Vibe là gì? Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian được quy định như thế nào? Thời hạn bảo hộ quyền tác giả hiện hành được quy định như thế nào?
>> Thứ tự thực hiện để được khai thác, sử dụng quyền sao chép để giảng dạy, nghiên cứu như thế nào?
>> Hành vi nào được xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả?
Từ "vibe" xuất phát từ tiếng Anh, được viết tắt từ "vibration". Ban đầu, nó được sử dụng trong các lĩnh vực khoa học để mô tả sự dao động hoặc rung động. Tuy nhiên, theo thời gian, từ này đã được chuyển hóa và trở thành một thuật ngữ phổ biến trong ngôn ngữ hàng ngày, đặc biệt là trong văn hóa trẻ. Trong ngữ cảnh văn hóa đại chúng, đặc biệt là trong âm nhạc và nghệ thuật, từ này thường được dùng để chỉ một cảm giác hoặc trạng thái mà một người, một nơi chốn, hoặc một sự kiện mang lại. Ví dụ, một album nhạc có thể mang lại cảm giác thư giãn ("chill vibe") hoặc một bữa tiệc có thể tạo ra bầu không khí vui vẻ, sôi động. Trong tiếng Việt, "vibe" có thể được hiểu và dịch là "cảm giác", "bầu không khí", hoặc thậm chí là "tính cách" tùy thuộc vào ngữ cảnh sử dụng.
Quý khách lưu ý: Nội dung bài viết “Vibe là gì?” chỉ mang tính chất tham khảo
Theo quy định tại Điều 23 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian được quy định như sau:
1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là sáng tạo tập thể trên nền tảng truyền thống của một nhóm hoặc các cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng, thể hiện tương xứng đặc điểm văn hoá và xã hội của họ, các tiêu chuẩn và giá trị được lưu truyền bằng cách mô phỏng hoặc bằng cách khác. Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bao gồm:
a) Truyện, thơ, câu đố;
b) Điệu hát, làn điệu âm nhạc;
c) Điệu múa, vở diễn, nghi lễ và các trò chơi;
d) Sản phẩm nghệ thuật đồ hoạ, hội hoạ, điêu khắc, nhạc cụ, hình mẫu kiến trúc và các loại hình nghệ thuật khác được thể hiện dưới bất kỳ hình thức vật chất nào.
2. Tổ chức, cá nhân khi sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian phải dẫn chiếu xuất xứ của loại hình tác phẩm đó và bảo đảm giữ gìn giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
Tổ chức, cá nhân khi sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian cần tuân thủ các quy định về dẫn chiếu nguồn gốc xuất xứ của tác phẩm để tôn trọng giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời đảm bảo bảo tồn và giữ gìn giá trị đích thực của tác phẩm, không làm sai lệch hoặc gây hại đến ý nghĩa nguyên
![]() |
File word Luật Quản lý thuế và văn bản hướng dẫn đang còn hiệu lực năm 2024 |

Vibe là gì Tác giả có quyền gì đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
(Ảnh minh họa – Nguồn Internet)
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả là khoản thời gian mà tác giả có thể thu được những quyền và lợi ích hợp pháp từ việc khai thác tác phẩm. Theo quy định tại Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 8 Điều 1 Luật số 36/2009/QH12 như sau:
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả
1. Quyền nhân thân quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật này được bảo hộ vô thời hạn.
2. Quyền nhân thân quy định tại khoản 3 Điều 19 và quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này có thời hạn bảo hộ như sau:
a) Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là bảy mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn hai mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là một trăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình; đối với tác phẩm khuyết danh, khi các thông tin về tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính theo quy định tại điểm b khoản này;
b) Tác phẩm không thuộc loại hình quy định tại điểm a khoản này có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết;
c) Thời hạn bảo hộ quy định tại điểm a và điểm b khoản này chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả.”




