Hướng dẫn tính lương tháng theo số ngày công làm việc trong một tháng mới nhất 2026? Mức lương đóng thuế thu nhập cá nhân 2026?

Nguyễn Trần Cao Kỵ 17,783 lượt xem
22:05 | 03/04/2026
Hướng dẫn tính lương tháng theo số ngày công làm việc trong một tháng mới nhất 2026? Lương bao nhiêu phải đóng thuế thu nhập cá nhân 2026?
Nội dung chính
  1. Hướng dẫn tính lương tháng theo số ngày công làm việc trong một tháng mới nhất 2026?
  2. Lương bao nhiêu phải đóng thuế thu nhập cá nhân 2026?

Hướng dẫn tính lương tháng theo số ngày công làm việc trong một tháng mới nhất 2026?

Việc hướng dẫn tính lương tháng theo số ngày công làm việc trong một tháng sẽ dựa vào quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 105 Bộ luật Lao động 2019 và khoản 1 Điều 111 Bộ luật Lao động 2019 có thể hiểu:

Thời giờ làm việc bình thường không quá 8 giờ/ngày và không quá 48 giờ/tuần. Trường hợp thời giờ làm việc theo tuần thì thời gian làm việc không quá 10 giờ/ngày và không quá 48 giờ/tuần.

Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ đối với người lao động. Về ngày nghỉ hằng tuần, người lao động được nghỉ tính bình quân 1 tháng ít nhất 4 ngày.

Thông thường, mỗi công ty sẽ có quy chế số ngày công làm việc trong tháng khác nhau, tùy vào mỗi quy chế mà sẽ có số ngày công làm việc như 22 ngày, 24 ngày hoặc 26 ngày,...

Đồng thời, theo khoản 3 Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, việc tính trả trợ cấp ốm đau cho người lao động cũng căn cứ tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề chia cho 24 ngày nhân với số ngày nghỉ ốm (dù cho tháng trước liền kề có 24, 25, 26, hay 27 ngày làm việc).

Để làm căn cứ cho việc cách tính lương tháng theo số ngày công làm việc trong một tháng cho người lao động, việc lựa chọn, áp dụng ngày công tiêu chuẩn một tháng cần được thể hiện trong Quy chế tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp.

Tiền lương một tháng, số ngày công tiêu chuẩn một tháng phải được thỏa thuận trong hợp đồng lao động.

Nếu doanh nghiệp áp dụng ngày công tiêu chuẩn một tháng là 26 ngày, thì tiền lương tháng trả theo số ngày công làm việc thực tế được tính như sau:

Tiền lương theo tháng = Tiền lương tháng thỏa thuận trong hợp đồng lao động : 26 x số ngày công đi làm thực tế

Ví dụ:

Tiền lương theo tháng: 15 triệu đồng

Số ngày công tiêu chuẩn một tháng: 26 ngày

Số ngày công làm việc thực tế: 25 ngày

Tiền lương thực tế:

Tiền lương thực tế = 15 triệu đồng : 26 ngày x 25 ngày = 14.423.077 đồng

Theo đó, người lao động làm việc đủ số ngày công ở tháng có tổng số ngày làm việc cộng với ngày nghỉ lễ, tết có hưởng lương (nếu có) bằng 26 ngày, thì tiền lương thực tế được trả bằng mức tiền lương tháng ghi trong hợp đồng lao động.

Trường hợp người lao động làm việc đủ số ngày công ở tháng có tổng số ngày làm việc cộng với ngày nghỉ lễ, tết có hưởng lương (nếu có) cao hơn 26 ngày, thì tiền lương thực tế được trả cao hơn mức tiền lương tháng ghi trong hợp đồng lao động.

Ngược lại, người lao động làm việc đủ số ngày công ở tháng có tổng số ngày làm việc cộng với ngày nghỉ lễ, tết có hưởng lương (nếu có) thấp hơn 26 ngày, thì tiền lương thực tế được trả thấp hơn mức tiền lương tháng ghi trong hợp đồng lao động.

Tuy nhiên, có một trường hợp khác: Do quy định tại điểm a3 khoản 1 Điều 54 Nghị định 145/2020/NĐ-CP có nội dung doanh nghiệp được lựa chọn số ngày làm việc bình thường trong tháng để tính lương, nên doanh nghiệp có thể áp dụng cách tính lương tháng theo tháng như sau:

Tiền lương theo tháng = Tiền lương tháng thỏa thuận trong hợp đồng lao động : (số ngày trong tháng - số ngày nghỉ hằng tuần) x số ngày công đi làm thực tế

Ở cách tính này, mức lương người lao động được nhận thường cố định cho tất cả các tháng trong năm, cho dù các tháng có ngày làm việc bình thường khác nhau thì, lương của tháng có số ngày công tối đa là 24 cũng đều bằng lương của tháng có số ngày công tối đa là 26, 27...

Mức tiền lương theo tháng đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động chỉ bị giảm đi khi mà người lao động nghỉ việc không hưởng lương vào ngày làm việc bình thường, hoặc nghỉ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội.

Việc áp dụng cách tính lương nào căn cứ vào sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, được thể hiện ở hợp đồng lao động và Quy chế tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp.

Hiện hành, theo khoản 4 Điều 45 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định trợ cấp ốm đau như sau:

- Mức hưởng trợ cấp ốm đau của người lao động quy định tại khoản 3 Điều 43 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 bằng 100% tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.

