Công ty có bắt buộc phải trả lương cho người lao động tự nguyện làm thêm giờ không?

— 1,934 lượt xem
16:21 | 29/05/2025
Công ty có bắt buộc phải trả lương cho người lao động tự nguyện làm thêm giờ không? Thực tiễn bản án tranh chấp tiền lương làm thêm giờ nhưng không được nhận lương?
Nội dung chính
  1. Công ty có bắt buộc phải trả lương cho người lao động tự nguyện làm thêm giờ không?
  2. Thực tiễn bản án tranh chấp tiền lương làm thêm giờ nhưng không được nhận lương

Công ty có bắt buộc phải trả lương cho người lao động tự nguyện làm thêm giờ không?

Tại khoản 1 Điều 107 Bộ luật lao động 2019 quy định, thời gian làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động.

Theo đó, để người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ thì phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau đây:

- Phải được sự đồng ý của người lao động;

- Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 40 giờ trong 01 tháng;

- Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 107 Bộ luật lao động 2019.

Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 59 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định trường hợp sự đồng ý của người lao động được ký thành văn bản riêng thì tham khảo Mẫu số 01/PLIV Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP.

Theo đó, việc làm thêm giờ mang tính chất tự nguyện, người lao động có quyền không làm thêm nếu không muốn trừ trường hợp quy định tại Điều 108 Bộ luật lao động 2019.

Bản chất của việc làm thêm giờ là sự thỏa thuận giữa các bên, một bên do nhu cầu cần người lao động làm thêm giờ và một bên có nhu cầu làm thêm giờ để có thêm thu nhập. Nếu hai bên cùng thống nhất thỏa thuận thành thì sẽ xảy ra việc làm thêm giờ và sẽ được trả lương làm thêm giờ theo Điều 98 Bộ luật lao động 2019.

Tuy nhiên trong trường hợp người lao động tự nguyện làm thêm giờ để làm xong công việc hay lí do nào khác mà người sử dụng không yêu cầu người lao động phải làm thêm giờ thì người sử dụng lao động không có nghĩa vụ phải trả lương làm thêm giờ cho thời gian đó.

Hoặc nếu người lao động tự nguyện làm thêm giờ mà có thỏa thuận với người sử dụng lao động thì người lao động phải trả lương làm thêm giờ hoặc không tùy theo thỏa thuận của hai bên. Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của hai bên thì khi thỏa thuận, hai bên cần viết viết thành bản giấy và có chữ ký của hai bên. Đổng thời, người lao động tự nguyện làm thêm giờ cũng cần lưu lại chứng cứ mình đã làm thêm giờ tại Công ty.

Công ty có bắt buộc phải trả lương cho người lao động tự nguyện làm thêm giờ không? (Hình từ Internet)

Công ty có bắt buộc phải trả lương cho người lao động tự nguyện làm thêm giờ không? (Hình từ Internet)

Thực tiễn bản án tranh chấp tiền lương làm thêm giờ nhưng không được nhận lương

Tham khảo tình huống tại Bản án về tranh chấp tiền lương làm thêm giờ (13 năm làm thêm thứ 7 không được nhận lương) số 1124/2023/LĐ-PT do Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử ngày 01/12/2023.

Tóm tắt bản án: 

Liên quan đến tranh chấp tiền lương làm thêm giờ giữa bà Trần Thị Kiều N (nguyên đơn) và Công ty TNHH D (bị đơn). Bà N yêu cầu công ty thanh toán tiền làm thêm 1/2 ngày thứ Bảy trong khoảng thời gian từ 23/12/2009 đến 28/02/2021, tổng cộng 221.707.248 đồng.

