Tuyển tập các bản án về tội chiếm giữ trái phép tài sản của người khác

Bùi Thị Như Ý 175 lượt xem
15:33 | 19/04/2024
Tôi muốn tìm các bản án về tội chiếm giữ trái phép tài của người khác, mong Ban biên tập giúp tôi. Xin cảm ơn!_Liên Kiệt (Hải Phòng)
Nội dung chính
  1. 1. Bản án về tội chiếm giữ trái phép tài sản số 41/2021/HS-ST
  2. 2. Bản án về tội chiếm giữ trái phép tài sản số 326/2021/HS-ST
  3. 3. Bản án về tội chiếm giữ trái phép tài sản số 120/2021/HS-ST
  4. 3. Bản án về tội chiếm giữ trái phép tài sản số 300/2021/HS-ST

Chào anh, Ban biên tập xin giải đáp như sau:

Tại Điều 176 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định về tội chiếm giữ trái phép tài sản như sau:

Điều 176. Tội chiếm giữ trái phép tài sản

1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Dưới đây, là một số bản án về tội chiếm giữ trái phép tài sản:

1. Bản án về tội chiếm giữ trái phép tài sản số 41/2021/HS-ST

- Cấp xét xử: Sơ thẩm

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

- Trích dẫn nội dung: “Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 10/6/2021, sau khi Huỳnh Gia K, Hồ Nguyễn Quang H cùng Lê Diệp Đ, Nguyễn Bảo P, Nguyễn Ngọc Q1 uống cà phê tại quán H30 xong thì cả nhóm ra về. Khi đứng dậy ra về thì Đ đánh rơi 01 ví tiền ở trên ghế Đ ngồi, bên trong ví tiền có 13.700.000 đồng và 01 thẻ ATM ngân hàng V mang tên Lê Diệp Đ. K cũng đứng dậy đi ra nhưng đánh rơi bật lửa nên quay lại lấy thì phát hiện ví tiền của Đ ở trên ghế và bật lửa của K rơi gần đó. K biết ví tiền này là của Đ nên nhặt ví tiền và bật lửa bỏ vào túi áo khoác của mình rồi đi cùng H và Q1 về nhà Q1. Sau đó, K kể cho H nghe về việc nhặt được ví tiền của Đ rồi rủ H cùng nhau chia tiền này, H đồng ý. K đưa cho H số tiền 4.600.000 đồng và giữ lại 9.100.000 đồng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Đ phát hiện bị rơi ví tiền nên gọi cả nhóm quay lại quán. Tại đây, Đ hỏi K và H có lấy ví tiền của Đ không nhưng K và H đều không thừa nhận. Sáng ngày 11/6/2021, nhóm Đ đến nhà K nói với K mình đã nhìn thấy trong camera là K có quay lại chỗ Đ ngồi và hỏi K “có nhặt ví thì trả lại cho tôi” nhưng K vẫn không thừa nhận, sau đó Đ trình báo Công an.Trong quá trình điều tra, Huỳnh Gia K, Hồ Nguyễn Quang H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.”

2. Bản án về tội chiếm giữ trái phép tài sản số 326/2021/HS-ST

- Cấp xét xử: Sơ thẩm

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội

- Trích dẫn nội dung: “Lê Minh C là chủ số tài khoản 1903585404xxxx ngân hàng T. Ngày 24/10/2020, tài khoản trên của C nhận được số tiền 140.000.000 đồng. Lúc đó, C biết là tiền của người khác chuyển nhầm đến nhưng không biết cụ thể là ai. Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên ngày 24/10/2020 C rút số tiền 4.500.000 đồng để thanh toán tiền hàng và mua thuốc cho bản thân. Ngày 26/10/2020, C tiếp tục rút số tiền 40.000.000 đồng để chi tiêu cá nhân và chuyển khoản số tiền 20.000.000 đồng để thanh toán tiền hàng, số tiền còn lại C sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như mua bán hàng, đóng tiền bảo hiểm cho bản thân và chi tiêu cá nhân hết. Khoảng 1 tháng sau khi nhận được số tiền trên, ngân hàng T liên hệ với Lê Minh C về việc có người chuyển nhầm số tiền, do đã rút tiền ra để tiêu nên C nói sẽ kiểm tra lại. Tiếp sau đó vài tháng, ngân hàng tiếp tục liên hệ với C hỏi có đồng ý để ngân hàng cung cấp số điện thoại của C cho ngân hàng và người chuyển nhầm tiền không nhưng C không đồng ý. Sau đó Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Nam Từ Liêm yêu cầu Lê Minh C giao nộp lại số tiền 140.000.000 đồng do anh T chuyển nhầm, anh Nguyễn Văn T cũng yêu cầu C trả lại số tiền nêu trên, tuy nhiên C không có khả năng để khắc phục số tiền trên, không trả lại tiền cho anh T. Theo đó Tòa án tuyên bố bị cáo Lê Minh C phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Lê Minh C 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.Về trả lại tài sản buộc Lê Minh C phải trả lại cho anh Nguyễn Văn T số tiền 140.000.000 đồng.”

