
Đã có dự thảo Luật sửa đổi Luật Chứng khoán (Hình từ văn bản)
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán (sau đây gọi tắt là dự thảo Luật sửa đổi Luật Chứng khoán).
![]() |
Dự thảo Luật sửa đổi Luật Chứng khoán |
Theo đó, dự thảo Luật sửa đổi Luật Chứng khoán đã đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán như sau:
* Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 4 như sau:
- Sửa đổi, bổ sung khoản 28 như sau:
Kinh doanh chứng khoán là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán, bảo lãnh thanh toán trái phiếu và cung cấp dịch vụ về chứng khoán theo quy định tại Điều 86 và Điều 96a Luật Chứng khoán.
- Sửa đổi, bổ sung khoản 42 như sau:
Quỹ hoán đổi danh mục là quỹ mở hình thành từ việc tiếp nhận, hoán đổi danh mục chứng khoán cơ cấu hoặc tài sản khác theo quy định của Chính phủ lấy chứng chỉ quỹ. Chứng chỉ quỹ hoán đổi danh mục được niêm yết và giao dịch trên hệ thống giao dịch cho chứng khoán niêm yết.
- Sửa đổi, bổ sung khoản 47 như sau:
Người hành nghề chứng khoán là người được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán và làm việc tại tổ chức sử dụng người hành nghề chứng khoán.
- Bổ sung khoản 47a sau khoản 47 như sau:
Tổ chức sử dụng người hành nghề chứng khoán là các tổ chức gồm công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, chi nhánh công ty chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam và chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi là chi nhánh công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam), công ty đầu tư chứng khoán, hoặc các tổ chức khác mà vị trí việc làm theo quy định của pháp luật yêu cầu phải có chứng chỉ hành nghề chứng khoán.
- Bổ sung khoản 50 như sau:
Bảo lãnh thanh toán trái phiếu là việc tổ chức bảo lãnh thanh toán trái phiếu cam kết đơn phương, không hủy ngang về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với người sở hữu trái phiếu thay cho tổ chức phát hành trong trường hợp tổ chức phát hành không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không đúng hạn nghĩa vụ thanh toán gốc, lãi trái phiếu theo các điều khoản trái phiếu và hợp đồng bảo lãnh thanh toán trái phiếu.
- Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 6 như sau:
Nhà nước có chính sách đầu tư hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin cho hoạt động của thị trường chứng khoán; chính sách khuyến khích, đãi ngộ, phát triển và thu hút nguồn nhân lực cho ngành chứng khoán; tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
- Bổ sung Điều 6a vào sau Điều 6 như sau:
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực chứng khoán
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực chứng khoán là môi trường thử nghiệm cho việc ứng dụng công nghệ mới; triển khai sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới trong lĩnh vực chứng khoán có giới hạn về phạm vi, đối tượng, không gian, thời gian thực hiện. Tổ chức tham gia cơ chế thử nghiệm có kiểm soát phải đáp ứng điều kiện, tiêu chí xét duyệt tham gia và chịu sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 8 như sau:
Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán tại địa phương.
- Sửa đổi, bổ sung điểm đ khoản 1 Điều 18 như sau: Văn bản cam kết đáp ứng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 15 Luật Chứng khoán.
- Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 25 như sau: Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày Giấy chứng nhận đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng có hiệu lực, tổ chức phát hành phải công bố Bản thông báo phát hành trên trang thông tin điện tử của tổ chức phát hành và trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.
- Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 Điều 28 như sau:
Sau khi kết thúc đợt chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng, tổ chức phát hành không đáp ứng tỷ lệ tối thiểu 15% số cổ phiếu có quyền biểu quyết (bao gồm cả số cổ phiếu được phân phối trong đợt chào bán) do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn nắm giữ.
Trường hợp tổ chức phát hành có vốn điều lệ tại thời điểm đăng ký chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng từ 1.000 tỷ đồng trở lên, sau khi kết thúc đợt chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng, tổ chức phát hành không đáp ứng tỷ lệ tối thiểu 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết (bao gồm cả số cổ phiếu được phân phối trong đợt chào bán) do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn nắm giữ.
Xem thêm tại dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán.
198