dẫn là có thể hiểu được. Ví dụ, có thể xảy ra các trường
hợp sau.
- Rò rỉ nhỏ: Lượng nhỏ khí heli thoát
ra bên ngoài do hệ thống sưởi hoặc điều hòa không khí và được thế chỗ bởi không khí sạch.
Đây không phải là tình huống nghiêm trọng với điều kiện là hệ thống sưởi và hệ
thống thông khí làm việc như yêu cầu.
Các rò rỉ này là kết quả của các sai lỗi
về kết cấu mà cần được hiệu chỉnh lại.
- Hệ thống thông khí của nam châm siêu
dẫn hỏng một phần: chỉ một phần khí
heli bị thoát ra bên ngoài do hệ thống thông khí tích hợp. Một lượng heli lớn
hơn có mặt trong phòng khám. Hệ thống sưởi và điều hòa không khí không thể loại
bỏ heli do thể tích của chúng. Các đám mây lớn hình thành và gây ảnh hưởng bất
lợi đến thị giác. Ngoài ra, áp suất trong phòng tăng lên. Tùy thuộc vào kích
thước của chỗ rò rỉ có thể gây ra tình trạng nguy hiểm cho những người liên
quan.
- Hỏng toàn bộ: Hệ thống thông khí của
nam châm siêu dẫn hỏng hoàn toàn ví dụ do tắc hoặc vỡ đường ống. Toàn bộ lượng
khí heli bị thoát vào phòng khám. Nếu không tuân thủ các yêu cầu và khuyến
cáo được đề cập trên đây thì sẽ làm tăng khả năng gây tử vong trong trường hợp
hỏng hoàn toàn lỗ thông hỗn hợp lạnh.
- Đến 1 000 m3 khí bị thổi
vào phòng trong khi đó phòng thường chỉ có thể tích 100 m3.
Liên quan đến 6.8.3 bb) Tờ quy định
kỹ thuật tính tương thích
Tờ quy định kỹ thuật tóm tắt còn được
coi là tờ thông số về
sản phẩm. Thông tin cụ thể về tờ này có thể giúp người sử dụng đánh giá tính
tương thích của thiết bị ngoại vi với thiết bị cộng hưởng từ cụ thể. Tính tương
thích của thiết bị ngoại vi liên quan đến cả hai nhà sản xuất và
chỉ khi cả hai nhà sản xuất công bố tính tương thích thì người sử dụng mới
không cần quan tâm thêm nữa. Trong tất cả các trường hợp khác, người sử dụng phải
đảm bảo rằng cả hai loại thiết bị không được gây nhiễu đến hoạt động đúng của
nhau.
Việc nhận thức được rằng kết cấu hệ thống
của thiết bị cộng hưởng từ có thể ảnh hưởng bất lợi đến làm việc đúng của thiết
bị ngoại vi và ngược lại là rất quan trọng. Ví dụ lắp đặt hệ thống chênh từ mạnh
hơn trên thiết bị cộng hưởng từ có thể ảnh hưởng đến hoạt động của thiết bị ngoại
vi, giống như thiết bị theo dõi và cảm biến các chức năng của cơ thể đặt gần
lõi của nam châm. Do đó khi nâng cấp thiết bị cộng hưởng từ, người sử dụng cần thông
báo cho nhà sản xuất thiết bị ngoại vi để đảm bảo an toàn và tính năng của thiết
bị [83].
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Cấu hình phòng khám
Trong tiêu chuẩn đề xuất một số các đặc
trưng của phòng khám. Đối với các đặc trưng của phòng khám, hệ thống thông khí
heli đối với nam châm siêu dẫn cần thiết khi có hóa khí toàn bộ heli lỏng
(quench) và hệ thống thông khí cho bệnh nhân cần thiết để bệnh nhân thở hàng ngày có
sự khác biệt rõ rệt. Đặc trưng của phòng khám luôn cố gắng tạo ra thời gian có
sẵn lớn nhất để di chuyển bệnh nhân ra khỏi hệ thống khi có hóa khí
toàn bộ heli lỏng (quench) do hỏng hệ thống thông khí của nam châm siêu dẫn.
Các đặc trưng này sẽ giúp tăng thời gian có sẵn để di chuyển bệnh nhân trung
bình cỡ vài phút. Nhìn chung, vận hành hệ thống thông khí của bệnh nhân cần được
theo dõi cẩn thận. Một số hệ thống thông khí của bệnh nhân mang không khí sạch
từ trên trần của phòng khám đến bệnh nhân. Khi có hóa khí toàn bộ heli lỏng
(quench) do hỏng hệ thống thông khí của nam châm siêu dẫn thì sự thông khí kiểu
này này là rất không tốt cho bệnh nhân, và vận hành của hệ thống thông khí của
bệnh nhân phải dừng lại, tốt nhất là tự động dừng lại bằng cách sử dụng cảm biến
để phát hiện hóa khí toàn bộ heli lỏng (Quench). Trong tất cả các trường hợp
cũng có thể xem xét đến các cảnh báo tự động cho người vận hành. Nên lắp máy
theo dõi oxy nối dây với chuông loan báo dạng âm thanh và hình ảnh trên trần của
phòng khám để đưa ra các cảnh báo sớm khi có thoát khí heli. Khi
thay đổi mô hình phòng khám, phải thử lại
toàn bộ hệ thống che chắn RF.
Cửa phòng khám mở vào trong - biện
pháp kết cấu an toàn
Tình huống bất lợi nhất đối với phòng
khám là khi cửa phòng khám mở vào trong. Trong tình huống này, quá áp suất nhẹ do rò rỉ
khí heli có thể làm cho việc mở cửa khá khó khăn. Tùy thuộc vào hệ thống thông khí cho
phòng, quá áp suất có thể tồn tại
trong thời gian đáng kể. Việc lắp các thiết bị trong phòng khám để bệnh nhân
trong phòng khám thở không khí trong quá trình hóa khí toàn bộ heli lỏng
(quench) trong tình huống này có thể giúp làm tăng thời gian cần thiết để cân bằng
áp suất trong phòng.
Để giải quyết tình huống này cần có sẵn các biện
pháp thay thế sau:
- Cửa được kết cấu sao cho nó mở ra phía
ngoài, vào phòng điều khiển.
- Cửa được thay bằng cửa trượt che chắn
kín RF. Phải đảm bảo rằng cửa đóng theo cách cho phép nó di chuyển ra xa khỏi
khung cửa trong trường hợp quá áp suất tức là nó dễ dàng mở được cửa.
- Cửa sổ quan sát cố định được thay bằng
cửa sổ mở vào phòng điều
khiển hoặc bằng cửa sổ trượt có che chắn RF.
- Lắp đặt các tấm trên tường, cửa hoặc
trần mà có thể mở khóa và mở ra phía ngoài trong trường hợp khẩn cấp hoặc cho
phép cân bằng áp suất liên tục với những khoảng cách đều nhau. Các tấm này đòi
hỏi phải có hệ thống che chắn RF. Sau khi mở các tấm này, lỗ hở cần có diện
tích 60 x 60 cm2. Khi sử dụng các tấm hình chữ nhật, cạnh ngắn hơn cần
có chiều dài tối thiểu là 60 cm. Ngoài ra, phải đảm bảo là một người có thể lấy
các tấm này ra dễ dàng. Hơn nữa, cần tuân thủ khoảng cách đến tường tiếp theo tối
thiểu là 1 m. Tấm này phải được lắp đặt càng gần trần của phòng càng tốt để khí heli có
khối lượng riêng thấp có thể thoát ra.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đối với cửa di chuyển nhờ các cơ cấu
điều khiển phụ (ví dụ điện hoặc khi nén) thì thao tác bằng tay vẫn phải được đảm bảo.
Nếu có trong hệ thống lắp đặt, cửa sổ
quan sát cũng có thể bị vỡ. Cửa sổ thường có dây dẫn để che chắn sóng radio
(RF)
mà
cũng cần đi qua được. Tuy nhiên, mảnh thủy tinh vỡ có thể gây thương
tích cho nhân viên cứu hộ. Tùy thuộc vào kết cấu và độ dày của cửa sổ mà người
vận hành phải cung cấp các dụng cụ thích hợp để phá cửa sổ.
Bảo trì
Chương trình bảo trì để phòng ngừa cần
có các hành động sau.
Khám hệ thống xả và thông khí cho
phòng.
Lắp đặt hệ thống thông khí cho phòng
và hệ thống thông hỗn hợp lạnh đối với nam châm siêu dẫn phải gắn liền với các
yêu cầu và cần được khám bởi các nhân viên được huấn luyện. Cả hai hệ thống phải
được khám bằng mắt ở những khoảng thời gian đều đặn để xác định những thay đổi
không thích hợp, cụ thể:
- thay đổi thiết kế bên trong và bên
ngoài phòng khám được che chắn;
- những thay đổi không thích hợp;
- hỏng phần cách nhiệt của đường thoát
khí;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- tắc nghẽn lối ra, ví dụ như sự hiện
diện của các tổ chim (là lưới bảo vệ vẫn còn nguyên vẹn)
- hỏng các nắp che mưa bảo vệ (các nắp
này thường được yêu cầu đối với các đường hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench) ở lối ra thẳng
đứng. Tùy thuộc vào thiết kế, các nắp này cũng thường đặt trong các lối ra nằm ngang).
- sau khi hệ thống được chuyển giao
cho khách hàng đường xả khí ra bên ngoài có bị thay đổi đến mức làm cho các hệ thống
khác lắp cùng chịu khí thải hay không? Điều này là có thể, ví dụ cửa sổ
được lắp sau, lối ra và lối vào được đặt vào vị trí dành cho hệ thống sưởi hoặc
điều hòa không khí, các công trình xây dựng mới hoặc các côn ten nơ được lắp tạm
thời và chất thải xây dựng hoặc vôi vữa bên ngoài khác mà có thể gây ảnh hưởng bất
lợi đến tính năng của hệ thống thông khí.
- hệ thống sưởi và điều hòa không khí
hoặc hệ thống thông khí của phòng có bị thay đổi không, ví dụ bằng cách thêm
các đường vào và đường ra thông khí khác trong các phòng bên cạnh?
- có lắp đặt thêm các hệ thống MR bổ
sung không?
- có đường hóa khí toàn bộ
heli lỏng (quench) tương tự sử dụng cho hệ thống MR bổ sung hay không?
Vì mỗi hệ thống chịu những thay đổi hoặc
sửa chữa công trình xây dựng trong tuổi thọ vận hành của mình nên người vận
hành cần nắm rõ tầm quan trọng của đường hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench) và hệ thống
thông khí. Vì lý do này, chúng ta nên thường xuyên khám bằng mắt (ví dụ liên
quan đến sự thay đổi trong kết cấu ở gần đường hóa khí toàn bộ heli lỏng
(quench), những thay đổi liên quan đến thời tiết khắc nghiệt như băng, tuyết hoặc
cát). Trong trường hợp chức năng của hệ thống có vấn đề thì cần liên hệ với nhà
cung cấp hệ thống thông khí.
Kế hoạch khẩn cấp
Các khuyến cáo dưới đây được thiết kế
để giúp người vận hành thiết lập kế hoạch khẩn cấp gồm:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- tính sẵn sàng của những nhân viên khẩn
cấp (ví dụ nhân viên cứu thương, đội đáp ứng khẩn cấp với cháy tại hiện trường
và nhân viên bảo vệ tại hiện trường hoặc không tại hiện trường);
- hướng dẫn và thông tin được cung cấp
cho sở cứu hỏa và sở cảnh sát (cần được cung cấp trước khi có tình huống khẩn cấp
thực sự như mô tả trong sổ tay vận hành), kể cả sự cần thiết phải
khám thêm xem còn tồn tại trường từ hay không;
- các bài tập cứu hộ cần thực hiện với
nhân viên tương ứng;
- người thao tác phải được huấn luyện
để giám sát việc sơ tán của phòng MR và các phòng liền kề;
- nhân viên chỉ nên quay lại phòng MR
sau khi tình hình đã trở lại bình thường
tức là sau khi ngừng tạp âm và tầm nhìn không còn bi che chắn nữa. Vì lý do an
toàn, tất cả các phòng cần được làm thoáng khí; cửa sổ và cửa ra bên
ngoài phải được mở ra. Hệ thống
điều hòa không khí sẽ luôn cung cấp sự trao đổi không khí hiệu quả.
Nếu có người trong phòng nam châm thì
cần xem xét những nội dung sau.
- Viễn cảnh tiêu chuẩn: đường hóa khí toàn bộ
heli lỏng (quench) làm việc như kế hoạch. Bệnh nhân có thể dễ dàng chuyển chỗ.
Việc tiếp xúc với các bộ phận làm đông lạnh bị ngăn chặn.
- Rò rỉ nhỏ: điều này có thể tạo
ra các đám mây sương mù nhỏ mà vẫn sáng sủa phía trên đầu và được lấy đi bằng hệ
thống sưởi hoặc điều hòa. Các đám mây sương mù trắng có thể chìm xuống nền nhà.
Các đám mây này gồm không khí lạnh và không làm mất oxy. Trong trường hợp này,
không có quá áp suất. Không có rủi ro nghẹt thở đối với cả bệnh nhân và nhân
viên. Bệnh nhân có thể được di chuyển, ngay lập tức hoặc sau vài phút tùy thuộc
vào phản ứng của bệnh nhân với tình huống này. Việc tiếp xúc với các bộ phận
làm đông lạnh bị ngăn chặn.
- Hỏng một phần hoặc toàn bộ đường
hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench): có thể tồn tại những đám mây lớn giống
như sương mù và có thể gây ảnh hưởng đến thị giác, áp suất trong phòng khám sẽ
tăng lên. Trong quá trình hỏng toàn bộ hệ thống thông khí của nam châm siêu dẫn
bên trong phòng khám, phòng khám sẽ nhanh chóng bị điền đầy khí heli bị đông lạnh.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Thường thường luồng khí mạnh nhất xuất
hiện trong vài phút đầu tiên và sau đó sẽ rút xuống. Tuy nhiên, nguyên nhân của
luồng khí thì chưa được dự báo đầy đủ, vì vào thời điểm xuất hiện, các kiểu sai
lỗi trong đường hóa khí toàn bộ heli lỏng (quench) thường chưa được biết đầy đủ.
Trước khi mở cửa phòng điều khiển, tất
cả các cửa và cửa sổ có sẵn cần được mở ra để đảm bảo thông khí đầy đủ. Tất cả
các nhân viên ở gần hệ thống những người mà không cần thiết đối với cho hoạt động
cứu hộ cần rời đi trước khi cứu hộ bệnh nhân trong phòng khám. Khi mở cửa, quá
áp suất có thể có trong phòng cần được xem như một nhân tố như sau:
- Nếu cửa mở ra phía
ngoài theo hướng phòng điều khiển thì cửa có thể bay ra khi có quá áp suất. Người
