
Luật Thủ Đô 2026 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 (Hình từ internet)
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI chiều 23/4, với 492 đại biểu tham gia biểu quyết, tương ứng 98,40% tổng số đại biểu Quốc hội thông qua Luật Thủ đô 2026 (sửa đổi).
Sau tiếp thu, chỉnh lý, dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) giữ nguyên kết cấu gồm 9 chương, 36 điều, trong đó có 26 điều được chỉnh lý. Đáng chú ý, dự thảo Luật giao cho chính quyền thành phố Hà Nội 199 thẩm quyền đặc thù, vượt trội, gồm 127 thẩm quyền của HĐND, 56 thẩm quyền của UBND và 16 thẩm quyền của Chủ tịch UBND.
Về một số nội dung lớn được tiếp thu, chỉnh lý, dự thảo Luật đã hoàn thiện quy định liên quan đến xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; thí điểm cơ chế, chính sách và kiểm soát quyền lực.
Đối với cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thủ đô, dự thảo Luật được chỉnh lý theo hướng bảo đảm chặt chẽ, khả thi và sát thực tiễn hơn. Nhiều nội dung quan trọng được làm rõ, như thẩm quyền của chính quyền thành phố trong quy hoạch, quản lý không gian phát triển; yêu cầu phối hợp với các bộ, ngành liên quan để kiểm soát chặt chẽ, nhất là đối với không gian tầm cao.
Về quản lý tài chính, ngân sách và ưu đãi thuế, dự thảo Luật được chỉnh lý trên cơ sở kế thừa các quy định hiện hành, không đặt ra chính sách ưu đãi thuế vượt khung pháp luật chung, qua đó bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương. Tuy nhiên, dự thảo vẫn bổ sung có chọn lọc các đối tượng được ưu đãi, hỗ trợ nhằm thúc đẩy các lĩnh vực ưu tiên, đồng thời thiết kế cơ chế linh hoạt hơn trong điều hành ngân sách để đáp ứng yêu cầu phát triển và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
Một nội dung quan trọng khác là quy định về Vùng Thủ đô và liên kết vùng. Dự thảo Luật khẳng định vai trò trung tâm, dẫn dắt của Thủ đô Hà Nội; thiết kế khái niệm “Vùng Thủ đô” theo hướng mở, linh hoạt; tạo cơ chế để các địa phương chủ động tham gia liên kết và được áp dụng quy định của Luật Thủ đô khi triển khai các dự án chung. Đáng chú ý, dự thảo cho phép sử dụng ngân sách địa phương để đầu tư liên vùng, góp phần giải quyết các vấn đề về hạ tầng, môi trường, dịch vụ thiết yếu phục vụ lợi ích chung của toàn vùng.
Luật Thủ đô (sửa đổi) được thông qua lần này không chỉ tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho tổ chức và hoạt động của chính quyền Thủ đô, mà còn mở ra không gian thể chế mới để Hà Nội phát triển nhanh, bền vững, tương xứng với vai trò là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học và hội nhập quốc tế.
Căn cứ Điều 7 Dự thảo Luật Thủ đô có quy định về đề xuất nhiệm vụ, quyền hạn về tổ chức bộ máy và chế độ công vụ như sau:
1. Hội đồng nhân dân Thành phố có thẩm quyền:
a) Quy định tỷ lệ đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách; số lượng, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn các Ban của Hội đồng nhân dân Thành phố và Hội đồng nhân dân cấp xã; số lượng, tiêu chí xác định số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã;
b) Quyết định số lượng và cơ cấu Ủy viên Ủy ban nhân dân Thành phố; quy định số lượng và cơ cấu Ủy viên Ủy ban nhân dân cấp xã;
c) Quy định việc thành lập, tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố phù hợp với mức độ đô thị hóa, điều kiện thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố;
d) Quy định số lượng, việc thành lập, tổ chức lại, giải thể cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc phạm vi quản lý của Thành phố; quyết định thay đổi tên gọi, điều chỉnh chức năng của các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc phạm vi quản lý của Thành phố;
đ) Quy định việc thành lập, tổ chức lại, giải thể, chế độ tự chủ về tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính và việc thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của Thành phố;
e) Quy định chính sách về thu nhập đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hưởng lương từ ngân sách các cấp của Thành phố (sau đây gọi là ngân sách Thành phố); việc sử dụng ngân sách Thành phố và các nguồn tài chính hợp pháp khác để thực hiện chính sách này;
g) Quy định về vị trí việc làm công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của Thành phố;
h) Quyết định biên chế các cơ quan trong hệ thống chính quyền của Thành phố;
i) Quy định chế độ quản lý, sử dụng công chức, viên chức theo nguyên tắc người đứng đầu cơ quan trực tiếp sử dụng công chức, viên chức thực hiện tuyển dụng, đánh giá;
k) Quy định việc thuê, tuyển dụng và bổ nhiệm người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thuộc phạm vi quản lý của Thành phố.
2. Ủy ban nhân dân Thành phố có thẩm quyền:
a) Quy định chính sách, biện pháp tổ chức thực hiện nền hành chính số và công vụ số;
b) Quy định cơ chế, biện pháp phát huy dân chủ ở cơ sở, huy động sự tham gia của người dân trong quản trị địa phương; cơ chế khoán việc và cơ chế khác để phát huy vai trò tự quản của thôn, tổ dân phố.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố có thẩm quyền thành lập, tổ chức lại, giải thể các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của Thành phố theo quy định của Hội đồng nhân dân Thành phố.
2,653