- Mức hưởng trợ cấp ốm đau một ngày được tính bằng mức hưởng trợ cấp ốm đau theo tháng chia cho 24 ngày. Mức hưởng trợ cấp ốm đau nửa ngày được tính bằng một nửa mức hưởng trợ cấp ốm đau một ngày.

Khi tính mức hưởng trợ cấp ốm đau đối với người lao động nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau không trọn ngày thì trường hợp nghỉ việc dưới nửa ngày được tính là nửa ngày; từ nửa ngày đến dưới một ngày được tính là một ngày.

Hướng dẫn tính lương tháng theo số ngày công làm việc trong một tháng mới nhất 2025? Mức lương đóng thuế thu nhập cá nhân 2025?

Hướng dẫn tính lương tháng theo số ngày công làm việc trong một tháng mới nhất 2026? Mức lương đóng thuế thu nhập cá nhân 2026? (Hình từ Internet)

Lương bao nhiêu phải đóng thuế thu nhập cá nhân 2026?

Đầu tiên, theo Điều 19 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 được sửa đổi bởi khoản 4 Điều 1 Luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi 2012 quy định về việc giảm trừ gia cảnh như sau:

Giảm trừ gia cảnh
1. Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú. Giảm trừ gia cảnh gồm hai phần sau đây:
a) Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 9 triệu đồng/tháng (108 triệu đồng/năm);
b) Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng/tháng.
Trường hợp chỉ số giá tiêu dùng (CPI) biến động trên 20% so với thời điểm Luật có hiệu lực thi hành hoặc thời điểm điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh gần nhất thì Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản này phù hợp với biến động của giá cả để áp dụng cho kỳ tính thuế tiếp theo.
...

Tuy nhiên, hiện nay tại khoản 4 Điều 1 Luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi 2012 đã bị bãi bỏ bởi bởi khoản 4 Điều 6 Luật Sửa đổi các Luật về thuế 2014.

Thay vào đó tại Điều 1 Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14 đã quy định mới về mức giảm trừ gia cảnh cụ thể như sau:

Mức giảm trừ gia cảnh
Điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 26/2012/QH13 như sau:
1. Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 11 triệu đồng/tháng (132 triệu đồng/năm);
2. Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/tháng.

Như vậy, hiện nay đối với người có mức lương trên 11 triệu đồng/tháng (132 triệu đồng/ năm) thì phải nộp thuế thu nhập cá nhân.

Trong trường hợp người lao động có một người phụ thuộc thì mức lương phải trên 15,4 triệu đồng/tháng mới phải nộp thuế.

Trường hợp có hai người phụ thuộc tương đương mức lương trên 19,8 triệu đồng/tháng mới phải nộp thuế.

Hiểu một cách đơn giản nếu có càng nhiều người phụ thuộc tương đương với mức lương phải nộp thuế theo quy định càng cao.

Hiện nay, thu nhập tính thuế của người nộp thuế sau khi đã được trừ đi các khoản như đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,... nhưng lương vẫn trên 15,5 triệu đồng/tháng thì mới phải đóng thuế thu nhập cá nhân.

Hiện hành tại Điều 29 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định về điều khoản thi hành:

Điều khoản thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, trừ quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.
...

Đồng thời, tại Điều 10 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định về giảm trừ gia cảnh:

Giảm trừ gia cảnh
1. Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cá nhân cư trú. Giảm trừ gia cảnh gồm:
a) Mức giảm trừ đối với người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm);
b) Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng.
2. Căn cứ biến động của giá cả, thu nhập, Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản 1 Điều này phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
3. Việc xác định mức giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế.
4. Người phụ thuộc là người mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng, bao gồm:
a) Con chưa thành niên; con là người mất năng lực hành vi dân sự, người khuyết tật, không có khả năng lao động;
b) Các cá nhân không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá mức do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định, bao gồm con thành niên đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề; vợ hoặc chồng không có khả năng lao động; bố, mẹ đã hết tuổi lao động hoặc không có khả năng lao động; những người khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng.

Theo đó, tuy Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 nhưng mức giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế sẽ được áp dụng từ ngày 01/01/2026.

Từ năm 2026 trở đi, mức giảm trừ đối với người nộp thuế sẽ được tăng lên thành 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm) và người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng.

Như vậy, thu nhập tính thuế của người nộp thuế sau khi đã được trừ các khoản được giảm trừ nhưng tiền lương vẫn trên 15,5 triệu đồng/tháng thì phải đóng thuế thu nhập cá nhân.

Trường hợp, người nộp thuế có người phụ thuộc để giảm trừ gia cảnh thì lương phải trên 21,7 triệu đồng/tháng thì phải đóng thuế thu nhập cá nhân.

Trường hợp, người nộp thuế có hai người phụ thuộc để giảm trừ gia cảnh thì lương phải trên 27,9 triệu đồng/tháng thì phải đóng thuế thu nhập cá nhân.

Nói một cách dễ hiểu, hiện hành pháp luật về thuế không giới hạn đăng ký số người phụ thuộc để giảm trừ gia cảnh mà chỉ quy định một người phụ thuộc không được tính giảm trừ giả cảnh cùng lúc trên hai người nộp thuế.

Do đó, số lượng người phụ thuộc càng nhiều thì mức lương đến ngưỡng phải đóng thuế thu nhập cá nhân càng cao.

Nguyễn Trần Cao Kỵ
Nguyễn Trần Cao Kỵ Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Quản lý thuế Xem thêm

Bài viết mới nhất