vận hành phải nhận thức được khả năng này để có thể tránh bị thương do việc mở
cửa không chủ ý này.
- Nếu cửa mở vào trong theo hướng
phòng khám thì có thể không mở được cửa khi có quá áp suất trong phòng. Trong
trường hợp này, cửa sổ và nắp khẩn cấp phải được mở ra. Quá áp suất có thể làm
cho cửa sổ hoặc nắp đu đưa
không mong muốn. Nếu không có các lỗ khẩn cấp, cửa sổ quan sát có thể bị vỡ ra
từng mảnh. Tuy nhiên, các mảnh thủy tinh vỡ có thể gây thương tích cho nhân viên cứu hộ.
Tùy thuộc vào kết cấu và độ dày của cửa sổ, người sử dụng phải có dụng cụ thích
hợp để phá vỡ cửa sổ.
Sau khi mở cửa phòng
khám, khí heli có thể thoát sang các phòng liền kề, gây nguy hiểm cho nhân viên
cứu hộ. Có thể khám mức oxy trong không khí bằng thiết bị theo dõi oxy. Mặt nạ
phòng khí không bảo vệ chống sự thế chỗ của oxy bởi khí heli. Bình
không khí có thể cần thiết để dễ dàng chịu được khí heli thoát ra. Ngoài rủi ro
bị nghẹt thở còn có rủi
ro khác như sự giảm nhiệt hoặc đông cứng.
Vì khí heli nóng lên rất nhanh và lan
rộng từ trần nhà xuống phía dưới, người lao động cứu hộ đứng thẳng sẽ phải chịu
nguy hiểm lớn hơn bệnh nhân nằm trên giá đỡ bệnh nhân. Ở gần cửa ra vào có thể
có nhiều không khí hơn. Nhân viên cứu hộ có thể có thêm thời gian bằng cách bò bằng
tay và đầu gối để có thêm không khí.
Sau khi bệnh nhân được di chuyển ra khỏi
phòng khám, nhân viên cứu hộ không cần ở gần hệ thống MR cho đến khi dừng hóa khí toàn bộ
heli lỏng (quench) và thông khí được đảm bảo.
Sau khi hóa khí toàn bộ heli lỏng
(quench), phải thực hiện quy trình bảo dưỡng như mô tả trong tài liệu kèm theo.
Nhân viên bảo trì cần được thông báo ngay để đưa hệ thống MR vận hành trở lại.
Liên quan đến 26 Rung và ồn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mất thính giác đột ngột có thể gây ra
do những tiếng ồn rất to và ngắn như những tiếng gõ này ở đó thông số an toàn
tương ứng là mức áp suất âm thanh đỉnh, được đo bằng dB liên quan đến 20 mPa.
Giới hạn trên mức áp suất âm thanh đỉnh
140 dB được lấy từ các giá trị được chấp nhận hiện nay trên thế giới. Rất khó để
dự đoán trong các trường hợp nào thì thiết bị cộng hưởng từ sẽ tạo ra trường hợp
xấu nhất liên quan đến tiềng ồn phát ra. Rất có thể xảy ra rằng do đặc tính đáp
ứng tần số của thiết bị cộng hưởng từ, tiếng ồn trường hợp xấu nhất được tìm thấy
đối với giao thức khám (mà do sự trùng hợp ngẫu nhiên làm cho thiết bị cộng hưởng từ
hoạt động ở tần số công
hưởng cơ học và do đó sinh ra tiếng ồn nhiều hơn).
Liên quan đến 36 Tương thích điện từ
Trong khu vực tiếp cận có điều khiển,
thiết bị cộng hưởng từ nhìn cung sẽ không đáp ứng được các yêu cầu hiện hành đối
với phát xạ tần số radio. Các yêu cầu này ban đầu được dự kiến nhằm bảo vệ sự
liên lạc bằng tần số radio và nằm trong các tiêu chuẩn như TCVN 6988 (CISPR 11). Giới hạn
cho phép đối với phát xạ tần số radio nằm trong phạm vi từ 30 dBmV/m đến 50 dBmV/m. Đề xuất rằng trong tiêu chuẩn
sắp tới, các mức phát xạ đối với thiết bị cộng hưởng từ, thiết bị X quang có sử
dụng máy tính và thiết bị X quang phức hợp được đo tại các biên của phòng hoặc
công trình xây dựng.
Các tiêu chuẩn IEC về EMC đang được
biên soạn và sẽ xử lý vấn đề miễn nhiễm đối với các trường tần số radio của thiết
bị y tế. Mong muốn rằng miễn nhiễm sẽ được đòi hỏi đối với trường hợp chung có
trường từ 1 V/m đến 3 V/m và đối với các trường hợp đặc biệt, ví dụ thiết bị
duy trì sự sống hoặc một số thiết bị theo dõi bệnh nhân, có trường từ đến 10 V/m
hoặc 100 V/m.
Trên thực tế, trong khu vực tiếp cận
có điều khiển xung quanh thiết bị cộng hưởng từ, cường độ trường từ tần số
radio có thể dễ dàng
vượt quá các giới hạn này và có thể có các giới hạn lớn hơn 100 V/m. Rõ ràng rằng
thiết bị ngoại vi sử dụng trong khu vực tiếp cận có điều khiển có thể bị ảnh hưởng
bởi trường này.
Liên quan đến 51 Bảo vệ chống nguy
cơ quá công suất
Trường thay đổi theo thời gian
(gradient), trường tần số radio và trường từ tĩnh do thiết bị cộng hưởng từ
sinh ra có thể ảnh hưởng đến các chức năng sinh lý ở mức độ đòi hỏi
phải có các biện pháp an toàn. Các khuyến cáo đưa ra dựa trên kiến thức khoa học
và các hiểu biết về kỹ thuật hiện nay. Khi thiết lập các khuyến cáo này đã xét
đến các hướng dẫn hiện có. Khi có thêm các bằng chứng mới thì có thể cần xem
xét lại.
Các khám MR để chẩn đoán luôn có thể
hoàn thành trong khoảng 1 h. Do đó các xem xét liên quan đến các ảnh hưởng của
phơi nhiễm bệnh nhân trong thời gian khoảng 1 h với trọng tâm là các phản ứng bất
lợi trực tiếp.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
1) Giới thiệu
Trường từ thay đổi theo thời gian cảm ứng
ra trường điện E theo định luật Faraday. Đóng cắt cuộn gradient trong thiết bị
cộng hưởng từ sinh ra trường từ thay đổi theo thời gian (dB/dt hoặc B) làm cho
cơ thể bệnh nhân bị phơi nhiễm trong trường điện cảm ứng. Ở các tần số cao hơn
10 kHz, các trường cao hơn được yêu cầu đối với hiệu ứng [84]. Trường điện đến
lượt mình lại cảm ứng ra dòng điện và điều này sẽ làm phát nóng theo định luật
ôm. Trên thực tế, hiệu ứng phát nóng bởi đầu ra gradient chưa được quan tâm.
Trong trường hợp đơn giản trường
từ thay đổi đồng nhất theo thời gian và cơ thể hình trụ có độ dẫn đồng nhất với
trục song song với trường từ B, trường điện E sẽ hướng dọc theo đường tròn
vuông góc với B. Do đó, độ lớn của nó vuông góc với bán kính của đường tròn. Vì
vậy, mức quan tâm phụ thuộc vào kích cỡ của hệ thống chênh từ và phạm vi của
môi trường dẫn. Kích thích mô xuất hiện dễ dàng hơn khi trường từ gradient thay
đổi theo thời gian sinh ra trong các hệ thống chênh từ lớn.
2) Mối quan tâm về an toàn
Mối quan tâm chủ yếu liên quan đến đầu
ra gradient là kết sợi tim và kích thích thần kinh ngoại vi. Kết sợi tim là hiện tượng
nghiêm trọng nhất vì nó là tình trạng đe dọa trực tiếp đến cuộc sống. Kích
thích thần kinh cũng là mối quan tâm vì kích thích mạnh có thể là sự đau đớn
không thể chịu nổi. Hiện tượng này xuất hiện ở trên các mức ngưỡng đối với kích thích
tim (CS) và kích thích
thần kinh ngoại vi (PNS).
Mối quan tâm thứ yếu là sự phát nóng của
bệnh nhân. Mặc dù phát nóng do các dòng điện cảm ứng là thấp nhưng nó bổ sung
cho phát nóng gây ra do phơi nhiễm sóng radio (RF)trong thiết bị cộng hưởng từ
và mối quan tâm ở đây liên quan đến hiệu ứng kết hợp của hai nguồn phát nóng.
3) Mô hình kích thích
Mô hình lý thuyết về hệ thần kinh u bướu
không tuyến tính mở rộng trong
không gian (SENN) của Reilly [85] dự đoán rằng các điều kiện ngưỡng đối với
kích thích thần kinh có thể được mô tả bằng cường độ trường điện cục bộ tại điểm
cuối của dây thần kinh, song song với hướng và trong thời gian kích thích ts.
Với khoảng thời gian kích thích dài, trường ngưỡng đạt tiệm cận đến mức thấp nhất
Emin và với thời gian kích thích ngắn, ngưỡng này vuông góc với tích
giữa Emin và 1/ts.
Reilly dự kiến rằng hàm của ngưỡng
theo ts có thể xấp xỉ theo
luật số mũ:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Từ mô hình, giá trị nhỏ nhất trong con
người có ngưỡng Emin đối với kích thích tim và PNS đối với kích thích điện
vuông góc một cực được
ước lượng là 6,2 V/m. Giá trị thực nghiệm đối với hằng số thời gian tc thay đổi
trong phạm vi từ 0,12 ms đến 0,8 ms đối với PNS. Đối với kích thích tim, phạm
vi này là 1 ms đến 8 ms, và Reilly đề xuất lấy 3 ms làm giá trị đại diện.
Một công thức thay cho mối quan hệ hàm
số mũ trong công thức (BB.5) đã được đề xuất để cho phép mô tả chính xác hơn
các dữ liệu thực nghiệm [86, 87]. Hàm thay thế này thể hiện ngưỡng
để có được sự phụ
thuộc hypecbol vào thời gian kích thích:
ETH = ngưỡng
dòng điện (1 + chronaxie/ts) (BB.6)
Trong công thức này, ngưỡng dòng điện
là giới hạn tần số thấp của kích thích ngưỡng và chronaxie là thời gian phản
ứng đặc trưng của dây thần kinh đang xét. Theo công thức (BB.5), ts
là khoảng thời gian kích thích. Công thức này cũng áp dụng cho kích thích chữ
nhật một cực. Như được thảo luận dưới đây, các thực nghiệm gần đây cho thấy rằng
PNS do các trường gradient được đặc trưng chính xác bằng công thức (BB.6) sử dụng
chronaxie bằng 360 mS
[89, 90, 91].
Schaefer [88] vạch ra rằng khi so sánh
với mối quan hệ hàm mũ của công thức (BB.5), quan hệ hypecbol của công thức
(BB.6) phù hợp hơn đối với các giá trị lý thuyết của ngưỡng từ mô hình SENN của
Reilly. Do đó, công thức (BB.6) được sử dụng ở đây để mô tả các giới hạn kích
thích thần kinh ngoại vi.
4) Giới hạn sinh lý học
đối với sự phát nóng và kích thích tim và kích thích thần kinh ngoại vi
Reilly [85] đã so sánh các loại nghiên
cứu của kích thích điện lên động vật. Ông ta quan sát rằng các ngưỡng kết sợi
tim được phân bố theo log chuẩn với những nhóm nhạy nhất nằm bên dưới giá trị
trung bình khoảng hệ số 2. Ngoài ra, ông ta ước lượng rằng trong một loài động
vật cho trước, ngưỡng kích thích (bắt đầu loạn nhịp) sẽ là 40 % mức kết sợi
tim. Bằng cách ngoại suy cho con người, ông ta giả thiết là ngưỡng kích thích của
con người từ mô hình SENN của ông là 20 % mức kết sợi trung bình của con người.
Reilly ước lượng rằng dB/dt (71,3; 72,1; 50,8) T/s đối với đóng cắt của
gradient (x, y, z) là cần thiết để đạt được trường điện trong tim là 6,2 V/m, ước
lượng của ông dùng cho trường ngưỡng dòng điện để kích thích 1-percentile nhạy
nhất.
Bouland và những người khác [90] đã
ghi lại ngưỡng kích thích tim trung bình của chó đối với đóng cắt gradient HF
vượt quá 2 700 T/s ở thời gian 530 ms. Với hằng số thời gian của dây thần kinh tim 3 ms, điều
này ứng với giá trị tiệm cận của mức kích thích 440 T/s. Từ các tính toán xem
xét sinh lý học trên chó và người, đơn vị dB/dt dọc theo chiều dài của vật thể
cảm ứng ra trường điện trong
tim người bằng 2,81 lần lớn hơn trong tim chó vì vậy đối với người, có thể suy
ra mức kích thích tiệm cận 156 T/s và mức 1-percentile dự kiến ở 78 T/s,
tương đối phù hợp với ước lượng của Reilly.
Giới hạn sử dụng trong tiêu chuẩn này
nhằm tránh kích thích tim có hệ số an toàn 3 thấp hơn ngưỡng 1-percentile. Giới
hạn này dựa trên mô hình SENN và mức ngưỡng kích thích tim được
xác định bằng thực nghiệm. Với giả thiết như trên, giới hạn này ứng với sự có
khả năng xảy ra kích thích tim nhỏ hơn 2x10-9. Ngoài ra, nó cho thấy
rằng giới hạn kích thích thần kinh ngoại vi cho trong tiêu chuẩn thấp hơn giới
hạn kích thích tim đối với tất cả các khoảng thời gian kích thích.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mức phơi nhiễm cho phép của nhân viên
cộng hưởng từ đối với đầu ra gradient được thiết lập ở mức bệnh nhân sao cho giảm
thiểu xác suất xuất hiện PNS không chịu đựng được. Việc xác định quan hệ giữa mức
này với mức ngưỡng trung bình PNS của bệnh nhân là khó khăn vì nhân viên cộng hưởng
từ có thể chiếm chỗ trong máy khám cộng hưởng từ mà bệnh nhân không thể hoặc sẽ
không đi vào.
Cần thực hiện các lưu ý trước khi MRI
can thiệp vào để tránh PNS không mong muốn của nhân viên cộng hưởng từ trong ca
làm việc của họ mà có thể ảnh hưởng bất lợi đến an toàn của bệnh nhân.
5) Quan hệ giữa trường E và dB/dt
trong thiết bị cộng hưởng từ
Việc chuyển từ các giới hạn trường E
sang các giới hạn dB/dt đòi hỏi các kiến
thức về mối quan hệ giữa các thông số này theo dạng hình học điển hình của bệnh
nhân và hệ thống chênh từ.
Trường điện E cảm ứng bởi hệ thống
chênh từ trong cơ thể liên quan đến phân bố trong không gian của dB/dt và với dạng
hình học của cơ thể. Đối với đường cong kín I bất kỳ vẽ nên mặt phẳng S, công
thức vật lý cơ bản là:

