Thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba là gì?
Điều 283 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định:
Điều 283. Thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba
Khi được bên có quyền đồng ý, bên có nghĩa vụ có thể ủy quyền cho người thứ ba thay mình thực hiện nghĩa vụ nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm với bên có quyền, nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.
Đây là một dạng giao dịch dân sự có sự tham gia của ba chủ thể: bên có nghĩa vụ, bên có quyền và người thứ ba được ủy quyền thực hiện nghĩa vụ. Giao dịch chỉ có hiệu lực khi tất cả các bên đều tự nguyện và đồng thuận, thể hiện nguyên tắc tự do giao kết và định đoạt trong quan hệ dân sự.
Về mặt bản chất pháp lý, thỏa thuận ủy quyền thực hiện nghĩa vụ khác với chuyển giao nghĩa vụ. Trong trường hợp này, người có nghĩa vụ ban đầu không được giải phóng khỏi nghĩa vụ của mình; quan hệ nghĩa vụ vẫn tồn tại giữa họ và bên có quyền. Người được ủy quyền không bị ràng buộc pháp lý buộc phải thực hiện nghĩa vụ, và nếu họ không thực hiện hoặc thực hiện sai, bên có quyền vẫn phải yêu cầu người có nghĩa vụ gốc tiếp tục thực hiện hoặc chịu trách nhiệm theo hợp đồng. Như vậy, việc ủy quyền chỉ là một cơ chế hỗ trợ, không làm thay đổi chủ thể chịu trách nhiệm chính trong quan hệ nghĩa vụ dân sự.

Tìm hiểu bản chất của thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba và chuyển giao nghĩa vụ (Hình từ internet)
Hiểu thế nào là chuyển giao nghĩa vụ?
Điều 370 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định:
Điều 370. Chuyển giao nghĩa vụ
1. Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ.
2. Khi được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ.
Quy định này điều chỉnh một dạng quan hệ có sự tham gia của ba chủ thể: người có nghĩa vụ, người có quyền và người tiếp nhận nghĩa vụ (người thế nghĩa vụ). Trong đó, người đang gánh nghĩa vụ có thể chuyển giao toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ của mình cho người khác, nhưng việc này chỉ có hiệu lực khi có sự chấp thuận của bên có quyền và nghĩa vụ không rơi vào các trường hợp không được phép chuyển giao theo luật (như nghĩa vụ mang tính nhân thân hoặc bị pháp luật hạn chế).
Về bản chất, đây là một giao dịch dân sự, và điều kiện để giao dịch này phát sinh hiệu lực bao gồm: (1) sự đồng thuận của bên có quyền; và (2) nghĩa vụ được chuyển giao không bị pháp luật cấm chuyển giao.
Bộ luật Dân sự 2015 không yêu cầu hình thức cụ thể cho loại giao dịch này, do đó các bên có thể thỏa thuận bằng lời nói, văn bản hoặc các hình thức khác phù hợp với quy định tại Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015. Khi giao dịch chuyển giao có hiệu lực, người có nghĩa vụ ban đầu được giải phóng khỏi trách nhiệm, và người tiếp nhận nghĩa vụ trở thành chủ thể mới phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền.
Có quan điểm cho rằng việc chuyển giao nghĩa vụ chỉ cần sự đồng ý của người tiếp nhận nghĩa vụ và bên có quyền, không cần ý kiến từ bên chuyển giao (người có nghĩa vụ ban đầu). Tuy nhiên, quan điểm này là không phù hợp với tinh thần của Điều 370 Bộ luật Dân sự 2015. Bởi về mặt logic pháp lý, việc chuyển giao nghĩa vụ phải xuất phát từ nhu cầu và ý chí chủ động của chính người đang có nghĩa vụ – người muốn chuyển nghĩa vụ cho người khác vì lý do không thể hoặc không muốn tiếp tục thực hiện. Do đó, bên có nghĩa vụ là chủ thể khởi đầu, từ đó dẫn đến quá trình chuyển giao, tiếp theo là sự đồng ý của người thế nghĩa vụ và bên có quyền.
Trong thực tiễn, cũng có thể xảy ra tình huống người có nghĩa vụ và người tiếp nhận nghĩa vụ đã thỏa thuận xong việc chuyển giao nhưng chưa có sự chấp thuận của bên có quyền tại thời điểm ký kết. Nếu sau đó, bên có quyền biết và đồng ý với việc chuyển giao này, thì theo đúng tinh thần của quy định pháp luật, giao dịch chuyển giao vẫn có hiệu lực pháp lý. Sự đồng thuận của bên có quyền là điều kiện cần để xác lập hiệu lực giao dịch, và không nhất thiết phải có ngay từ thời điểm ban đầu, miễn là nó được thể hiện trước hoặc tại thời điểm nghĩa vụ được thực hiện.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];