Tất tần tật những trường hợp làm chết người mà không phải đi tù?

— 32,627 lượt xem
09:27 | 05/09/2022
Tôi thắc mắc có trường hợp nào làm chết người mà không phải đi tù không? Thanh Thảo “Hà Tĩnh”

Chào chị, đối với yêu cầu của chị, Ban biên tập xin có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 thì tất cả các trường hợp làm chết người mà không phải đi tù bao gồm:

1. Làm chết người trong trường hợp chưa đủ 14 tuổi. 

Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 thì người dưới 14 tuổi sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy khi người chưa đủ 14 tuổi làm chết người sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự hay không phải đi tù.

2. Sự kiện bất ngờ

Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

 Theo Điều 20 Bộ luật Hình sự 2015.

3. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Theo Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015.

4. Phòng vệ chính đáng

- Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

- Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

Theo Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Hình sự 2015.

5. Tình thế cấp thiết

- Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

- Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.

Theo Khoản 1 Điều 23 Bộ luật Hình sự 2015.

6. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội

Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.

Theo Khoản 1 Điều 24 Bộ luật Hình sự 2015.

7. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ

Hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì không phải là tội phạm.

Người nào không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, không áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Theo Điều 25 Bộ luật Hình sự 2015.

8. Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên

Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự.

Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 421, khoản 2 Điều 422 và khoản 2 Điều 423 của Bộ luật này. Cụ thể:

“Điều 421. Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược

  1. Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.”

“Điều 422. Tội chống loài người

  1. Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.”

“Điều 423. Tội phạm chiến tranh

  1. Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.”

Theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Hình sự 2015.

Xem thêm các bài viết liên quan đến:
Logo Thư viện Pháp luật
— Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất

ĐIỂM MỚI Nghị định 390 2026 NĐ CP kinh doanh mua bán vàng từ 16/10/2026 thế nào?
ĐIỂM MỚI Nghị định 390 2026 NĐ CP kinh doanh mua bán vàng từ 16/10/2026 thế nào?

Nghị định 390/2026/NĐ-CP ngày 16/10/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 232/2025/NĐ-CP chính thức có hiệu lực kể từ ngày 16/10/2026. Dưới đây là toàn bộ điểm mới đáng chú ý về kinh doanh mua bán vàng tại Nghị định 390/2026/NĐ-CP.

Sửa Nghị định 24/2012 kinh doanh vàng tại Nghị định 390 2026 NĐ CP thế nào?
Sửa Nghị định 24/2012 kinh doanh vàng tại Nghị định 390 2026 NĐ CP thế nào?

Nghị định 390/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung một số quy định như nguyên tắc quản lý hoạt động kinh doanh vàng, xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu, trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước trong quản lý hoạt động kinh doanh vàng, chế độ báo cáo hoạt động kinh doanh vàng và bãi bỏ một số quy định cụ thể tại Nghị định 24/2012/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 232/2025/NĐ-CP kể từ ngày 16/10/2026. Dưới đây là thông tin chi tiết Nghị định 390/2026/NĐ-CP.