Điều này có thể được giải quyết khi
quy định các điều kiện biên. Như một trường hợp đơn giản hóa để minh họa, bệnh
nhân có thể được mô phỏng bởi hình elipsoid dài có độ dẫn đồng nhất với chiều
dài của nửa trục a và chiều dài của nửa trục phụ b và khoảng không bên ngoài bệnh
nhân bởi môi trường cách ly. Khi trường từ thay đổi theo thời gian đồng nhất
trong không gian được đặt vuông góc với trục chính của elip tròn xoay này thì
giá trị E lớn nhất xuất hiện trên mặt phẳng trung bình của
elipsoid, dọc theo chu vi. Nó cho thấy là chu vi này là nơi tại đó PNS dự kiến
sẽ xuất hiện đầu tiên. Reilly [85] chỉ ra rằng tại vị trí đó

Khi elipsoid có chiều dài nửa trục a =
0,4 m và b = 0,2 m, thể hiện mặt cắt của bệnh nhân với trường theo hướng
AP, mối quan hệ tạo ra là
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
trong đó
E tính bằng V/m, và
dB/dt tính bằng T/s.
Khi trường từ thay đổi theo thời gian
song song với trục chính của elipsoid, là trường hợp thể hiện trường theo hướng
HP, trường điện cảm ứng sẽ song song với mặt cắt trong của nó với bán kính b =
0,2 m, trong trường hợp đó
|E| = 0,10dB / dt (BB 7c)
trong đó
E tính bằng V/m, và
dB/dt tính bằng T/s.
Trên thực tế, trường từ hệ thống chênh
từ trong thiết bị cộng hưởng từ là không đồng nhất. Trong hệ thống chênh từ,
giá trị lớn nhất trong không gian của dB/dt tại ngoại vi của bệnh nhân cao hơn
giá trị trung bình dB/dt của toàn bộ cơ thể. Các tính toán gần đây với mô hình
con người thực tế về mặt hình thái học ghi lại rằng các hệ số trong các công thức
(BB 7b) và (BB 7c) là 0,11 và 0,08 một cách tương ứng, đối với dB/dt được lấy
làm giá trị lớn nhất ở bán kính 0,2 m. Botwell và Bowley [92] cũng ghi được các
giá trị tương tự. Họ tính được dòng điện cảm ứng trong trụ dẫn bán kính 0,195 m
trong hình mô phỏng. Từ các kết quả đạt được có thể xác định các giá trị
E/(dB/dt) (dB/dt là giá trị lớn nhất tại r = 0,195 m). Đối với đóng cắt
gradient ngang, tỷ số là 0,121 và tỷ số 0,087 đối với đóng cắt gradient dọc.
Lưu ý rằng trường điện lớn nhất cục bộ sẽ có thể lớn hơn với hệ số 2 nếu mô hình
xét đến độ dẫn không đồng nhất, ví dụ tăng lên do tính cả đến xương.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
ts
=
(BB
8)
6) Giới hạn đối với CS được xác định bằng
dụng cụ đo
Trong tiêu chuẩn này, công thức (BB 6)
được sử dụng để chuyển đổi giới hạn sinh lý đối với kích thích tim như đã thảo
luận trong điểm 4. Hằng số thời gian của tim tc được giả thiết là 3
ms. Giá trị của Reilly về trường điện có ngưỡng một percentile được sử dụng làm
ngưỡng dòng điện của trường điện kích thích tim rbc. Công thức (BB 7C) được sử
dụng để chuyển đổi từ ngưỡng dòng điện của trường điện sang ngưỡng dòng điện của
dB/dt. Sử dụng hệ số an toàn 3 được nêu trong điểm 4. Giới hạn bảo vệ chống kết
sợi tim trở thành:

trong đó rbc = 6,2 V/m hoặc 62 T/s.
7) Chứng minh trực tiếp các giới hạn đầu ra
gradient đối với PNS trong thiết bị cộng hưởng từ toàn bộ cơ thể
Tiêu chuẩn này mô tả một số các phương
pháp để đạt được các giá trị ngưỡng PNS cụ thể của thiết bị cộng hưởng từ. Các
giá trị này được thảo luận trong điểm này và các điểm tiếp theo. Để thiết lập các
giới hạn đối với PNS, tiêu chuẩn này cho phép sử dụng đánh giá bằng thực nghiệm
các ngưỡng làm cơ sở để xác định các giới hạn (xác định trực tiếp). Xác định trực
tiếp đòi hỏi công việc thực nghiệm với những người tình nguyện trong mô hình đặc
trưng của bộ gradient. Dựa trên tính hiệu lực giả thiết của mối quan hệ hàm số
mũ giữa ngưỡng và thời gian sườn dốc, phương pháp có thể có để chứng minh trực
tiếp là nhằm thiết lập ngưỡng dòng điện và chronaxie trên phép thử với một số
giới hạn các thời gian sườn dốc và sinh ra các mối quan hệ đệ quy đối với mỗi
thời gian sườn dốc sử dụng. Có thể sử dụng thêm mô hình để giới hạn số lượng
các dạng sóng cần phép thử thực tế. Một ví dụ về mô hình này được nêu trong Điểm
16.
Các giới hạn rút ra từ thực nghiệm với
tình nguyện viên phải tuân thủ các yêu cầu về sinh lý như liệt kê trong Điểm 4.
Tải làm việc từ việc chứng minh trực tiếp này có thể quá mức và đối với một số
dạng sóng quan trọng, tiêu chuẩn này đưa ra các giới hạn bằng số để thay thế,
được thảo luận trong các Điểm từ 8-14.
8) Giới hạn mặc định được xác định bằng
số đối với PNS
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
9) Cơ sở so sánh đối
với đầu ra gradient
Cơ sở được sử dụng để so sánh công việc
thực nghiệm [89, 90, 91] như sau: Tất cả các giá trị dB/dt được tính lại cho
dB/dt, giá trị lớn nhất không gian-thời gian của giá trị mô đun của
dB/dt, xuất hiện trên các vách hình trụ 0,2 m, đồng trục với nam châm. Thể tích
này được chọn để đại diện cho thể tích bình thường có thể tiếp cận với bệnh
nhân. Tất cả các dạng sóng gradient sử dụng là dạng sóng EPI có dạng hình thang. Hướng gradient
đóng cắt là trước-sau (AP) trong hai trong ba ấn phẩm, và kết quả
của tất cả các bộ gradient được sử dụng đồng thời trong ấn phẩm thứ ba [89].
Trong ấn phẩm này, các ngưỡng đối với hướng AP của gradient đóng cắt có thể đạt
được bằng cách hồi quy. Các đỉnh bằng phẳng của dạng sóng là 0,3 ms trong Bourland
[90], 0,4 ms trong Ham [89] và 0,5 ms trong Hebrank [91]. Những khác nhau về thời
gian đình bằng phẳng được giả thiết là ảnh hưởng bậc hai và được bỏ qua. Độ rộng
của phân bố từng ngưỡng có thể đánh giá cho hai trong ba nghiên cứu [90, 91], vì
trong các nghiên cứu này có một số lượng lớn người tình nguyện tham gia. sự lệch
tiêu chuẩn quan sát được thể hiện dưới dạng một phần của giá trị trung bình được
nhận thấy là có cỡ tương tự nhau trong hai nghiên cứu và giá trị 0,24 được chấp
nhận để xác định vùng tin cậy của các ngưỡng trung bình.
Đối với thời gian sườn dốc, khi có thể
đạt đến ngưỡng đối với tất cả các chủ thể, vì các giới hạn kỹ thuật của hệ thống
chênh từ, giá trị trung bình được sử dụng làm người đánh giá giá trị trung
bình. Trong trường hợp khi không thể quan sát được c ngưỡng cao nhất từ N tình
nguyện viên thì giá trị thống kê được xác định làm giá trị trung bình trên phần
trung tâm N-2c của các ngưỡng.
10) Dữ liệu thực nghiệm trên ngưỡng
PNS của tình nguyện viên trong thiết bị cộng hưởng từ toàn bộ cơ thể
Kết quả của các giá trị thực nghiệm được
chuyển đổi dựa trên cơ sở so sánh như mô tả trong Điểm 9 được nêu trong Hình
BB.2. Dữ liệu được thể hiện là nhất quán, mặc dù thiết bị cộng hưởng từ sử dụng
là của các nhà sản xuất khác nhau đến mức có sự khác nhau về thiết kế phần cứng
gradient. Chức năng kích thích ngưỡng theo hàm mũ theo công thức (2) đạt được bằng
cách lắp tất cả các điểm dữ liệu với trọng số thống kê cho từng điểm dữ liệu có
tính đến số lượng tình nguyện viên tham gia khám trong từng báo cáo. Giá trị
ngưỡng dòng điện đạt được là:
rb = 19,7 ± 1 T/s
và trong tiêu chuẩn này được làm tròn
thành 20 T/s. Chronaxie tc = 0,36 ms.

Các điểm được vẽ trên thang loga của
các giá trị ngưỡng qua thực nghiệm đối với kích thích thần kinh ngoại vi với dạng
sóng EPI hình thang theo thời gian kích thích ts (à Ham [89], + Bourland
[90], x Hebrank [91]). Trong tất cả các thí nghiệm, các dữ liệu được lấy theo
hướng AP của gradient đóng cắt. Các giá trị ngưỡng được thể hiện dưới dạng
dB/dt, giá trị lớn nhất theo không gian-thời gian của mô đun dB/dt trên mặt phẳng
hình trụ đồng trục với nam châm với bán kính là 0,2 m. Đường nét liền là
hypecbon phù hợp với tất cả các điểm dữ liệu, với trọng số thống kê trên từng điểm
phản ánh số lượng tình nguyện viên được thử nghiệm trong từng báo cáo. Các
thông số đặc trưng của hypecbon là ngưỡng dòng điện rb = 19,7 T/s và chronaxie
tc = 0,36 ms (xem công thức (2)).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
11) Dữ liệu thực nghiệm trên ngưỡng
PNS không phải dạng hình thang
Ngưỡng dB/dt được xem là phụ thuộc vào
thời gian kích thích ts. Đối với các dạng sóng gradient không phải
hình thang, thời gian kích thích không chỉ có một định nghĩa duy nhất. Harvey
[93] và Mansfield [94] cho thấy rằng các ngưỡng đối với các sóng hình sin trở
nên xấp xỉ bằng các ngưỡng đối với các sóng hình thang khi trong dạng sóng hinh
sin B(t) = Bmax sin(2pt / T), thời gian kích thích hiệu quả được định nghĩa là tỷ
số giữa biên độ và tốc độ thay đổi lớn nhất:
ts,eff=2Bmax/B(0)=T/p (BB 10)
Frese [95] so sánh các dạng sóng hình
sin và dạng sóng hình chữ nhật theo hướng AP trong cùng một thiết bị cộng hưởng
từ. Hình BB.3 minh họa sự phù hợp đạt được khi được vẽ như một hàm của ts,
eff. Ví dụ chứng tỏ tính hợp lệ của việc sử dụng này. Trong tiêu chuẩn
này, ts, eff sẽ được sử dụng để mô tả thời gian kích thích hiệu quả.

Các dạng sóng là EPI hình thang (+) và
EPI hình sin (à). Chúng được
hiển thị theo các dữ liệu thời gian kích thích hiệu quả ts, eff, từ
Frese [95]. Các dữ liệu được lấy theo hướng AP của gradient đóng cắt. Các giá
trị ngưỡng được thể hiện là giá trị lớn nhất trong không gian của các mô đun
dB/dt trên mặt phẳng hình trụ đồng trục với nam châm có bán kính 0,2 m. Đường
nét liền là hypecbon
phù hợp với tất cả các điểm dữ
liệu, đồng nhất với hình vẽ thể hiện trên hình BB.2.
Hình BB.3 - Vẽ
trên thang loga các giá trị ngưỡng thực nghiệm đối với kích thích thần kinh ngoại
vi
12) Dữ liệu thực nghiệm trên các giá
trị ngưỡng PNS tùy thuộc vào hướng của cơ thể bệnh nhân so với hướng gradient
đóng cắt
Giá trị ngưỡng dòng điện là hàm của hướng
gradient đóng cắt đạt được bằng thực nghiệm trong thiết bị cộng hưởng
từ toàn bộ cơ thể. Đối với cuộn gradient HF, nghiên cứu Purdue trên 84 tình
nguyện
viên
ghi được ngưỡng dòng điện là 29,5 T/s và chronaxie là 0,36 ms. Lưu ý rằng trong
các thực nghiệm này, một cuộn dây đơn giản mà tái tạo dạng từ trường tại mỗi đầu
của cuộn gradient HP thực tế được sử dụng để mô phỏng các hiệu ứng kích thích của
đóng cắt gradient HF. Vật thể này được định vị theo chiều dọc đối với ngưỡng
PNS nhỏ nhất. Thực nghiệm này cho thấy rằng ngưỡng PNS đối với các hướng
gradient HF trong thiết bị cộng hưởng từ như vậy sẽ lớn hơn hướng AP, với tỷ số
giữa hướng gradient AP trên HF là 0,66. Giữa gradient LR và AP tồn tại một sự
khác nhau tương tự về ngưỡng. Các dữ liệu trên 10 tình nguyện
viên của Budinger [96], người đã
xem xét các ngưỡng này bằng cách quay cuộn gradient so với tình nguyện
viên, cho thấy rằng tỷ số giữa các ngưỡng gradient AP và LR là 0,8. Trên cơ sở
các kết quả này, tiêu chuẩn này cho phép các hệ số trọng số để tính toán đầu ra
gradient của gradient HF và LR bằng WHF = 0,7 và WLR =
0,8.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Chuỗi hình ảnh MR luôn chứa sự kết hợp
các dạng sóng gradient từ tất cả ba bộ gradient.
Kích thích mạnh nhất sẽ xuất hiện khi
tất cả các cuộn dây được hoạt động đồng thời với các dạng sóng đồng nhất ở đầu
ra gradient lớn nhất. Tại mỗi thời điểm trong không gian xung quanh tâm nam
châm, giá trị của tốc độ thay đổi tổng (dB/dt)tổng sẽ là tổng vecto
của các phân bố (dB/dt)i từ từng bộ gradient i. Lưu ý rằng trường điện
cảm ứng, được coi là cơ chế kích thích, sẽ tương tự nhau do sự bổ sung vecto của
trường điện E xuất phát từ từng gradient đóng cắt. Giá trị (dB/dt)tổng
sẽ là hàm của không gian theo cách để phụ thuộc mạnh vào octant như định nghĩa bởi
hệ thống tọa độ gradient. Các giá trị lớn nhất sẽ xuất hiện trong các octant mà
ở đó hướng của (dB/dt)tổng và của từng (dB/dt)i sẽ nằm ở các góc nhỏ
hơn 90°. Điều kiện này sẽ luôn tồn tại ở hai trong số các octant, và trong quá
trình kết hợp của các dạng sóng phức hợp mà ở đó các gradient đổi dấu, điều kiện
trường hợp xấu nhất này sẽ chuyển đến các octant khác. Trong octant trường hợp
xấu nhất, giá trị lớn nhất trong không gian của (dB/dt)tổng nhỏ hơn
tổng các giá trị lớn nhất trong không gian của các (dB/dt)i, vì các
giá trị lớn nhất trong không gian của các (dB/dt)i không xuất hiện tại
cùng một điểm. Hơn nữa, ngay cả trong octant đó, hướng vecto của (dB/dt)i
tại vị trí (dB/dt)tổng lớn nhất sẽ không hoàn toàn song song.
Do đó, trong trường hợp đang xét, (tất
cả các cuộn dây hoạt động đồng thời với các dạng sóng đồng nhất ở giá trị dB/dt
lớn nhất) các ảnh hưởng chung lên kích thích sẽ nhỏ hơn tổng tuyến tính của các
ảnh hưởng của từng cuộn dây.
Tiêu chuẩn này giả thiết rằng ảnh hưởng
của các gradient đóng cắt đồng thời có thể được đại diện bởi tổng toàn phương
có trọng số các (dB/dt)i của từng bộ gradient. Hệ số trọng số được
nêu trong Điểm 12.
Khi thời gian kích thích ts
của ba gradient tại giá trị truyền lớn nhất không giống nhau, phép cộng toàn
phương vẫn có ý nghĩa, nhưng giới hạn chung phải được thay bằng các giới hạn
riêng đối với từng thời gian kích thích ts.
Trong thiết bị cộng hưởng từ, chuỗi
các dạng sóng đồng thời ở giá trị biên độ lớn nhất của từng gradient, vì vậy giả
thiết về sự xuất hiện là một giả thiết thận trọng. Các ước lượng thực tế của
ngưỡng đối với các dạng sóng đồng thời một phần từ các cuộn dây khác nhau có thể
có được bằng các mô hình chính xác hơn và có tính đến hình dạng của từng dạng
sóng. Ví dụ về mô hình này được mô tả trong Điểm 16.
14) Giới hạn PNS đối với hệ thống
chênh từ toàn thân
Như nêu trong Điểm 4, giới hạn của chế
độ vận hành có điều khiển mức một là đầu ra gradient mà đưa ra ngưỡng PNS. Định
nghĩa sinh lý này có thể được nêu lại một cách định lượng: đối với hệ thống
chênh từ toàn bộ cơ thể, giới hạn này dựa trên các giá trị ngưỡng tìm thấy đối
với đóng cắt các gradient AP trong Điểm 10.
Đây là giới hạn liên quan đến đầu ra
gradient lớn nhất của hệ thống chênh từ với dạng sóng cho trước.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Thể tích phù hợp được định nghĩa
trong tiêu chuẩn. Các kích thước của không gian được giả thiết là không nằm
trong vùng mà bình thường không có các bộ phận cơ thể có đường kính lớn của bệnh
nhân, và không gian này có thể nhỏ hơn không gian thực tế mà bệnh nhân tiếp cận.
- Sự phụ thuộc gồm hiệu chỉnh thời gian
kích thích đối với các ngưỡng giữa hình sin và hình thang
- Đầu ra đồng thời được rút ra từ việc
xem xét khám đầu ra gradient của các bộ gradient riêng rẽ, sử dụng các tỷ số
ngưỡng phụ thuộc vào hướng đặt wi từ điểm 12 và luật tổng toàn
phương của Điểm 13.
Điều này sinh ra

