Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì có được khấu trừ thuế GTGT đầu vào không?

— 5,009 lượt xem
07:45 | 17/11/2024
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì có được khấu trừ thuế GTGT đầu vào không? Các trường hợp không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào?
Nội dung chính
  1. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là gì?
  2. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì có được khấu trừ thuế GTGT đầu vào không?
  3. Các trường hợp không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào?

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là gì?

Hiện nay, chưa có quy định pháp luật cụ thể nào quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. Tuy nhiên, có thể hiểu chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là một loại giấy tờ hoặc tài liệu được dùng để ghi lại các thông tin về các khoản chi trả của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, căn cứ tại Điều 15 Thông tư 219/2013/TT-BTC được sửa đổi bởi khoản 10 Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC thì chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt được chia thành các loại như sau:

Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
...
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt gồm chứng từ thanh toán qua ngân hàng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác hướng dẫn tại khoản 3 và khoản 4 Điều này.
...

Như vậy, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt bao gồm chứng từ thanh toán qua ngân hàng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác.

Mặt khác, chứng từ thanh toán qua ngân hàng được giải thích cụ thể tại khoản 3 Điều 15 Thông tư 219/2013/NĐ-CP được sửa đổi bởi Điều 1 Thông tư 173/2016/TT-BTC như sau:

Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
...
3. Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như séc, ủy nhiệm chi hoặc lệnh chi, ủy nhiệm thu, nhờ thu, thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, sim điện thoại (ví điện tử) và các hình thức thanh toán khác theo quy định (bao gồm cả trường hợp bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua sang tài khoản bên bán mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân sang tài khoản bên bán)
...

Bên cạnh đó, căn cứ tại khoản 4 Điều 15 Thông tư 219/2013/TT-BTC được sửa đổi bởi khoản 10 Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC quy định về các chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trường hợp khác bao gồm:

(1) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng;

(2) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ công nợ như vay, mượn tiền; cấn trừ công nợ qua người thứ ba mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng;

(3) Trường hợp hàng hoá, dịch vụ mua vào được thanh toán uỷ quyền qua bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng;

(4) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán qua ngân hàng vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước để thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ.

Cập nhật mới: Hiện hành, Thông tư 219/2013/TT-BTC và Thông tư 26/2015/TT-BTC đã hết hiệu lực, được thay thế bởi Thông tư 69/2025/TT-BTC từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

Theo khoản 1 Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP thì chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là chứng từ chứng minh việc thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của Nghị định 52/2024/NĐ-CP, trừ các chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán.

Như vậy, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là một loại giấy tờ, tài liệu, chứng từ được dùng để ghi nhận thông tin về các khoản chi trả giữ bên bán và bên mua cho mục đích mua dịch vụ, hàng hóa theo quy định của pháp luật quản lý thuế nhưng không thanh toán bằng tiền mặt mà thanh toán thông qua các phương tiện khác như chuyển khoản, ví điện từ...

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt gồm chứng từ thanh toán qua ngân hàng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác.

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì có được khấu trừ thuế GTGT đầu vào không?

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì có được khấu trừ thuế GTGT đầu vào không? (Hình từ internet)

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì có được khấu trừ thuế GTGT đầu vào không?

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 12 Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 được sửa đổi bởi khoản 6 Điều 1 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi 2013 về khấu trừ thuế GTGT đầu vào như sau:

Khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
...
2. Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào được quy định như sau:
a) Có hoá đơn giá trị gia tăng mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu;
b) Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ hàng hoá, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng;
...

Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Thông tư 219/2013/TT-BTC được sửa đổi bởi khoản 10 Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC về điều kiện được khấu trừ thuế GTGT đầu vào như sau:

Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
...
2. Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên, trừ các trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng, hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT và trường hợp cơ sở kinh doanh nhập khẩu hàng hóa là quà biếu, quà tặng của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt gồm chứng từ thanh toán qua ngân hàng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác hướng dẫn tại khoản 3 và khoản 4 Điều này.
...

Như vậy, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ hàng hoá, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng.

Cập nhật mới: Hiện hành, Thông tư 219/2013/TT-BTC và Thông tư 26/2015/TT-BTC đã hết hiệu lực, được thay thế bởi Thông tư 69/2025/TT-BTC từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

Ngoài ra, Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 đã hết hiệu lực từ ngày 01/07/2025 và được thay thế bởi Luật Thuế giá trị gia tăng 2024.

Căn cứ khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 quy định như sau:

Khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
...
2. Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào được quy định như sau:
a) Có hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nước ngoài quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 4 của Luật này. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nước ngoài;
b) Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ một số trường hợp đặc thù theo quy định của Chính phủ;
c) Đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, ngoài các điều kiện quy định tại điểm a và điểm b khoản này còn phải có: hợp đồng ký kết với bên nước ngoài về việc bán, gia công hàng hóa, cung cấp dịch vụ; hóa đơn bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ; chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt; tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu; phiếu đóng gói, vận đơn, chứng từ bảo hiểm hàng hóa (nếu có). Chính phủ quy định về điều kiện khấu trừ đối với trường hợp xuất khẩu hàng hóa qua sàn thương mại điện tử ở nước ngoài và một số trường hợp đặc thù khác.

Theo quy định trên, có thể thấy pháp luật quy định một trong các điều kiện để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào là phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ một số trường hợp đặc thù theo quy định của Chính phủ.

Các trường hợp không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào?

Căn cứ theo quy định khoản 15 Điều 14 Thông tư 219/2013/TT-BTC về các trường hợp không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào bao gồm:

(1) Hóa đơn GTGT sử dụng không đúng quy định của pháp luật như: hóa đơn GTGT không ghi thuế GTGT (trừ trường hợp đặc thù được dùng hóa đơn GTGT ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT);

(2) Hóa đơn không ghi hoặc ghi không đúng một trong các chỉ tiêu như tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán nên không xác định được người bán;

(3) Hóa đơn không ghi hoặc ghi không đúng một trong các chỉ tiêu như tên, địa chỉ, mã số thuế của người mua nên không xác định được người mua (trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 12 Điều này);

(4) Hóa đơn, chứng từ nộp thuế GTGT giả, hóa đơn bị tẩy xóa, hóa đơn khống (không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo);

(5) Hóa đơn ghi giá trị không đúng giá trị thực tế của hàng hóa, dịch vụ mua, bán hoặc trao đổi;

(6) Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT hướng tại tại Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

Cập nhật mới: Hiện hành, Thông tư 219/2013/TT-BTC đã hết hiệu lực và được thay thế bởi Thông tư 69/2025/TT-BTC từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

Căn cứ khoản 15 Điều 23 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định cơ sở kinh doanh không đáp ứng quy định về khấu trừ thuế tại Mục 1, Mục 2 Chương III Nghị định 181/2025/NĐ-CP và các hóa đơn, chứng từ được lập từ các hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 13 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 thì không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng.

Logo Thư viện Pháp luật
— Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Quản lý thuế Xem thêm

Bài viết mới nhất