Ký hợp đồng mua bán căn hộ chung cư với người nước ngoài có phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền?

Võ Phi 1,021 lượt xem
07:00 | 26/11/2025
Quy định về việc ký hợp đồng mua bán căn hộ với người nước ngoài và nghĩa vụ thông báo cơ quan nhà nước?
Nội dung chính
  1. Ký hợp đồng mua bán căn hộ chung cư với người nước ngoài có phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền?
  2. Việc báo cáo tình hình sở hữu căn hộ chung cư của người nước ngoài tại Việt Nam quy định ra sao?
  3. Người nước ngoài sở hữu vượt quá số nhà ở liền kề cho phép thì có được cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở không?

Ký hợp đồng mua bán căn hộ chung cư với người nước ngoài có phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền?

Căn cứ Điều 7 Nghị định 95/2024/NĐ-CP quy định về việc quản lý, sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam như sau:

Điều 7. Việc quản lý, sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam
[...]
2. Việc quản lý bán, cho thuê mua, tặng cho nhà ở đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài được quy định như sau:
a) Trước khi ký hợp đồng mua bán, cho thuê mua, tặng cho nhà ở, chủ đầu tư xây dựng nhà ở hoặc bên tặng cho hoặc bên bán nhà ở cho cá nhân, tổ chức nước ngoài phải kiểm tra thông tin trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở. Chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở hoặc bên bán nhà ở chỉ được bán, cho thuê mua, bên tặng cho chỉ được tặng cho nhà ở cho tổ chức, cá nhân nước ngoài theo đúng số lượng quy định;
b) Trong thời hạn tối đa 03 ngày làm việc, kể từ ngày ký hợp đồng mua bán, cho thuê mua, tặng cho nhà ở, chủ đầu tư, bên tặng cho hoặc bên bán nhà ở cho tổ chức, cá nhân nước ngoài có trách nhiệm thông báo thông tin (bằng thư điện tử và bằng văn bản) về tên người mua, địa chỉ nhà ở đã bán, cho thuê mua, đã tặng cho đến cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh nơi có nhà ở để đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan này; trong thời hạn tối đa 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông tin do bên bán, cho thuê mua, tặng cho nhà ở gửi, cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh phải kiểm tra và đăng tải trên Cổng thông tin điện tử các thông tin này.
c) Trước khi cấp Giấy chứng nhận cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận phải kiểm tra thông tin do cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh đăng tải.
[...]

Như vậy, bên bán có trách nhiệm thông báo với cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh nơi có căn hộ về việc ký hợp đồng mua bán căn hộ chung cư với người nước ngoài.

Cụ thể, trong thời hạn tối đa 03 ngày làm việc, kể từ ngày ký hợp đồng mua bán căn hộ chung cư với người nước ngoài thì bên bán có trách nhiệm thông báo thông tin (bằng thư điện tử và bằng văn bản) về tên người mua, địa chỉ căn hộ đã bán đến cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh nơi có căn hộ để đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan này.

Trong thời hạn tối đa 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông tin do bên bán gửi, cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh phải kiểm tra và đăng tải trên Cổng thông tin điện tử các thông tin này.

Ký hợp đồng mua bán căn hộ chung cư với người nước ngoài có phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền?

Ký hợp đồng mua bán căn hộ chung cư với người nước ngoài có phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền? (Hình từ Internet)

Việc báo cáo tình hình sở hữu căn hộ chung cư của người nước ngoài tại Việt Nam quy định ra sao?

Căn cứ khoản 5 Điều 7 Nghị định 95/2024/NĐ-CP thì việc báo cáo tình hình sở hữu căn hộ chung cư của người nước ngoài tại Việt Nam được quy định như sau:

- Cơ quan cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm gửi báo cáo về Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc cấp Giấy chứng nhận theo Mẫu số 02 của Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 95/2024/NĐ-CP kèm theo bản sao Giấy chứng nhận đã cấp cho tổ chức, cá nhân nước ngoài để theo dõi, quản lý;

- Việc cung cấp thông tin, dữ liệu về tình hình cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở cho tổ chức, cá nhân nước ngoài được thực hiện theo quy định về cung cấp thông tin, dữ liệu về nhà ở theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản.

Người nước ngoài sở hữu vượt quá số nhà ở liền kề cho phép thì có được cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở không?

Theo Điều 22 Luật Nhà ở 2023 quy định như sau:

Các trường hợp tổ chức, cá nhân nước ngoài không được cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở
1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc trường hợp quy định sau đây không được cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở mà chỉ được bán hoặc tặng cho nhà ở này cho đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam:
a) Tổ chức, cá nhân nước ngoài được tặng cho hoặc được thừa kế nhà ở không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 17 của Luật này hoặc vượt quá số lượng nhà ở được phép sở hữu theo quy định tại Điều 19 của Luật này hoặc thuộc khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định tại Điều 16 của Luật này;
b) Tổ chức nước ngoài không hoạt động tại Việt Nam, cá nhân nước ngoài không được phép nhập cảnh vào Việt Nam nhưng được tặng cho, được thừa kế nhà ở tại Việt Nam.
2. Đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này được trực tiếp hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác bán hoặc tặng cho nhà ở; đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác đang cư trú, hoạt động tại Việt Nam bán hoặc tặng cho nhà ở.
...

Như vậy, cá nhân người nước ngoài nếu vượt quá số lượng nhà ở liền kề được phép sở hữu tại Việt Nam thì sẽ không được cấp Giấy chứng nhận đối với số lượng nhà ở đã vượt mức được phép sở hữu.

Theo đó, trong trường hợp này cá nhân nước ngoài chỉ được bán hoặc tặng cho nhà ở này cho đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Logo Thư viện Pháp luật
Võ Phi Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Giao dịch nhà đất Xem thêm

Bài viết mới nhất