các giá trị dB/dt có thể đạt được bằng
cách tính toán hoặc
thử nghiệm. Các tính toán có thể thực hiện từ hình dạng hình học của cuộn dây
và phân bố dòng điện bằng cách sử dụng định luật Biot-Savart:

trong đó dl’ là phần tử dây
quấn của cuộn dây ở vị trí r’.
15) Giới hạn đối với PNS dựa trên tính
toán trường từ
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mặc dù giá trị E trong cuộn dây cho
trước và hình dạng hình học của bệnh nhân không dễ đo được nhưng các tính toán
vẫn có thể thực hiện từ hình dạng hình học của cuộn dây và phân bố dòng điện
khi bỏ qua ảnh hưởng của dòng điện cảm ứng trong bệnh nhân. Trường điện trong bệnh
nhân do các gradient đóng cắt có thể được biểu diễn như sau:
E = –¶A/ ¶t
– ÑF (BB 13)
trong đó A là điện thế của vecto từ do
dòng diện trong các cuộn dây gradient. Vi phân theo thời gian ¶A/ ¶t được tính từ

trong đó:
İ là tốc độ thay đổi dòng điện
trong cuộn dây và
dl’ là phần tử
dây quấn của cuộn dây tại vị trí r’.
Điện thế tĩnh điện F là do các điện tích
tại các giao diện giữa các mặt phẳng không liên tục về độ dẫn điện (ví dụ như
giao diện không khí-bệnh nhân) và do sự bảo toàn điện tích.
Điện thế tĩnh điện nhìn chung cần được
tính bằng kỹ thuật máy tính. Trường hợp đặc biệt đáng chú ý trong đó F bằng không đối với
gradient z đối xứng hình trụ đặc đọc theo trục của trụ dẫn. Trong trường hợp
này, E = –¶A/ ¶t. Công thức (BB 14)
có hiệu lực đối với mô hình bệnh nhân phức tạp. Sự đơn giản hóa có ích nhằm xấp xỉ các
phần của cơ thể thành các trụ hoặc cầu có độ dẫn đồng nhất.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- không gian phù hợp là toàn bộ không
gian mà bệnh nhân có thể tiếp cận;
- đầu ra đồng thời của các bộ gradient
có thể lấy từ quy tắc tổng bình phương của Điểm 13, nhưng không cho phép sử dụng
hệ số trọng số phụ thuộc hướng. Ví dụ, đối với các dạng sóng EPI có thời gian
kích thích điều này dẫn đến

16) Mô hình các giá trị
ngưỡng của PNS đối
với các dạng sóng phức hợp
Hàm ngưỡng hypecbon tương tự với công
thức (BB 6) và có ngưỡng dòng điện và chronaxie được xác định trong Điểm 10 có
hiệu lực đối với các kích thích chữ nhật lượng cực lặp (và đối với hình sin, sử
dụng thời gian kích thích hiệu
quả xác định trong công thức (BB 11)). Để giải quyết các dạng sóng gradient phức
hợp, ví dụ thường được sử dụng trong vẽ hình ảnh MR, có thể mở rộng hơn vì đối
với các dạng sóng như vậy, ngưỡng có thể cao hơn. Hàm ngưỡng phổ biến hơn có thể
tìm thấy bằng cách xem xét kích thích B(t) thuộc dạng sóng này là một
chuỗi các hàm Dirac mà gây ra đáp ứng thần kinh cần thiết lặp để thực sự đạt đến
ngưỡng [97]. Từ công thức (BB 6) có thể biểu diễn Rrect, đáp ứng với
ngưỡng đối với các kích thích chữ nhật đơn giản có thời gian kích thích ts
là

Rrect có thể được coi
là hàm của ts. Vi phân
theo ts là

Công thức (BB 17) mô tả sự góp phần
vào giá trị đáp ứng ở t = ts
của việc cộng có dạng Dirac vào kích thích tại t = 0 với giá trị B. Đối với trường
hợp phổ biến hơn, việc tăng giá trị đáp ứng DR(t) ở thời điểm t từ
các kích thích dạng Dirac ở thời điểm q với cường độ B(q) là
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Giá trị tổng của đáp ứng của thần kinh
R(t) ở thời điểm bất
kỳ đối với kích thích bất kỳ B(q) đối với 0
< q < T đạt
được bởi

Hình BB.4 thể hiện R(t) đối với các
kích thích chữ nhật đơn giản. Kích thích sẽ xuất hiện khi độ lớn dB/dtmax của kích thích làm
cho giá trị lớn nhất theo thời gian R(t) lớn hơn 1.
Ví dụ, đối với dạng sóng hình ảnh vọng
hai chiều (EPI), kích thích phức hợp là chuỗi các kích thích chữ nhật có dấu
thay đổi trong đó kích thích đầu tiên trong chuỗi có một nửa thời
gian của các kích thích
khác. Các đỉnh bằng phẳng của dạng sóng gradient tương ứng với các khoảng thời
gian giữa các kích thích. Kết quả của tích phân trong công thức (BB 18) trong
trường hợp này được thể hiện ở dạng đồ họa đối với PNS trên Hình BB.5. Giá trị
lớn nhất của R(t) đạt được tại thời điểm kết thúc kích thích thời gian đầy đủ đầu
tiên. Các hình vẽ gợi ý rằng có thể sử dụng mô hình để rút ra các điều kiện ngưỡng
đối với dạng sóng bất kỳ, cho trước ngưỡng đối với dạng sóng đơn giản.
Các dự đoán của mô hình được so sánh với
thực nghiệm trong Hình BB.6 và BB.7. Hình BB.6 thể hiện các ngưỡng đối với dạng sóng
hình thang của nghiên cứu Purdue (xem chi tiết trong điểm 10). Công thức (BB
19) đã được sử dụng để tìm hàm ngưỡng bằng cách đưa dạng sóng hình thang thực
nghiệm vào B(q). Ngưỡng dòng
điện rb và chronaxie tc (công thức (BB 19)) được điều chỉnh để phù hợp
nhất. Có thể thấy rằng các giá trị đạt được không bằng với ngưỡng dòng điện và
chronaxie tìm thấy cho tập dữ liệu giống nhau trong điểm 10. Điều này gây ra do
sự khác nhau trong việc xác định chúng: trong công thức (BB 19), rb và tc
được xác định cho các kích thích chữ nhật một cực. Ngoài ra, Hình BB.6 thể hiện
hàm ngưỡng mà có thể có được từ công thức (BB 19) đối với cùng một ngưỡng dòng
điện và chronaxie, nhưng đối với dạng sóng sin, vẽ theo thời gian kích thích hiệu
quả như xác định trong công thức (BB 11). Mô hình được thể hiện để hỗ trợ việc
sử dụng các
cách xác định này một cách hợp lý. Mô hình dự đoán rằng đối với cả hai dạng
sóng, ngưỡng sẽ nằm trong phạm vi 10 % trong dải thời gian kích thích hiệu quả
lớn. Mặc dù mô hình dự đoán sự giảm mạnh của ngưỡng thực nghiệm giữa thí nghiệm
nửa chu kỳ và thí nghiệm hình sin liên tục, nhưng sự thay đổi tinh vi hơn được
tìm thấy bằng thực nghiệm đối với các hình sin có thời gian từ 1 đến 10 chu kỳ
không được dự đoán. Các mô hình mở rộng hơn là cần thiết [91]. Mô hình SAFE của
chúng (xấp xỉ kích thích bằng
các lọc và đánh giá) áp
dụng cho ba bộ lọc tạm thời để lọc dạng sóng gradient và cộng các đầu ra. Bộ lọc
đóng vai trò phát điện thế hoạt động trong các dây thần kinh và lan rộng tín hiệu
nhờ các khớp thần kinh. Trong khi mô hình không đòi hỏi mô tả đáp ứng sinh lý,
thì nó vẫn dự đoán tất cả các yếu tố phụ thuộc của ngưỡng kích thích trong thời
gian kích thích, hình sin theo hình thang và số lượng chu kỳ gradient.
Hình BB.7 thể hiện ngưỡng là hàm của số
các nửa chu kỳ của kích thích hình sin. Ngưỡng được vẽ theo tỷ lệ để phù hợp
với các dữ liệu thực nghiệm từ Budinger [96].

Ä ký hiệu của tích hợp. n(t) = tc/rb
(tc + t)2
Hình BB.4 -
Giá trị đáp ứng R(t) sinh ra bởi tích chập của kích thích dB/dt và hàm đáp ứng
xung thần kinh n(t - q)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các trục thẳng đứng có đơn vị tương đối.
R được tính từ công thức (16) với tc = 0,36 ms. Các đường gạch bóng,
tại các giá trị có tọa độ bằng nhau, minh họa rằng đáp ứng thần kinh lớn nhất đạt
được sau lần giảm âm đầu tiên.
Hình BB.5 - Dạng
sóng gradient G, dạng sóng kích thích dB/dt và giá trị đáp ứng R đối với dạng
sóng EPI hình thang bắt
đầu từ t = 0

Đường cong thấp hơn là dùng cho các dạng
sóng hình thang; đường cong này đạt được bằng cách đưa các dữ liệu thực nghiệm
(+) của Bourland [90] vào công thức (16). Các giá trị đạt được của ngưỡng dòng
điện và chronaxie là 17,3 T/s và
0,3 ms.
Đường cong cao hơn dùng cho dạng sóng
hình sin, sử dụng
các giá trị tương tự của ngưỡng dòng điện và chronaxie.
Hình BB.6 -
Giá trị ngưỡng dB/dt đối với hai dạng sóng gradient, được vẽ theo thời gian
kích thích hiệu quả