Bà N cho biết, mặc dù hợp đồng lao động quy định thời gian làm việc là 42,5 giờ/tuần (từ thứ Hai đến thứ Sáu), nhưng bà vẫn đi làm vào ngày thứ Bảy theo thói quen của đồng nghiệp và yêu cầu miệng từ cấp quản lý. Công ty đã thanh toán tiền làm thêm giờ cho giai đoạn từ 01/03/2021 đến 01/02/2023 sau khi bà N cung cấp xác nhận từ quản lý trực tiếp. Tuy nhiên, đối với các giai đoạn trước đó, do không có xác nhận từ quản lý (vì họ đã nghỉ việc) và không có báo cáo làm thêm giờ được duyệt, công ty từ chối thanh toán.

Tòa án nhận định rằng, theo quy định của công ty và pháp luật, việc làm thêm giờ phải có yêu cầu từ cấp quản lý và được xác nhận bằng văn bản. Bà N không cung cấp được bằng chứng thỏa đáng về việc làm thêm giờ trong các giai đoạn trước, nên yêu cầu của bà không được chấp nhận. Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu của bà N.

Bình luận bản án:

Theo đó, mặc dù nguyên đơn có đi làm vào 1/2 các ngày thứ Bảy suốt 13 năm, nhưng việc làm thêm này không có yêu cầu bằng văn bản hay xác nhận của quản lý có thẩm quyền, đồng thời hợp đồng lao động của nguyên đơn cũng nêu thời gian làm việc từ thứ Hai đến thứ Sáu, nguyên đơn chỉ nghe theo yêu cầu miệng từ cấp quản lý và thấy các đồng nghiệp khác cũng đi làm vào thứ Bảy nên nguyên đơn cũng đi làm theo. Các văn bản của nhà phân phối và các đồng nghiệp xác nhận việc nguyên đơn có làm thêm giờ 1/2 ngày thứ Bảy không có cơ sở để xác định nguyên đơn đã làm thêm ngày thứ bảy và đã thực hiện đúng quy trình theo chính sách trả tiền lương làm thêm giờ được bị đơn quy định.

Về nguyên tắc pháp lý, Điều 107 Bộ luật lao động 2019 quy định rất rõ ràng rằng làm thêm giờ phải dựa trên yêu cầu của người sử dụng lao động và có sự đồng ý của người lao động. Nếu người lao động tự ý làm thêm, không có yêu cầu từ công ty hay sự đồng ý của cấp có thẩm quyền thì thời gian làm thêm không được coi là “làm thêm giờ hợp pháp” và người sử dụng lao động không bắt buộc phải trả lương.

Tòa án đã xử lý đúng tinh thần luật khi bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn rằng Công ty chỉ phải trả lương làm thêm giờ khi có yêu cầu hợp lệ và có chứng cứ xác nhận rõ ràng. Nếu không có yêu cầu hay xác nhận, công ty không có nghĩa vụ trả tiền lương làm thêm giờ.

Do đó, khi người lao động tự nguyện làm thêm giờ thì tốt nhất nên có sự thỏa thuận với phía người sử dụng lao động. Người lao động chỉ được hưởng lương làm thêm giờ khi có yêu cầu từ người sử dụng lao động. Khi có yêu cầu làm thêm, người lao động nên đảm bảo có văn bản, email, tin nhắn hoặc giấy tờ xác nhận để làm chứng cứ khi có tranh chấp xảy ra, nếu không có bằng chứng, yêu cầu đòi lương dễ bị bác bỏ. Bên cạnh đó, trước khi làm thêm, người lao động cần biết rõ chính sách nội bộ công ty, quy định pháp luật về làm thêm giờ để tránh thiệt hại không đáng có.

Logo Thư viện Pháp luật
— Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất

Thông báo 11483/TB-BNV lịch nghỉ tết Âm lịch và nghỉ lễ Quốc khánh năm 2027
Thông báo 11483 TB BNV lịch nghỉ tết Âm lịch và Quốc khánh 2027 đối với CBCCVC và người lao động chi tiết thế nào?

Dưới đây là nội dung về Thông báo 11483/TB-BNV của Bộ Nội vụ về việc nghỉ tết Âm lịch và nghỉ lễ Quốc khánh năm 2027 đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và doanh nghiệp.