Từ 18/05/2026, hành vi phân biệt đối xử giữa con đẻ với con nuôi bị xử phạt bao nhiêu?
Phân biệt đối xử giữa con đẻ với con nuôi có thể hiểu là việc cha mẹ hoặc người có trách nhiệm đối xử không công bằng giữa con ruột và con nuôi, gây bất lợi cho một bên (thường là con nuôi).
Cụ thể, hành vi này có thể biểu hiện như:
- Không cho con nuôi hưởng quyền lợi như con đẻ (ăn ở, học tập, chăm sóc…)
- Đối xử lạnh nhạt, bỏ bê, hoặc thiên vị con ruột
- Không cho con nuôi hưởng tài sản, thừa kế như quy định
- Có hành vi xúc phạm, kỳ thị vì là con nuôi.
Theo quy định tại Điều 13 Luật Nuôi con nuôi 2010 thì hành vi phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định pháp luật.
Theo đó, mức phạt vi phạm hành chính đối với hành vi phân biệt đối xử giữa con đẻ với con nuôi từ ngày 18/05/2026 thực hiện theo Điều 48 Nghị định 109/2026/NĐ-CP như sau:
Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về nuôi con nuôi
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Khai không đúng sự thật để đăng ký việc nuôi con nuôi;
b) Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi;
c) Không thực hiện nghĩa vụ báo cáo tình hình phát triển của con nuôi trong nước;
d) Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi.
[...]
Theo đó, mức phạt vi phạm hành chính đối với hành vi phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi kể từ ngày 18/05/2026 là từ 1 - 3 triệu đồng.
Lưu ý: Mức phạt vi phạm hành chính đối với hành vi phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi trước ngày 18/5/2026 thực hiện theo điểm a khoản 1 Điều 62 Nghị định 82/2020/NĐ-CP là từ 1 - 3 triệu đồng.
Như vậy, mức xử phạt đối với hành vi phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi từ ngày 18/05/2026 vẫn giữ nguyên từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, không có sự thay đổi so với quy định trước đó.

Từ 18/05/2026, hành vi phân biệt đối xử giữa con đẻ với con nuôi bị xử phạt bao nhiêu? (Hình từ Internet)
Người nhận con nuôi phải đáp ứng điều kiện gì?
Theo Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010 thì người nhận nuôi con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;
- Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;
- Có tư cách đạo đức tốt.
Một số lưu ý:
(1) Những người sau đây không được nhận con nuôi:
- Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;
- Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;
- Đang chấp hành hình phạt tù;
- Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
(2) Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010.
Hệ quả của việc nuôi con nuôi được pháp luật quy định ra sao?
Hệ quả của việc nuôi con nuôi được quy định cụ thể tại Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010 như sau:
(1) Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
(2) Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi.
Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.
(3) Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.
(4) Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];