CHÚ THÍCH Có cả các dữ liệu thực nghiệm
của Budinger [96]. Đường nét liền: từ công thức (19), phối hợp trở kháng ở N =
64.
Hình BB.7 -
Giá trị ngưỡng dB/dt đối với dạng sóng gradient hình sin, là hàm của số lượng các nửa
chu kỳ trong dạng sóng
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phát nóng là hậu quả
chính của phơi nhiễm với các trường từ tần số radio sử dụng trong cộng hưởng từ
(thường lớn hơn 1 MHz). Nhiều hiệu ứng sinh học của phơi nhiễm với tần số radio
thích hợp với các đáp ứng với phát nóng gây ra do tăng nhiệt độ mô hoặc nhiệt độ
cơ thể khoảng 1 °C hoặc lớn hơn, hoặc với các đáp ứng để giảm thiểu tải nhiệt
cho mô [98].
Tải nhiệt gây ra bởi tần số radio có
thể liên quan trực tiếp đến SAR. Các hệ số quan trọng khác có ảnh hưởng đến đáp
ứng của bệnh nhân với tải nhiệt cho trước bao gồm nhiệt độ không khí, độ ẩm tương đối,
tốc độ luồng không khí và mức độ cách nhiệt của bệnh nhân. Trong khi các giới hạn
SAR cục bộ hoặc SAR toàn bộ cơ thể đôi khi có ích để xác định mức quan tâm thì
độ tăng nhiệt là tiêu chí đầu
tiên. Đối với nguyên nhân này, tiêu chí độ tăng nhiệt cũng được đưa vào tiêu
chuẩn.
Các vùng cục bộ hóa của phát nóng hoặc
những “điểm nóng” có thể gây ra độ tăng nhiệt cục bộ. Quan trọng là phải che chắn
những bệnh nhân có vật cấy hoặc hình xăm, v.v... mà có thể gây ra việc
tăng phát nóng cục bộ [2]. Hấp thụ năng lượng tăng tỷ lệ thuận với bình phương
khoảng cách hướng kính từ tâm của cơ thể [99] và độ không đồng nhất về điện của
cơ thể thay đổi theo dòng điện và độ
hấp thụ năng lượng cục bộ. Các nghiên cứu sử dụng mô hình cầu dự đoán rằng “điểm
nóng” trường hợp xấu nhất có thể tạo ra bởi quả cầu có độ dẫn thấp (xương hoặc
mỡ) nằm ở mép ngoài của
quả cầu có độ dẫn lớn (ví dụ bắp thịt); “điểm nóng” có thể xuất hiện với SAR lên đến
2,5 lần giá trị trung bình cục bộ
[100]. Các tính toán dựa trên mô hình toán học không đồng nhất của cơ thể con
người [101, 102] gợi ý rằng SAR trong mô cục bộ trong cơ thể có thể đến 5 hoặc
thậm chí 8 lần lớn hơn trên các thể tích nhỏ so với giá trị trung bình trong
toàn bộ cơ thể [103]. Tuy nhiên, những giá trị tăng tương đối này được giảm đi
một hệ số khoảng 2 đến 4 khi được lấy trung bình trên các bộ phận cơ thể riêng
rẽ [103, 104]. Xác suất SAR trong mô cục bộ cao được giảm xuống do kích thích
toàn phương, và ảnh hưởng của chúng được làm dịu đi bởi sự lan truyền nhiệt và
sự lưu thông của máu.
Các hiệu ứng nhiệt xuất hiện vi tính
nhạy nhiệt độ của hầu hết các quá trình sinh lý. Quan tâm đầu tiên liên quan đến
phơi nhiễm tần số radio là để tránh các đáp ứng sinh lý quá mức với độ tăng nhiệt
độ trong cơ thể và tránh tăng nhiệt độ của mô đến mức có thể phải chịu một số mức
độ nguy hại [1].
Các đáp ứng nhạy của con người với sự
phát nóng trong toàn bộ cơ thể bởi tần số radio có thể là những đáp ứng liên
quan đến điều chỉnh nhiệt và kể cả tăng nhịp tim và lưu thông máu dưới da cùng
với giảm nhẹ áp suất máu trong động mạch [105]. Đáp ứng này trở nên lớn nhất
ngay cả khi vật thể nằm thụ động trong nhiệt độ môi trường, khi độ tăng nhiệt của
cơ thể lớn hơn khoảng 2 °C. Ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe là không mong muốn
trong con người có cơ chế điều tiết nhiệt không hoạt động tốt và các chức năng
tim mạch nếu việc tăng nhiệt độ trong cơ thể không lớn hơn 1 °C [106]; Dưới đây
đưa ra một số ngoại lệ cụ thể.
Sức khỏe của một số bệnh nhân có thể bị
ảnh hưởng trong các điều kiện này. Mối tương quan giữa sinh lý và cơ thể mà
liên quan đến khả năng thích nghi với tải nhiệt tăng bao gồm, tuổi già, béo phì
và tăng huyết áp [107]. Nhiều thuốc khác nhau như thuốc lợi tiểu, thuốc an thần,
thuốc giảm đau, thuốc gây giãn mạch và các thuốc khác làm giảm sự chịu đựng nhiệt
[108]. Ngoài ra, khả năng điều chỉnh nhiệt của trẻ con chưa phát triển tốt; người
mẹ mang thai cũng có thể bị ảnh hưởng đến khả năng tiêu tán nhiệt. Trong trường
hợp này, cần lưu ý rằng sự mất nhiệt từ bào thai qua nhau thai có thể nhỏ hơn
nhiều so với sự tiêu tán nhiệt trong các mô tim mạch khác. Nhiệt độ cơ thể nâng
lên được biết là sẽ gây quái thai cho một số loài động vật có vú kể cả động vật
linh trưởng, và liên quan đến cả hệ thống thần kinh trung ương và khuyết tật
trên mặt ở trẻ có mẹ bị chứng thân nhiệt tăng cao rõ rệt kéo dài (>39 °C), đặc biệt
trong ba tháng đầu của thai kỳ [109, 110]. Trong các trường hợp này, cần giới hạn
độ tăng nhiệt trong cơ thể thấp hơn 0,5 °C [106].
Giới hạn trên SAR toàn bộ cơ thể được
trình bày trong 51.103. Giới hạn 2,0 W/kg đối với chế độ vận hành bình thường
được khuyến cáo là giá trị SAR toàn bộ cơ thể cao nhất mà tất cả mọi người,
không kể tình trạng sức khỏe cần có khả năng chịu được. Con người có khả năng
điều chỉnh nhiệt và hệ thống tim mạch hoạt động tốt cần chịu được các giá trị
SAR toàn bộ cơ thể cao hơn; Khuyến cáo giới hạn trên là 4 W/kg đối với chế độ vận
hành có điều khiển mức một. Tuy nhiên, sự chịu đựng của từng người với nhiệt độ
cơ thể nâng cao lại thay đổi rất nhiều; do đó, ngay cả với những người khỏe mạnh
cũng yêu cầu phải có giám sát y tế [117].
Giới hạn trên đây được xây dựng với giả thiết
nhiệt độ trong phòng khám MR nhỏ hơn 24 °C, độ ẩm tương đối nhỏ hơn 60 % và lưu
thông không khí là rất nhỏ; ngoài ra, giả thiết bệnh nhân được mặc quần áo nhẹ.
Các tính toán của Adair và Berglund [118, 119] có thể được sử dụng để rút ra
các hệ số hiệu chỉnh đối với môi trường để hạn chế tổn thất nhiệt. Có thể ước
lượng rằng đối với mỗi °C nhiệt độ môi trường cao hơn 24 °C, SAR toàn bộ cơ thể
cần được giảm đi 0,25 W/kg. Tương tự đối với mỗi 10 % độ ẩm môi trường cao hơn
60 %, các giới hạn cần được giảm đi 0,1 W/kg. Các ảnh hưởng này được tính đến
trong tiêu chuẩn này bằng yêu cầu giảm các giới hạn SAR ở nhiệt độ và
độ ẩm cao. Tuy
nhiên, đáp ứng của từng người lại có thể thay đổi; do đó cần chú ý ở mức độ
giám sát thích hợp khi sử dụng các hệ số hiệu chỉnh này.
Một số vùng trên cơ thể, ví dụ như đầu,
đặc biệt có thể bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ nâng cao. Thai nhi đang phát triển cần
được coi là đặc biệt nhạy cảm với nhiệt độ nâng cao; tuy nhiên, các mô trong
thân người và tứ chi được coi là ít nhạy cảm hơn. Czerski và Athey [120] đề xuất
rằng nhiệt độ cục bộ khoảng 38 °C trong đầu, 39 °C trong thân người và 40 °C trong
tứ chi thì ít có khả năng sinh ra các ảnh hưởng bất lợi. Tính toán đơn giản
[121] thể hiện mối quan hệ giữa phát nhiệt cục bộ trong mắt với SAR trong đầu gợi
ý rằng phơi nhiễm gây ra 3 W/kg cho đầu thì ít có khả năng làm tăng nhiệt độ của
mắt quá 1,6 °C; nhiệt độ của não cũng ít có khả năng tăng quá 1 °C trong các điều
kiện này. Trong các phép đo thực nghiệm trên cừu cạo trụi lông, [122], một số động
vật chịu quá trình khám cộng hưởng từ qua đầu 4 W/kg trong thời gian từ 60 min
đến 90 min trong khi đo nhiệt độ của mô sâu và mô ngoại vi gồm giác mạc, dịch
thủy tinh, da đầu, lưỡi, tĩnh mạch cổ và trực tràng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Độ tăng nhiệt trong đối tượng bất kỳ
mà xuất hiện khi đáp ứng với sự hấp thụ không liên tục năng lượng tần số radio
từ ví dụ nguồn tần số radio dạng xung, có thể tương đương với giá trị SAR lấy
trung bình trong 50 % thời gian cân bằng nhiệt, là thời gian được lấy để độ tăng
nhiệt tại tâm của vùng phát nóng bằng 50 % giá trị lớn nhất sau khi đặt nguồn
nhiệt. Thời gian cân bằng nhiệt đối với cơ thể là chưa biết chính xác nhưng có
thể ước lượng vào khoảng 15 min đến 30 min trong đó các mô có khối lượng nhỏ
hơn như mắt, có thời gian cân bằng nhiệt khoảng 5 min [123]. Tiêu chuẩn này sử
dụng giá trị 6 min làm thời gian lấy trung bình để xác định SAR đối với tất cả
các mô và đối với cơ thể.
Cuộn chênh từ sóng radio (RF) có thể
tách thành hai loại: cuộn chênh từ sóng radio (RF) trong không gian và cuộn
chênh từ sóng radio
(RF) cục bộ. Thành phần phổ biến của loại cuộn chênh từ sóng radio (RF) trong
không gian là thiết bị cộng hưởng cơ thể và cuộn dây qua đầu. Cuộn chênh từ
sóng radio (RF) cục bộ thường được sử dụng liên quan đến ứng dụng X quang.
Sự phân chia thành hai loại được đưa
ra để đơn giản hóa nhưng, trên quan điểm an toàn, vẫn đáp ứng đầy đủ các quy tắc
điều khiển SAR.
Đối với cuộn chênh từ sóng radio (RF)
trong không gian, điều khiển các khía cạnh SAR toàn bộ cơ thể và SAR một phần
cơ thể (kể cả SAR qua đầu)
là đủ trong khi đó đối với cuộn chênh từ sóng radio (RF) cục bộ thì cần điều
khiển khía cạnh SAR toàn bộ cơ thể và SAR cục bộ.
Điều khiển đồng thời SAR toàn bộ cơ thể
cùng với SAR một phần cơ thể hoặc với SAR cục bộ là cần thiết đề đáp ứng sự
thay đổi trong phạm vi rộng của các trường hợp phơi nhiễm khi được đưa ra bởi
khả năng thay đổi của cuộn dây, kích thước bệnh nhân và vị trí tương đối của
chúng. Yêu cầu này tự động điều chỉnh việc giám sát SAR thành khía cạnh SAR nghiêm
trọng nhất. Điều này được minh họa trong bốn ví dụ sau:
Ví dụ 1: Khám người trưởng thành bằng
cuộn chênh từ sóng radio (RF) qua đầu rõ ràng là phơi nhiễm một phần cơ thể (chủ
yếu là đầu). Trong trường hợp này, SAR một phần cơ thể sẽ giới hạn lượng truyền
công suất RF. Tuy nhiên, khám trẻ nhỏ cũng với cuộn chênh từ sóng radio (RF)
qua đầu đó thì lại phải đánh giá dưới dạng phơi nhiễm toàn bộ cơ thể (nếu trẻ
em nằm vừa hoàn toàn bên trong cuộn dây). Trong trường hợp này, SAR toàn bộ cơ
thể sẽ là yếu tố giới hạn.
Ví dụ 2: Khám đầu trẻ em trong thiết bị
cộng hưởng cơ thể có kích cỡ tương đối lớn có thể gây ra giá trị SAR toàn bộ cơ
thể nghiêm trọng hơn giá trị SAR một phần cơ thể.
Ví dụ 3: Khám người trưởng thành có
kích cỡ lớn bằng thiết bị cộng hưởng cơ thể tương đối ngắn có nghĩa là phơi nhiễm
một phần cơ thể lớn hơn phơi nhiễm toàn bộ cơ thể. Trong trường hợp này, SAR của
phơi nhiễm một phần cơ thể phải được giới hạn ở mức an toàn.
Ví dụ 4: Khám người trưởng thành bằng
cuộn chênh từ sóng radio (RF) cục bộ hiển nhiên đòi hỏi điều khiển SAR cục bộ.
Tuy nhiên, trong trường hợp trẻ em và cuộn chênh từ sóng radio (RF) cục bộ
tương đối lớn thì SAR toàn bộ cơ thể có thể trở thành yếu tố nghiêm trọng nhất.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(Khối lượng của
phần cơ thể phơi nhiễm) / (tổng khối lượng của bệnh nhân)
Xem xét dưới đây đã dẫn đến quy định
này. Nếu bệnh nhân nằm hoàn toàn trong cuộn chênh từ sóng radio (RF) thì khối
lượng phơi nhiễm bằng tổng khối lượng của bệnh nhân, và do đó giới hạn liên
quan đến phơi nhiễm một phần cơ thể phải đồng nhất với giới hạn SAR toàn bộ cơ
thể. Sự phụ thuộc tuyến tính trên tỷ số khối lượng đề cập ở trên coi là được đánh
giá để áp dụng. Hình BB.8 thể hiện minh họa bằng hình vẽ điều này.

