HĐTP TAND tối cao hướng dẫn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy mới nhất

Tham vấn bởi Luật sư Nguyễn Thụy Hân
01/06/2024 09:42 AM

HĐTP TAND tối cao ban hành Nghị quyết 02/2024/NQ-HĐTP về hướng dẫn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy.

HĐTP TAND tối cao hướng dẫn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy mới nhất

HĐTP TAND tối cao hướng dẫn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy mới nhất (Hình ảnh từ Internet)

Ngày 24/5/2024, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân tối cao ban hành Nghị quyết 02/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015.

HĐTP TAND tối cao hướng dẫn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy tại khoản 1,2,3 Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015 mới nhất

Tại Điều 3 Nghị quyết 02/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 115 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017) về tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy thì người nào vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 115 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017) khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Thực hiện một hoặc nhiều hành vi hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết 02/2024/NQ-HĐTP;

- Có thiệt hại xảy ra theo quy định tại một trong các khoản 1, 2 và 3 Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 115 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017);

- Hành vi vi phạm phải có mối quan hệ nhân quả với thiệt hại xảy ra. Thiệt hại xảy ra phải là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm và ngược lại hành vi vi phạm là nguyên nhân gây ra thiệt hại.

HĐTP TAND tối cao hướng dẫn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy tại khoản 4 Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015 mới nhất

Theo Điều 4 Nghị quyết 02/2024/NQ-HĐTP quy định về việc truy cứu trách nhiệm hình sự tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy tại khoản 4 Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 115 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017) như sau:

- “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 115 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017) nếu không được ngăn chặn kịp thời” quy định tại khoản 4 Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 115 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017) là hành vi vi phạm hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết 02/2024/NQ-HĐTP mà thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Chưa xảy ra cháy nhưng nếu không được ngăn chặn kịp thời thì chắc chắn sẽ cháy và dẫn đến thiệt hại quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 115 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017);

+ Đã xảy ra cháy và tất yếu sẽ dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 115 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017) nhưng do được ngăn chặn kịp thời nên thiệt hại dưới mức quy định tại khoản 1 Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 115 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017).

- “Ngăn chặn kịp thời” là trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các biện pháp ngăn chặn ngay sau khi có hành vi vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy như: dập tắt đám cháy, di chuyển chất nguy hiểm về cháy ra khỏi nơi đông người, mang nguồn lửa, nguồn nhiệt ra khỏi nơi có quy định cấm,... để không xảy ra cháy hoặc đã xảy ra cháy nhưng thiệt hại dưới mức quy định tại khoản 1 Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 115 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017).

Ví dụ: khi vào đổ xăng, A đang hút thuốc lá (lúc này tại cây xăng có 10 người). B yêu cầu A ra ngoài dập tắt thuốc nhưng A không thực hiện mà còn ném điếu thuốc lá đang cháy xuống đất làm lửa bùng cháy, ngay lập tức B đã dùng bình cứu hỏa để dập tắt đám cháy nên chưa có hậu quả xảy ra. Hành vi của A vi phạm quy định về “mang nguồn lửa vào nơi có quy định cấm lửa” và bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 4 Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 115 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017).

HĐTP TAND tối cao hướng dẫn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy trong một số trường hợp cụ thể

Tại Điều 5 Nghị quyết 02/2024/NQ-HĐTP quy định việc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy trong một số trường hợp cụ thể như sau:

- Trường hợp người phạm tội thực hiện công việc bắt buộc phải tuân theo quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người nhưng trong quá trình thực hiện họ vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người xảy ra cháy và gây thiệt hại thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 115 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017) mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 295 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 97 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017).

Ví dụ: A được B thuê hàn mái nhà các phòng Karaoke. Trong quá trình hàn, A không trang bị tấm chắn tia kim loại nóng chảy bắn ra, đồng thời không theo dõi quá trình hàn một cách an toàn nên khi các hạt kim loại nóng mang nhiệt độ cao bắn ra xung quanh đã hình thành các đám cháy lớn gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng. Hành vi của A đã vi phạm quy định tại Mục 2.2.12 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 03:2011/BLĐTBXH ngày 29/7/2011 về an toàn lao động đối với máy hàn điện và công việc hàn điện. Trường hợp này, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 115 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017).

- Trường hợp người phạm tội thực hiện nhiều lần hành vi phạm tội, nếu mỗi lần phạm tội có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì ngoài việc bị áp dụng khung hình phạt tương ứng với tổng số thiệt hại của các lần phạm tội, còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi điểm b khoản 2 Điều 2 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017).

Xem thêm Nghị quyết 02/2024/NQ-HĐTP có hiệu lực kể từ ngày 18/6/2024.

Tô Quốc Trình

Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email info@thuvienphapluat.vn.

Gởi câu hỏi Chia sẻ bài viết lên facebook 628

Bài viết về

lĩnh vực Trách nhiệm hình sự

Chính sách khác

Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, P.6, Q.3, TP.HCM
Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines)
E-mail: info@ThuVienPhapLuat.vn