3. Bản án về tội chiếm giữ trái phép tài sản số 120/2021/HS-ST

- Cấp xét xử: Sơ thẩm

- Cơ quan xét xử: Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

- Trích dẫn nội dung: “Nguyễn Quốc V là nhân viên phục vụ nhà hàng. Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 25/3/2021, trong quá trình soạn bàn tại nhà hàng V đã phát hiện có 01 chiếc ví da màu nâu của khách hàng để quên, bên trong ví có 20.200.000 đồng cùng một số giấy tờ tùy thân mang tên Lê Thị T. V đã nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền trên nên mang ví lên phòng ngủ của V để cất giấu rồi tiếp tục xuống dọn bàn. Sau khi dọn dẹp xong, V xin anh Nguyễn Trọng L nghỉ làm để về nhà và được anh L đồng ý. Sau đó V bắt taxi và mang theo chiếc ví về nhà. Trên đường đi, V xuống xe lấy hết tiền rồi vứt chiếc ví cùng giấy tờ. Đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, Nguyễn Trọng L gọi điện thoại hẹn V đến nhà hàng có việc, V đồng ý. Tại đây V gặp anh L và chị T. Lúc này, anh L khuyên V nếu nhặt được ví tiền thì trả lại nhưng V chối cãi và khẳng định là không nhặt được ví tiền của chị T. Tại Công an xã P, V nhất quyết chối cãi nhưng qua quá trình đấu tranh V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tòa án tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc V phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản.”

3. Bản án về tội chiếm giữ trái phép tài sản số 300/2021/HS-ST

- Cấp xét xử: Sơ thẩm

- Cơ quan xét xử: Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

- Trích dẫn nội dung: “Khoảng 20 giờ ngày 05/8/2020, anh Huỳnh Văn T điều khiển xe đi trên đường quốc lộ 51. Khi đi đến trước nhà số 41x quốc lộ 51, do đường ngập nước nên xe của anh T bị nước xô ngã làm cốp xe bung ra. Chiếc ví bên trong có số tiền 12.425.000 đồng của anh T để trong cốp xe rơi ra ngoài nhưng anh T không biết. Nguyễn Thế H đang đứng trước nhà dùng đèn pin ra tín hiệu cho xe ô tô chạy chậm lại, tránh nước tràn vào nhà mình thì nhìn thấy chiếc ví của anh T trôi trên mặt nước nên dùng cây kéo lại và giấu vào trong người. Người dân đi đường thấy H nhặt được chiếc ví thì nói cho anh T biết. Anh T đi đến gặp H để xin lại chiếc ví nhưng H không thừa nhận nhặt được rồi bỏ vô nhà cất giấu chiếc ví. Đến sáng ngày 06/08/2020, H lấy số tiền 12.400.000 đồng và để lại 25.000 đồng cùng một số giấy tờ tùy thân của anh T trong chiếc ví rồi vứt ra đường Quốc lộ 51. Sau đó, ông Nguyễn Bí D nhặt được chiếc ví và trả lại cho anh T. Sau khi Nguyễn Thế H không trả lại chiếc ví, anh T đã đến Công an phường B trình báo. Tại Công an phường B, Nguyễn Thế H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tòa án tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế H phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” và xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thế H 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

4. Bản án về tội chiếm giữ trái phép tài sản số 242/2018/HS-ST

- Cấp xét xử: Sơ thẩm

- Cơ quan xét xử: Toà án nhân dân thành phố Z, tỉnh Khánh Hòa

- Trích dẫn nội dung: “Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 10/4/2018 chị Chu Thị Ngọc H đến cửa hàng số 61 TBT, phường PT, do Đặng Thị Kim L làm chủ để mua quần áo. Một lúc sau khi chị H đi về thì phát hiện mình để quên điện thoại di động trên kệ quần áo của Cửa hàng. Chị H gọi vào số điện thoại của chiếc điện thoại Iphone 7 Plus -128 GB thì Đặng Thị Kim L phát hiện ra điện thoại và tắt nguồn. Sau đó L giấu điện thoại của chị H trong chiếc rổ bên trong khu vực cá nhân của L. Lúc này, chị H quay lại cửa hàng và yêu cầu L trả điện thoại nhưng L chối, bảo không biết nên chị H đã vào cửa hàng lục soát và phát hiện có điện thoại Iphone 7 Plus - 128 của chị H mà L đang cất giấu. Chị H đã đến Công an phường trình báo sự việc. Tại cơ quan công an, L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tòa án xử phạt: bị cáo Đặng Thị Kim L: 15.000.000 đồng về tội: “Chiếm giữ trái phép tài sản” sung quỹ Nhà nước.”

Bùi Thị Như Ý
Bùi Thị Như Ý Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất

Nghị quyết 43/2026/NQ-CP về việc kéo dài thời hạn áp dụng thuế BVMT, thuế GTGT
Nghị quyết 43/2026/NQ-CP: Kéo dài thời hạn áp dụng thuế BVMT, thuế GTGT đối với mặt hàng xăng dầu tại Nghị quyết 19 đến hết năm 2026 chi tiết thế nào?

Chính sách kéo dài thời hạn áp dụng thuế BVMT, thuế GTGT đối với mặt hàng xăng dầu đến hết năm 2026 theo Nghị quyết 43/2026/NQ-CP chi tiết thế nào? Trường hợp cần kéo dài thời gian có hiệu lực của Nghị quyết 43/2026/NQ-CP cơ quan nào sẽ trình Chính phủ xem xét, quyết định?