CHÚ THÍCH Để xác định phân bố công suất
sóng radio (RF)hấp thụ
và để xác định khối
lượng phần cơ thể phơi nhiễm, hình dạng bệnh nhân phải được mô hình hóa dựa
trên các dữ liệu đăng ký của bệnh nhân (ví dụ sử dụng các hình trụ đơn giản mô
phỏng đầu, thân mình và tứ chi). Đối với dữ liệu thống kê của các phép đo chuẩn
trong quá trình xây dựng, cho phép sử dụng các nguồn dữ liệu về nhân trắc học,
ví dụ những tài liệu được công bố bởi Trung tâm quốc gia Hoa kỳ về thống kê sức
khỏe (NCHS).
Hình BB.8 -
Giới hạn SAR đối với phần cơ thể bị phơi nhiễm
Liên quan đến 51.103.1 Giới hạn nhiệt
độ
IEC 60601-1 đưa ra giới hạn nhiệt độ về
mặt (Tlimit = 41 °C) đối với đồ vật có thể tiếp xúc với cơ thể người.
Tuy nhiên, giới hạn này nên thống nhất với các giới hạn đối với phát nhiệt bề mặt
của mạch điện tử (ví dụ cuộn nhận RF). Nhiệt độ da trong các điều kiện bình thường
(không khám cộng hưởng từ) vào khoảng
33 °C, nhưng trong quá trình khám MR với
SAR toàn bộ cơ thể cao, các mạch máu dưới da sẽ giãn ra và nhiệt độ da tiến gần
đến nhiệt độ bên trong (khoảng 37 °C).
Giả thiết các thông số có các giá trị
tương ứng sau:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- nhiệt độ da Ts
là Ta + DT;
- đặt SAR là tốc độ hấp thụ riêng của
toàn bộ cơ thể;
- đặt MET là sự chuyển hóa cơ bản (=
1,2 W/kg),
- đặt m là khối lượng bệnh nhân (=75
kg), và
- đặt s là hằng số (5,67 x
10-8 v/(m2K4)), và
- đặt A là diện tích bề ngoài của bệnh
nhân (=1,9 m2).
Mạch điện tử cần thử được đặt trên hình
nộm thích hợp (cách nhiệt) và giao thức khám cộng hưởng từ 20 min được sử dụng ở
SAR toàn bộ cơ thể cao nhất đối với thiết bị cộng hưởng từ.
Sau đó, độ tăng nhiệt độ bề mặt của mạch
điện tử có thể được giới hạn ở:
12,9 °C – 6,9
SAR hoặc 4 °C, (chọn giá trị lớn hơn)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Có thể ước lượng rằng khi hệ thống
đang vận hành trong chế độ vận hành có điều khiển mức một liên quan đến bệnh
nhân được định vị trong cuộn chênh từ sóng radio (RF) không gian thì SAR toàn bộ
cơ thể của nhân viên cộng hưởng từ có nhiều khả năng nằm trong dải được xác định
bởi chế độ vận hành bình thường: Trường RF B1 ở chế độ vận
hành bình thường vào khoảng 70 % chế độ vận hành có điều khiển mức một. Có thể
giả thiết với độ chính xác thích hợp là trường B1 của cuộn chênh từ sóng radio
(RF) đã được giảm xuống thấp hơn 70 % khi di chuyển từ tâm cuộn dây đến cuối cuộn
dây. Do đó SAR toàn bộ cơ thể của nhân viên cộng hưởng từ không cắt không gian
có hiệu lực của cuộn chênh từ sóng radio (RF) (hoặc “không gian được bao quanh bởi
cuộn dây RF”) ngay cả nếu hệ thống đang vận hành trong chế độ vận hành có không
chế mức một. Giả thiết là chế độ vận hành đối với nhân viên cộng hưởng từ luôn
bằng chế độ vận hành đối với bệnh nhân rõ ràng là một giả thiết dè dặt.
Liên quan đến 51.104 Bảo vệ chống
trường từ tĩnh cao
Thuyết minh đối với việc chọn 2 T làm
giới hạn đối với chế độ vận hành bình thường và 4 T đối với chế độ vận hành có
điều khiển mức một được mô tả trong các đoạn liên quan đến 6.8.2 hh) của phụ lục
này.
Liên quan đến 51.105.3.3 Xác định của
trường tạp tán B1 như yêu cầu đối với báo cáo trong 6.8.3 bb
SAR đối với bệnh nhân nằm trong cuộn
chênh từ sóng radio (RF) được điều khiển bởi hệ thống. Cả SAR của bệnh nhân và
trường từ sóng radio (RF) tương ứng B1 trong tâm của cuộn chênh từ sóng radio
(RF) đều đã biết. SAR dự kiến đối với nhân viên cộng hưởng từ tại những vị trí
không phải tâm của cuộn chênh từ sóng radio (RF) tỷ lệ thuận với SAR của bệnh
nhân tại tâm và tỷ lệ với tỷ số B12 tại vị trí quan tâm
(tức là B12(z) và B12 tại tâm của
cuộn dây (tức là B12(0)).
Tỷ số xác định trường hợp xấu nhất đối
với SAR của công nhân MR tại vị trí quan tâm.
SAR người lao động <=
SAR bệnh nhân * (B12(z)/B12(0))
Công suất sóng radio (RF) được giảm xuống
50 %, khi B1s(z) giảm xuống 3 dB (tức là khoảng 70 %). Đối
với cuộn dây dạng lồng chim điển hình, vị trí này sát với đầu mút của cuộn dây.
Vì nhân viên cộng hưởng từ dự kiến làm
việc trong các vị trí mà đầu và tay của họ nằm gần với tâm hơn các bộ phận khác
trên cơ thể nên SAR trong tay và đặc biệt trong đầu sẽ quan trọng hơn SAR toàn
bộ cơ thể. SAR toàn bộ cơ thể của nhân viên cộng hưởng từ có thể coi là nhỏ hơn
rất nhiều SAR của bệnh nhân.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
THƯ
MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] SHELLOCK, FG. and KANAL, E Magnetic
resonance: Bioffects, Safety, and patient management (Cộng hưởng từ: tác dụng
sinh học, an toàn và theo dõi bệnh nhân). New York:
Lippincott Raven Press, 1996.
[2] SHELLOCK, FG. Pocket Guide to MR
procedures and metallic objects : update 2000 (Hướng dẫn bỏ túi về quy trình
cộng hưởng từ các đối tượng kim loại: cập nhật 2000). New York: Lippincott,
Williams and Wilkins, 2000.
[3] Occupational health and safety
administration, USA. Occupational noise exposure. Occupational health and safety standards
(Tiêu chuẩn sức khỏe và an toàn nghề nghiệp), 1970, Part
1910.95,29 CFR, Ch XVII
[4] European Community. Council directive
86/188/EEC of 26 June 1986 on the protection of workers from the risks
related to exposure to noise at work (Chỉ thị hội đồng
86/188/EEC ngày 26/6/1986 về việc bảo vệ công nhân khỏi rủi ro
liên quan đến phơi nhiễm tiếng ồn trong công việc)
[5] KRYTER, KD. Interruption in days or
years of exposure. In the effects of noise on man (Gián đoạn trong ngày hoặc
năm phơi nhiễm. Trong những ảnh hưởng của tiếng ồn đến con người). 2nd edition.
Acad. Press, 1985, pp 275-275, ISBN 0-12-427460-9.
[6] MC JURY, M. and SHELLOCK, FG. Auditory
noise associated with MRI producers: a review (Tiếng ồn nghe được liên quan
với quy trình MRI: Tổng quan). J Mag Res Im,
2000, 12 : 37-45.
[7] COUTER, SA., OLOPSSON, A., GRAHN,
H., BORG, E. MRI acoutic noise : sound pressure and frequency
analysis (Tiếng ồn âm thanh MRI: Phân tích áp lực và tần số âm
thanh).
J Mag Res Im, 1997, 7 : 606-611.
[8] FOSTER, JE., HALL, DA.,
SUMMERFIELD, AQ., BOWTELI, RW.
Sound level measurements and calculation of safe noise dosage at 3 T (Đo lường
mức âm và tính toán liều ồn an toàn tại 3 tesla). J Mag Res Im, 2000, 12 : 157-164.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[10] MANGHAM, CA. The effect of drugs and
systemic disease on the acoustic reflex (Ảnh hưởng của thuốc và căn bệnh hệ
thống trong phản xạ âm thanh). In SILMAN,
S., ed. The
acoustic reflex, basic
principles and clinical applications. Acad. Press 1984, ISBN 0-12-64350-6.
[11] BARBARO, V. BARTOLINI, P., TARRICONE,
L., Evalution of static magnetic field levels interfering with pacemakers (Đánh giá mức
độ nhiễu từ trường tĩnh có máy điều hòa nhịp tim), Physica
Medica. VII, 1991, p.73-76.
[12] EN 50061 :1988, Safety of
implantable cardiac pacemakers (An toàn máy điều hòa nhịp tim có
thể cấp ghép).
[13] ATHEY, TW., Current FDA guidance for
MR patient exposure and considerations for the future (Hướng dẫn
PDA hiện hành về phơi nhiễm bệnh nhân MR và xem xét về tương lai). Annals of
the New York Academy of Sciences, 1992, 649, p.242-257.
[14] FDA, 1988, (August 2) «Guidance
for content and review of a magnetic resonance diagnostic device 510(k)
application : safety parameter action levels» (Hướng dẫn về nội dung và tổng quan về việc
áp dụng trang thiết bị chẩn đoán : các mức an toàn thông số tác động). Center for
Devices and Radiological Health Report (Rockville, Maryland)
[15] TRATTON, JA. Electromagnetic theory (Thuyết
điện từ) New York : MacGraw-Hill, 1941, p. 153-156.
[16] KANAL, E. An overview of
electromagnetic safety
considerations associated with magnetic resonance imaging (Tổng quan những
xem xét về an toàn điện từ liên quan đến hình ảnh cộng hưởng
từ).
Annals of the New York Academy of Sciences, 1992, 649, p.204-224.
[17] UENO, S. and IWASAKA, M. Properties of
diamagnetic fluid in high gradient magnetic field (Đặc tính của chất lỏng từ
động học trong từ trường gradient cao). J. Appl. Phys., 1994, 75,
p.7177-7179.
[18] UENO, S. and IWASAKA, M.
Parting of water by magnetic field (Rẽ nước bằng trường từ). IEEE Trans.
Magn., 1994, 30, p. 44698-4700.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[20] HALLIDAY, D. and RESNICK, R. Phys. New
York : John Wilay, 1966, P.873.
[21] WIKWSO, JP. Jr. and BARACH, JP. An
Estimate of the steady magnetic field strength required to influence nerve
conduction (Ước lượng cường độ từ trường đều yêu cầu ảnh hưởng
đến tính dẫn thần
kinh).
IEEE Trans. Biomed. Eng., 1980, 27, p. 722.
[22] KILIN, A. Improved apparatus and
technique for electromagnetic determination of blood flow (Dụng cụ và kỹ thuật
hoàn thiện để xác định điện
từ của dòng máu). Rev. Sci. Instrum. 1952, 23, p. 235-240.
[23] BEISCHER, DE., and KNEPTON, JC. Jr. Influence of
strong magnetic field on the
electrocardiogram of squirrel monkey (Saimiri Sciureus) [Ảnh hưởng của từ
trường mạnh đến điện tâm đồ của khỉ lông sóc]. Aerospace.
Med., 1964, 35, p. 939.
[24] SCHENCK, JF. Health and physiological
effects of human exposure to whol-body four-Tesla magnetic fields during MRI (Ảnh
hưởng sức khỏe và sinh lý của người phơi nhiễm toàn thân ở từ trường bốn tesla
trong quá trình MRI). Annals of the New York Academy of Sciences, 1992, 649,
p.285-301.
[25] COLEMAN, MP. and BERAL V. A Review of
epidemiological studies of health effects of living near or working with
electricity generation and transmission equiment (Tổng quan nghiên cứu dịch
tễ học về ảnh hưởng sức khỏe khi sống gần hoặc nơi làm việc có
thiết bị phát và truyền dẫn điện). Int. J. Epid., 1988, 17, p. 1-13.
[26] DENNIS, JA., MUIRHEAD, CR. and ENNIS,
JR. Epidemiological studies of exposure to electromagnetic fields, II:
cancer (Nghiên cứu dịch
tễ học phơi nhiễm trường điện từ, II: ung thư). J. Radiol. Prot.
1991,
11, p. 13-25
[27] KNAVE, GG. And TORNQUIST, SG.
Epidemiological studies on effects of exposure to ELF electromagnetic fields. A
review of biological effects of static and ELF magnetic fields (Nghiên cứu dịch
tễ học về tác động của phơi nhiễm trường điện từ ELF. Tổng quan về tác động
sinh học của từ trường tĩnh và ELF). Ed. JH. Bernhardt, Munich : mmV
Medizin, 1986, p. 143-153.
[28] SAVITZ, DA., WACHTEL, H.,
BARNES, FA., JOHN, EM.
and TORDIK, GJ. Case control study of childhood cancer and exposure to 60 Hz
magnetic fields (Nghiên
cứu ca kiểm soát ung thư trẻ em và phơi nhiễm từ
trường 60 Hz).
Am. J. Epidemiol., 1988, 128, p. 21-38.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[30] WERTHEIMER, N. And LEEPER, E.
Electrical wiring configuration and
childhood cancer (Hình thể hệ thống dây điện và ung thư ở trẻ em). Am.
J. Epidemiol. 1979, 109, p. 273-284.
[31] WERTHEIMER, N. And LEEPER, E. Adult
cancer related to electrical wires near the home (Ung thư của người trưởng thành liên
quan đến đường tải điện gần nhà). Int. J. Epidemiol. 1982, 11, p.
345-355.
[32] CALLE, EE. and SAVITZ, DA.,
«Leukemia in occupational groups with presumed exposure to electrical and
magnetic fields (Bệnh
bạch cầu trong nhóm
nghề có phơi nhiễm
điện trường và từ trường). New England J. Med., 1985, 313, p.
1476-1477.
[33] COLEMAN, M., BELL J., and SKEET R.
Leukaemia incidence in electrical workers (Tỷ lệ mắc bệnh bạch cầu trong
công nhân điện). Lancet,
1981,
1, p. 982-983.
[34] LIN, R. S. et al. Occupational
exposure to electromagnetic fields and the occurrence of brain tumors : an
analysis of possible association (Phơi nhiễm nghề nghiệp với điện từ trường
và sự cố u não : phân tích khả năng liên kết). J. Occup. Med. 1985. 27,
p.413-419.
[35] MCDOWALL, ME. Leukemia
mortality in electrical workers in England and Wales (Số người tử vong do bệnh
bạch cầu trong công nhân điện ở Anh và xứ Uên). Lancet, 1983, 1, p. 246.
[36] MILHAM, S. Jr. Mortality from leukemia
in workers
exposed to electrical and magnetic fields (Tử xuất từ bệnh
bạch cầu trong công nhân phơi nhiễm điện trường và từ trường). New
England J. Med., 1982, 307, p. 249.
[37] BERNHARDT, JH. Non-ionizing radiation
safety:
radio-frequency radiaton, electric and magnetic fields (An toàn bức
xạ không ion hóa : bức xạ tần
số radio, điện trường và từ trường). Phys. Med. Biol., 1992, 4,
p. 807-844.
[38] LYLE, B. L., et al.
Modulation of calcium uptake by concanavalin A and ouabain in normal and
leukemic T-lymphocytes exposed to magnetic fields under calcium cyclotron
resonance conditions (Điều chỉnh sự hấp thu canxi bằng
concanavalin A và ouabain trong các điều kiện bình thường và điều kiện tế bào
lympho T bạch cầu phơi nhiễm từ trường của cộng hưởng gia tốc canxi). Abstracts
of Twelfth Annual Meeting of the Boelectromagnetics Sciety, Santonio, TX, 1990,
p.51.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[40] MANSFIELD, P. and MORRIS, PG. MNR
imaging in Biomedicine (Hình ảnh MNR trong Y sinh) In WAUGH, JS.,
ed. Advances in Magnetic Resonance, Suppl. 2. New York: Academic Prss, 1992
[41] MCLAUCHLAN, KA. The effects of
magnetic fields on chemical reactions (Ảnh hưởng của từ trường
lên phản ứng
hóa
học).
Sci prog, 1981, 67, p 509-529.
[42] WAUGH, J. Biomagnetic effects (Hiệu
quả của từ trường sinh học). In WAUGH, JS, ed. Advances in Magnetic
Resonance, Suppl. 2. New York : Academic Prss, 1982.
[43] PERSSON, BRR. and STAHLBERG, F.
Potential health hazards and safety aspects of clinical NMR examinations (Những
nguy cơ tiềm ẩn về sức khỏe và khía cạnh an toàn của việc
thăm khám NMR điều trị). In BERTIL, BRR, ed. Seminars on
Biomedical Applications of Nuclear Magnetic Resonance Lund, Sweden : Radiation
Physics Dept., Lasarettet.
[44] SAUNDER, RD. and SMITH. H. Safety aspects
of NMR clinical imaging (Khía cạnh an toàn của hình ảnh NMR lâm sàng).
British Medical Bulletin, 1984, 40 (2), p. 148-154.
[45] SHELLOCK, FG. Biological effects and
safety aspects of magnetic resonance imging (Hiệu ứng sinh học và khía cạnh an toàn
của hình ảnh cộng hưởng từ). Magnetic
Resonance Quarterly, 1989, 5(4),
p. 243-261.
[46] TENFORDE, TS., and BUDINGER, TF Biological
effects and physical safety aspects
of NMR imaging and in-vivo spectroscopy (Hiệu ứng sinh học
và các khía cạnh an
toàn vật lý của hình ảnh NMR và quang phổ in-vivo). In THOMAS, SR. and
DIXON, RL., eds. NMR in medicine : Instrumentation and Clinical Applications,
Medical Monograph No. 14, New York : Amer. Assoc. Phys. Med., 1986, p.
493-548.
[47] SHELLOCK, FG., SCHAEFER, DJ and GORDON
CJ. Effect of a 1,5 T static magnetic field on body temperature of DJ man (Hiệu ứng
của từ trường tĩnh 1,5 T lên
nhiệt độ cơ thể của người DJ). Magn. Reson. Med., 1986, 3, p.
644-647.
[48] SPERBER, D., OLDENBOURG,
R. and DRASFIELD, DK. Magnetic field induced temperature change in mice (Từ trường gây thay đổi
nhiệt độ trên chuột).
Neturwissenschaftin, 1984, 71, p. 101.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[50] GAFFEY, CT. and TENFORDE, TS.
Bioelectric properties of frog sciatic nerves during exposure to stationary
magnetic filds (Tính
chất điện sinh của dây thần kinh hông ếch trong
phơi nhiễm trừ trường tĩnh). Radiat. Environ. Biophys., 1983, 22,
p. 61-73.
[51] HONG, CZ. and SHELLOCK, FG. Short-term
exposure to a 1,5 Tesla static magnetic field does not affect
somato-sensory-evoked potentials in man (Phơi nhiễm thời gian ngắn trong từ trường
tĩnh dưới 1,5 T không ảnh hưởng đến tiềm năng gợi cảm giác vật thể trên người).
Magnetic Resonance Imaging, 1990, 8, p.65-59.
[52] HONG, CZ., HARMON, D and YU, J.
Static magnetic fields influence on rat
tail nerve function (Từ
trường tĩnh ảnh hưởng
lên chức năng thần kinh đuôi
chuột).
Arch. Phys. Med. Rehabil., 1986, 67, p. 746-749.
[53] ATKINS, PW. Magnetic field effects
(Hiệu ứng từ trường). Chem Brit, 1986, 12, p.214-218.
[54] COOK, ES., FARDON, FC. and NUTINI, LG.
Effects of magnetic fields on
cellular respiration (Tác động của từ trường lên tế bào hô hấp). In
BARNOTHY, MF., ed.
Biological Effects of Magnetic Fields, Vol.2. New York : Plenum Press, 1969, p. 67-78.
[55] FARDON, JC., POYDOK, SME. and BASULTO,
G. Effect of magnetic fields on the respiration of malignant, embryonic and
adult tissue (Tác động của từ trường lên hô hấp của mô ác tính, phôi thai và
người trưởng thành). Nature, 1966, 211, p. 433.
[56] BARNOTHY, MF. Hematological changes in
mice (Thay đổi máu trong
chuột).
In Barnothy, MF., ed. Biological effects of Magnetic Fields, Vol, 1. New York :
Plenum Press, 1964, p. 109-126.
[57] EISELEIN, JE., BOUTELL, HM. and BIGGS,
MW. Biological effects of magnetic fields - negative results (Tác động sinh
học của từ trường - kết quả âm tính). Aerospace Med, 1961, 32,
p.383-386.
[58] BATTOCLETTI, JH., SALLES-CUNHA, S., HALBACH,
RE. Et al. Exposure of Rhesus Monkeys to 20,000 G teady magnetic field : effect
on blood parameters (Phơi nhiễm của khỉ nâu trong từ trường
đều 20 000 gause : tác động lên các thông số huyết học). Med Phys, 1981, 8,
p. 115- 118.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[60] BUDINGER, TF., BRISTOL,
KS., YEN, CK. et al. Biological effects of static magnetic fields (Tác
động sinh học của từ trường). Abstract, Third Annual meeting, Society of
Magnetic Resonance in Medicine, New York, 1984, p.113.
[61] KANAL, E., SHELLOCK, FG. and SAVITZ,
DA. Survey of reproductive health among female MR operators (Khảo sát sức khỏe sinh sản
trong số nữ công nhân vận
hành cộng hưởng từ). Abstract presented at the Seventy-seventh Annual
Meeting of the Radiological Society of North America, 1991.
[62] VYALOV, A.M. Magnetic fields as a factor in the
industrial environment (Từ trường là một nhân tố của môi trường công nghiệp).
Vestn Akad Mde Nauk SSSR, 1967, 8, p. 72-79.
[63] VYALOV, A.M. Clinico-hygenic and
experimental data on the effects of magnetic fieds under industrial conditions
(Vệ sinh-lâm sàng
và dữ liệu thực nghiệm về tác động của từ trường trong các
điều kiện công nghiệp) in
KHOLODOV, Yu. A., ed. Influence of
Magnetic Fiedls on Biological Objectts, Joint Publ Res Service Rep No. 63038.
Springfield, VA:
National Technical Information
Service, 1974, p. 163-174.
[64] KAY, HH., HERFKENS,
RS., and KAY, BK. Effects of magnetic resonance imaging on Xenopus leavis
embryogenesis (Ảnh hưởng của hình ảnh cộng hưởng từ lên sự phát sinh phôi
Xenopus leavis). Magn Reson Imaging 1988, 6, p. 501-506.
[65] MCROBBIE D., FOSTER MA.
Pulsed magnetic field exposure during pregnancy and implications for NMR foetal
imaging : a study with mice (Phơi nhiễm từ trường dao động trong thời kỳ
mang thai và những gợi ý đối với hình ảnh phôi thai NMR : nghiên cứu với chuột).
Magn Reson Imaging 1985, 3, p.231-234.
[66] PRASAD, N., WRIGHT, DA.,
FORD, JJ., THORNBY, Jl.
Safety of 4-T MR imaging : study of effects on developing frog embryos (An toàn của
hình ảnh cộng hưởng từ 4 tesla : nghiên cứu tác động lên sự phát
triển của phôi ếch). Radiology, 1990 Jan., 174(1), p. 251-253.
[67] SCHENCK, JF., DUMOULIN, CL., REDINGTON,
RW., KRESEL, HY.,
ELLIOTT, RT., and
MCDOUGALL, IL. Human exposure to 4,0 Tesla magnetic fields in a whole-body
scanner (Sự chịu đựng của con người trong từ trường 4 Tesla khi quét toàn
thân). Med Phys. 1992 July, 19(4). p.1089-1098.
[68] RAYLMAN, RR., CLAVO, AC.,
WAHL, CL. Exposure to strong static magnetic field slows the growth
of human cancer cells in vitro (Đặt trong từ trường tĩnh mạnh sẽ
làm chậm sự sinh trưởng của tế bào ung thư người in
vitro).
Bioealectromagnetics, 1996, 17(5), p 358-363.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[70] NARRA, VR., HOWELL, RW., GODDU, SM., RAO, DV.
Effects of a 1,5-Tesla static magnetic field on spermatogenesis and embryogenesis in
mice (Tác động của
từ trường tĩnh 1,5 tesla lên sự sinh tinh và sự phát sinh phôi ở chuột). Invest
Radiol, 1996 Sep, 31(9), p. 586-590.
[71] EHENSON, P., DUBOC,
D., LAVERGNE, T., GUIZE, L.,
GUERIN, F., DEGEORGES, M., and SYROTA,
A. Change in human cardiac rhythm induced by a 2-T static magnetic field (Sự
thay đổi trong nhịp tim người gây ra bởi từ trường tĩnh 2,0 tesla).
Radiology 1988 Jan., 166 (1 Pt1). P. 227-230.
[72] KINOUCHI, Y., YAMAGUCHI, H., TENFORDE,
TS. Theoretical analysis of magnetic field interaction with aortic blood flow (Phân
tích lý thuyết của tương tác từ trường với dòng máu động mạch chủ).
Bioelectromagnetics, 1996, 17(1) p. 21-32.
[73] U.S. Department of Health and Human
Services, Food and Drug Administration, Center for Devices and Radiological
Health. Guidance for Magnetic Resonance Diagnostic Devices - Criteria for Significant Rick
Investigations (Hướng dẫn đối với trang thiết bị cộng hưởng từ chẩn đoán -
Tiêu chí để khảo sát
rủi ro quan trọng). 1997.
[74] National Radiological Protection Board
(UK). Guidance as to Restriction on Exposures to static (DC) Electric and
Magnetic Field [Hướng dẫn để hạn chế phơi nhiễm
trong điện trường tĩnh (DC) và từ trường]. Supplement
to NRPB-GS11,1989.
[75] American Conference of
Govermental Industrial
Hygienists (ACGIH). Threshold Limit Values for Chemical Substances and Physical
Agents (Giá trị giới hạn ngưỡng đối với hóa chất và tác nhân
vật lý).
1993-1994.
[76] MILLER, G. Exposure Guidelines for
Magnetic Fields (Hướng dẫn về phơi nhiễm đối với từ trường). Am Ind Hyg
Assoc Jour. 1997, 48. p. 957-968.
[77] Australian Radiation Laboratory. Safety
Guidelines for Magnetic Resonance Diagnostic Facilities (Hướng dẫn về an toàn cho
các tiện nghi chẩn đoán cộng
hưởng từ).
1991.
[78] International Commission on
Non-ionizing Radiation Protection (ICNIRP). Guidelines on Limits of Exposure to
Static Magnetic Fields (Hướng dẫn về các giới hạn phơi nhiễm từ trường tĩnh).
Health Physics, 1994. 66(1). p. 100-106.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[80] GANONG, WF. Review of Medical
Physiology (Tổng quan về lý sinh trong y học), 6th Edition. Los Altos,
CA : Lange Medical Publ, 1973.
[81] REILLY, JP. Cardiac sensitivity to
electrical stimulation (Độ nhạy của tim với kích thích bằng dòng điện).
U.S. Food and Drug Administration Report MT 89-101,1989.
[82] SCHENCK, JF. Safety of Strong,
Static Magnetic Fields (Độ an toàn của từ trường tĩnh mạnh). J of Magn.
Res. Imaging, 2000, 12, 2-19.
[83] National Electrical Manufacturers
Association, MR Section. Accessory equipment considerations with respect to
magnetic resonace imaging compatibility (Xem xét thiết bị phụ tùng với sự
chú ý về khả năng tương thích với hình ảnh cộng hưởng từ). J of Magn. Res.
Imaging, 1998.
[84] BERNHARDT, JH. The estabilishment of frequency
dependent limits for electric and magnetic fields and evaluation of indirect effects (Xác
lập các giới hạn tần xuất phụ thuộc đối với điện trường và từ trường, đánh giá ảnh
hưởng gián tiếp). Radiat. Environ. Biophys, 1988, 27, p.1-27.
[85] REILLY, JP. Peripheral nerve and
cardiac excitation by time-varying magnetic fields : A comparison of thresholds (Kích
thích thần kinh ngoại biên và tim bằng từ trường thay đổi theo thời
gian : so sánh các ngưỡng). NY Acad. of Sci., 1992, 649,
p.96-117.
[86] LAPICQUE, L., Definition
experimental de I’excitation (Thực
nghiệm xác định sự kích thích). Comtes
Rendues Acad. Sci., 1909, 67, p.280-285.
[87] IRNICH W., SCHMITT F.
Magnetostimulation in MRI (Kích thích từ trong MRI). Mag. Res.
Med. 1995, 33, p. 619-623.
[88] SCHAEFER, D. J. Safety Aspects of
Radio Frequency Power Deposition in Magnetic Resonace (Khía cạnh an
toàn của lắng đọng năng lượng tần số radio trong cộng hưởng từ). E. Kanal,
ed. MRI Clinics
of North America, 1988, 6(4), p. 775-789.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[90] BOURLAND, JD., NYENHUIS,
JA. and SCHAEFER, DJ. Physiologic effects of Intense MRI Gradient Fields.
Neuroimaging Clinics of North America, 1988, 9(2), p. 363-377.
[91] HEBRANK, FX. and GEBHARDT M. SAFE
model - a new method for predicting peripheral nerve
stimulations in MRI (Mô hình an toàn - Phương pháp mới để
dự đoán kích thích thần kinh ngoại biên trong MRI). Soc. Mag.
Res. Im. Proceeding 2000 Conference, 2000, p. 2007.
[92] BOTWELL, R. and BOWLEY, L.M.
Analytic calculations of the E-Fields induced by Time-Varying Magnetic Fields
Generated by Cylindrical Gradient Coils (Tính toán giải tích của Trường E
gây ra bởi từ trường thay đổi theo thời gian được tạo ra bằng các cuộn gradien
hình trụ). Mag. Res. Med., 44. p. 782-790.
[93] HARVAY, P.R. and MANSFIELD, P.
Avoiding Peripheral nerve Stimulation : Gradient Waveform
Criteria For Optimum Resolution in EPI (Ngăn ngừa kích thích thần kinh ngoại
biên : Tiêu chí gradient dạng
sóng cho giải pháp hợp lý trong EPI). Mag. Res. Med. 1994, 32, p.
236-241.
[94] MANSFIELD, P. and HARVEY, PR. Limits
to Neural Stimulation in EPI (Các giới hạn về kích thích thần kinh trong
EPI).
Mag. Res. Med. 1993, 29, p. 746-758.
[95] PRESE. G., HEBRANK, FX. RENZ, W.,
STORCH, T. Physikalische Parameter bei der anwendung der MRT.
Radiologe, 1998, 38, p. 750-758.
[96] BUDINGER, TF., FISCHER, H.,
HENTSCHEL, D., REINFELDER, HE., and
SCHMITT, T.
Physiological
effects of fast oscillating magnetic field gradients (Hiệu ứng sinh lý của
gradient
từ
trường dao động nhanh). Jour. Comp. Ass. Tech, 1991, 15, p. 909-914.
[97] DEN BOER, JA., BAKKER.R., HAM.
CGL. and SMINK, J. Generalization to complex stimulus shape of the nerve
stimulation threshold based on existing knowledge of its relation to sitmulus duration
for rectangular stimull (Tổng hợp hình thức kích thích phức tạp của ngưỡng
kích thích thần kinh trên cơ sở hiểu biết hiện có về mối liên quan của nó với
khoảng thời gian kích thích đối với những kích thích vuông góc).
Preoceedings ISMRM 1999, p.108
[98] SAUNDERS, RD., SIENKIEWICZ, ZJ. and
KOWALCZUK, CK.
Biological
effects of electronagnetic fields and radiation (Hiệu ứng sinh học của
trường
điện
từ và bức xạ).
J. Radiol.
Prot.1992.,
11, p.27-42.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[100] SCHENCK, JF. and HUSSAIN, MA. Power
depostion during magnetic resonace. The effects of local inhomogeneities and
field exclusion (Lắng đọng năng lượng trong quá trình cộng hưởng từ. Những ảnh
hưởng của tính không đồng đều cục bộ và ngăn chặn trường) General Electric
Corporate Research and development Labs. MNR Project Memo No. 84-1999, Oct
17,1984
[101] GANDHI, OP. CHEN, JY. Absorption and
Distribution Patterns of RF Field (Mô hình hấp phụ và phân phối trong
trường RF).
Annals of the New York Academy of Sciences, 1992, 649, p.131-143.
[102] GRANDOLFO, M., POLICHETTI, A.,
VECCHIA, P. and GANDHI, OP. Spatial Distribution of RF Power in Critical Organs
during Magnetic resonance Imaging (Phân bố không gian của
năng lượng RF ở các bộ phận tới hạn trong quá trình hình ảnh cộng hưởng từ). Annals of
the New York Academy of Sciences, 1992, 649, p.176-187.
[103] GABRIEL, C. Localised SAR in people
undergoing NMR imaging (SAR khoanh vùng trong nhũng người trải qua hình ảnh cộng
hưởng từ). A report prepared for the National Radilogical Protection Board,
Chilton, Didcot, Oxon, UK. By University Microwave, London, 1989.
[104] GRANDOLFO, M., VECCHIA, P. and GANDHI,
OP. Magnetic resonance imaging : Calculation of rates of energy obsorption by a
human-torso model (Hình ảnh cộng hưởng từ: tính toán tốc độ
năng lượng hấp phụ bởi mô hình thân mình người).
Bioelectromagnetics. 1990, 11, p.117- 128.
[105] ROWELL, LB. Cardiovascular aspects of human
thermoregulation (Những vấn đề về tim mạch khi điều chỉnh nhiệt ở
người).
Circ. Res., 1983, 52, p.267.
[106] International Radiation Protection
Association (IRPA), International Non-ionizing Radiation Committee (INRC).
Protection of the patient undergoing a magnetic resonance examination (Bảo vệ
bệnh nhân chịu kiểm tra bằng cộng hưởng từ). Health Physisc, 1991, 61,
p. 923-928.
[107] KENNEY, WL. Physiological correlates
of heat intolerance (Tương quan sinh lý học của tính không chịu được sức
nóng). Sports Med., 1985, 2 , p279-286
[108] MINARD, D. Pre-employment and
periodic medical examinatons for workers on hot jobs (Kiểm tra y tế trước
khi tuyển dụng và định kỳ đối với công nhân ở các công việc nóng bức). In
DUKES-DUBOS, FN and HENSCHEL, A., eds., Proceedings of a NIOSH Workshop on
Recommended Heat Stress Standards. Cincinnati, Ohio: US Department of Health
and Human Services. DHSS (NIOSH) 81-108,1980, p.61-70.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[110] PLEET, H., GRAHAM JM. SMITH,
DW. Central nervous system and facial defects associated with maternal
hyperthermia at four to 14 weeks’ gestation (Hệ thống thần kinh trung ương
và các khuyết tật ở mặt liên quan với chứng thân nhiệt cao của mẹ tại bốn đến
14 tuần thai ngén). Pediatrics, 1981, 67, p. 785-789.
[111] ADAIR, ER., and BERGLUND, LG. On the
thermoregulatory consequences of NMR imaging (Về hệ quả điều
chỉnh nhiệt của
Hình ảnh NMR).
Magn. Reson. Imaging, 1986, 4, p.321-333
[112] SCHAEFER, DJ., BARBER, BJ., GORDON, CJ.,
ZIELONKA, J., and HECKER,
J. Thermal effects of magnetic resonnance imaging (MRI) [Hiệu ứng nhiệt của
hình ảnh cộng hưởng từ (MRI)]. In Abstracts: Society of Magnetic Resonance
in Medicine. Volume 2. Berkeley, California : Society of Magnetic Resonance in
Medicine, 1985, p.925-926.
[113] KIDO, DK., MORRIS, TW., ERCKSON, JL., PLEWES, DB., AND SIMON,
JH. Phisiologic changes during high field strength MR imaging (Thay đổi sinh lý
trong quá trình hình ảnh MR cường độ trường cao). Am J Neuroradiol,1987, 8
, p.253-266
[114] ABART, J., BRINKER, G.,
IRLBACHER, W., GREBMEIER,
J., Temperature
and heart rate change in MRI at SAR levels of up to 3 W/kg (Nhiệt độ và tốc
độ tim thay đổi trong MRI tại mức SAR tới 3 W/kg). Abstract, Society for
Magnetic Resonancein Medicine, 1989 August, p.998.
[115] SHELLOCK, FG., SCHAEFER, DJ., CRUES,
JV. Alterations in body and skin temperatures caused by magnetic resonance
imaging : is the recommended exposure for radio frequency radiation
too conservative ? (Sự thay đổi nhiệt độ của cơ thể và da gây ra bởi hình ảnh
cộng hưởng từ: có phải khuyến cáo phơi nhiễm bức xạ tần số radio quá bảo thủ
không ?) Brit. J. Radiol., 1989, 62, p. 902-909
[116] SCHAEFER, DJ.,. Dosimetry
and effects of MR exposure to RF and swiched magnetic fields (Phép
đo liều lượng và ảnh hưởng của phơi nhiễm cộng hưởng từ đến từ trường tần số radio và
từ trường chuyển mạch). In MAGIN, RI., LIBURDY, RP. and PERSSON,
B., eds. Biological Effects and Safety Aspects of Nuclear Magnetic Resonance
Imaging and Spectroscopy. The New York Academy of Sciences, 1991, 649 ,
p.225-236
[117] NIOSH, 1986. Occupational exposure to
hot environments (Phơi nhiễm nghề nghiệp trong môi trường nóng). Revised
criteria, 1986. National Institute for Occupational Safety and
Health, US, Dept. Of Health and Human Services, DHHS (NIOSH), p.86-113
[118] ADAIR, ER., and BERGLUND
LG., Thermoregulatory consequences of cardiovascular impaiment during NMR imaging in
warm/humid environments (Hậu quả điều chỉnh nhiệt làm suy yếu
tim mạch trong quá trình hình ảnh NMR trong môi trường ấm/ẩm). Magn.
Reson. Med, 1989, 7, p.25-37
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[120] CZERSKI, P. and ATHEY, TW. Safety of
magnetic resonance on vivo diagnostic examinations: Theoretical and clinical
considerations (An toàn của cộng hưởng từ trong kiểm tra chẩn đoán in vivo:
Những xem xét lý
thuyết và lâm sàng). Rockville, Maryland: Centre for Devices and
Radiological Health, 1987.
[121] ATHEY, TW. A model of the temperature
rise in the head due to magnetic resonance imaging procedures (Mô hình tăng
nhiệt độ trong đầu do quy
trình hình ảnh cộng hưởng
từ).
Magn. Reson. Med, 1989, 9, p.177-184
[122] BARBER, BJ., SCHAEFER, DJ.,
GORDON, CJ., ZAWIEJA, DC., HECKER, J. Thermal effects of MR imaging: worst-case
studies on sheep (Hiệu ứng nhiệt của hình ảnh MR: nghiên cứu trường hợp xấu nhất
trên cừu).
American Journal of
Roentgenology, 1990, 155, p.1105-1110.
[123] SCOTT, JA. A finite element
model of heat transport in the human eye (Mô hình yếu tố hạn chế của truyền
nhiệt trong mắt người). Phys. Med. Biol., 1988, 33, p.227-241
[124] European Directive on EMF
exposure for workers (Chỉ dẫn châu Âu về phơi nhiễm EMF đối với công nhân),
2004/40/EC, http://europa.eu.int/eur-iex/pri/en/oj/dat/2004/1-184/1-18420040524en
00010009.pdf
[125] International Commission on
Non-lonizing Radiation Protection (ICNIRP). Guidelines for limiting exposure to
time-varying electric, magnetic, and electromagnetic field (up to 300 GHz) [Hướng
dẫn về giới hạn phơi nhiễm điện trường thay đổi theo thời
gian, từ trường và điện trường (đến 300 GHz)]. Health Physics,
April 1998, Volume 74, Number 4, pp 494-522
[126] International Commission on
Non-lonizing Radiation Protection (ICNIRP). Medical magnetic resonance (MR)
procedures : protection of patients. Health Physics, August 2004, Volume 87,
Number2, pp 197-216.
[127] International Commission on Non-lonizing
Radiation Protection (ICNIRP).
[128] American conference of
Goverment and industrial Hygienists. Threshold Limit Values for Chemical
Substances and Physical Agents and Biological Exposure Indeces (Giá trị giới
hạn ngưỡng của hóa chất và tác
nhân tự nhiên và các chỉ số phơi nhiễm sinh học). 1994, p.89
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[130] REILLY, J.P. Peripheral nerve and
cardiac excitation by time-varying magnetic fields : A comparison of thresholds (Kích
thích thần kinh ngoại biên và tim bằng từ trường thay đổi theo thời
gian : so sánh các ngưỡng). NY Acad. of Sci. 1992, 469, p.109
[131] SCHAEFER, D.J. Safety Aspects
of Switched
Gradient Fields (Khía cạnh an toàn của từ trường gradient chuyển mạch).
MRI Clinics of North America, vol.6, No.4, November, 1998, p.743
[132] Radiation Safety Office,
University Hospitals of Cleveland. Information about radiation, radioactivity,
basics, and your safety (Thông tin về bức xạ, phóng xạ, nền, an toàn cho mọi
người) October,1999, at http://www.uhrsof.com/RadSafety/PDF-Doc/Training%20booklet.pdf,
p15
[133] U.S.
Nuclear Regulatory Commission, 10 CFR 20 subpart C, at http://www.nrc.gov/reading-rm/doc-collections/cfr/part
[134] NYENHUIS. J. A., BOURLAND, J.
D., KILDISHEV,
A. V. and SCHAEFER, D.J. Health effects and Safety of Intense MRI
Gradient Fields (Ảnh hưởng sức khỏe và độ an
toàn của trường gradient MRI mạnh). In Magnetic Resonance Procedures :
Health Effects and Safety. Edited
by F.G. Shellock, CRC Pres, 2001 pages 31-54
[135] den BOER, J. M., BOURLAND, J.D., NYENHUIS,
J.A., HAM, C.L.G., ENGELS, J.M.L., HEBRANK, F.X., FRESE, G., and SCHAEFER,D.J.,
Comparison of the threshold for Peripheral Nerve Stimulation during Gradient
Switching in Whole Body MR Systems (So sánh các ngưỡng kích thích thần kinh
ngoại biên trong chuyển mạch gradient ở hệ thống MR toàn thân). J. Magn.
Reson. Imaging, 2002, Vol. 15, pp. 520-525
[136] DENEGRE, J. M., VALLES, J.
M., LIN, K., JORDAN, W. B., MOWRY, K.L..
Cleavage planes in frog eggs are altered by strong magnetic fields (Mặt
bằng chia tách trong trứng ếch bị biến đồi bằng từ trường mạnh). Proc Nati
Acad Sci, 1998,95, 14729-14732
[137] Environmental Health Criteria 232,
Static fields. ISBN
92 4 157232 9, WHO Library Cataloguing- in-Publication Data
[138] Council directive 93/42/EEC, Junne
1993, conceming medical devices
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
General reference
documents
BOTTOMLEY, PA., and EDELSTEIN, WA.
Power deposition in whole-body NMR imaging (Lắng đọng năng
lượng trong hình ảnh NMR toàn thân). Med. Phys., 1981, 8,
p.510-512
SHELLOCK, FG. and KANAL, E. Magnetic
Resonance: Bioeffects, safety and
patient Management (Cộng hưởng từ: Hiệu ứng sinh học, quản lý an toàn
và bệnh nhân). New York :
Lippincot Raven Press, 1996.
SCHAEFER, DJ. Safety Aspects
of Radio Frequency Power Deposition in Magnetic Resonance (Khía cạnh an
toàn của lắng đọng năng lượng tần số radio trong cộng hưởng từ). E. Kanal,
ed. MRI Clinics of North America, 1998, 6(4), p.775-789
SHELLOCK, FG., Pocket Giude to MR
Procedures and Metalic Objects (Hướng dẫn bỏ túi về quy trình MR và các đối
tượng kim loại): Update 2000. New York : Lippincott Williams and Wilkins, 2000
SCHAEFER, DJ. and BOURLAND, JD. Review
of Patient Safety in
Time-Varying Gradient Field (Tổng quan về an toàn của bệnh nhân trong trường
gradient thay đổi theo thời
gian).
J of Magn. Res. Imaging, 2000, 12(1), p.20-29
SHELLOCK, FG., ed. Magnetic Resonance
Procedures : Health Effects and Safety (Quy trình cộng hưởng từ: Ảnh hưởng sức
khỏe và độ an
toàn),
CRC Press, 2001
Bản
chú dẫn các thuật ngữ đã định nghĩa
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Clausse 2 of the General Standard (Điều
2 của Tiêu chuẩn chung) .............................. NG-2
Clausse 2 of the Particular Standard
(Điều 2 của tiêu chuẩn riêng)............................... MR-2
Accompanying document (Tài liệu kèm
theo) ....................................................... rm-82-01
Accessible suface (Bề mặt
có thể tiếp cận) ......................................................... rm-84-07
Compliance volume (Thể tích phù hợp)........................................................... MR-2.12.104
Computer tomography (Chụp X quang vi
tính) ..................................................... rm-41-20.
Control panel (Bảng điều khiển) ........................................................................... rm-83-02
Controlled access area (Vùng tiếp cận
được kiểm
soát).................................. MR-2.11.101
Emergency field shut down
unit (Bộ ngắt trường khẩn cấp)............................. MR-2.11.102
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Effective stimulus duration (Khoảng thời
gian kích thích có hiệu quả) ............... MR-2.101.8
Firt level controlled operating mode
(Kiểu vận hành
được kiểm soát mức
thứ nhất) MR-2.10.102
Gradient output (Gradien đầu ra) ..................................................................... MR-2.101.7
Gradient unit (Gradien đơn vị) ........................................................................ MR-2.2.108
Head RF transmit coil (Đầu cuộn phát
RF)........................................................ MR-2.2.111
Head SAR (Đầu SAR) ..................................................................................... MR-2.101.4
Instruction for use (Hướng dẫn sử dụng) ............................................................. rm-82-02
Local RF transmit coil (Cuộn truyền RF cục bộ) ................................................ MR-2.2.112
Local SAR (SAR) cục bộ ............................................................................... MR-2.105.5
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Magnetic resonance equipment (Thiết bị
cộng hưởng từ) (Thiết bị MR) ............. MR-2.2.101
Magnetic resonance examination (Kiểm
tra cộng hưởng
từ) (Kiểm tra MR)
....... MR-2.10.104
Magnetic resonance system (Hệ thống cộng
hưởng từ)
(Hệ thống MR) ............. MR-2.2.102
Manufacturer (Nhà sản xuất)
................................................................................ rm-85-03
Maximun electrical equipment (Tốc độ
quay gradient
tối đa)............................ MR-2.12.105
Medical electrical equipment (Thiết bị
điện y tế)................................................... NG-2.2.15
Medical supervision (Giám sát y tế) .............................................................. MR-2.12.103
Normal operating mode (Kiểu vận
hành bình thường) .................................... MR-2.10.101
Operator (Người vận hành) ................................................................................. rm-85-02
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Patient (Bệnh nhân) ............................................................................................ rm-62-03
Patient support (Hỗ trợ bệnh nhân) ...................................................................... rm-30-02
Pressure (Áp suất) ............................................................................................ NG-2.11.4
Quench (Hóa khí toàn bộ Heli lỏng)................................................................ MR-2.11.103
Routine monitoring (Theo dõi thường
xuyên) ................................................. MR-2.12.102
Safety hazard (Nguy cơ an toàn) ..................................................................... NG-2.12.18
Safety coil (Cuộn tìm kiếm)............................................................................ MR-2.12.106
Second level controlled operating mode
(Kiểu vận hành được kiểm soát mức thứ hai) MR-2.10.103
Specific (Riêng) ................................................................................................. rm-74-02
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Specific absorbtion rate
(SAR) (Tốc độ hấp thụ riêng)....................................... MR-2.101.1
Specified (Quy định) ........................................................................................... rm-74-02
Time rate of change of the magnetic
field (Tốc độ thay đổi từ trường theo thời gian)(dB/dt).MR-2.101.6
Transverse field magnet (Từ
trường ngang) ..................................................... MR-2.2.105
User (Người sử dụng) ........................................................................................ rm-85-01
Volume RF transmit coil (Thể tích cuộn phát
RF) .............................................. MR-2.2.109
Whole body gradient systemt (Hệ thống
gradient toàn thân).............................. MR-2.2.106
Whole body magnet (Từ tính toàn thân) ........................................................... MR-2.2.104
Whole body magnetic resonance
equipment (Whole body MR equipment) (Thiết bị cộng hưởng
từ
toàn
thân) (Thiết bị MR toàn thân) ..................................................................................................... MR-2.2.103
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Whole body SAR (SAR toàn thân) .................................................................. MR-2.101.2
X-ray image intensifiel (Bộ khuếch
đại hình ảnh X quang) ..................................... rm-32-39
X-ray tube (Bóng X quang) ................................................................................ rm-22-03
MỤC LỤC
Lời nói đầu
Lời giới thiệu
1. Phạm vi và mục đích áp dụng
2. Thuật ngữ và định nghĩa
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.
Nhận biết, ghi nhãn và tài liệu
*26. Rung và ồn
*36. Tương thích điện từ
45. Bình áp lực và các bộ phận chịu áp
lực
49. Ngắt nguồn cung cấp
*51.
Bảo vệ chống nguy cơ quá công suất
52.
Hoạt động không bình thường và trạng thái lỗi
59. Kết cấu và bố trí
Phụ
lục L (tham khảo) - Tài liệu viện dẫn - Các tài liệu đã đề cập trong tiêu chuẩn
này
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phụ lục BB (tham khảo) - Hướng dẫn và
thuyết minh một số điều khoản cụ thể
Thư mục tài liệu tham khảo
Bản chú dẫn các thuật ngữ đã định
nghĩa
1) Hiện nay TCVN 7303-1:2003 (IEC
60601-1:1988) đã được thay thế bằng TCVN 7303-1:2009 (IEC 60601-1:2005)
1) Màu và dạng cơ bản của các biển cảnh
báo và biển cấm được lấy từ 8.3 và 8.1 của ISO 3864.
1) ASTM F2503-05 : 2005, Thông lệ tiêu
chuẩn để ghi nhãn cho các thiết bị y tế và các hạng mục khác về an toàn trong
môi trường cộng hưởng từ.
3 Con số trong ngoặc vuông đề cập đến
Tài liệu tham khảo.