TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T , TỈNH KIÊN GIANG
BẢN ÁN 69/2024/HNGĐ-ST NGÀY 16/09/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 148/2024/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 37/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28/8/2024 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Mai Thị Kim H - sinh năm 1996 (có mặt)
Địa chỉ: ấp Kinh 4A, xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang
2. Bị đơn: Anh Hoàng Vũ Anh P - sinh năm 1991
Địa chỉ: ấp Kinh 4A, xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt lần 2 không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Mai Thị Kim H trình bày:
Chị Mai Thị Kim H và anh Hoàng Vũ Anh P tự tìm hiểu quen biết nhau khoảng 06 tháng sau đó chung sống với nhau vào năm 2019, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang ngày 20/6/2019.
Lý do xin ly hôn: Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chị H cho rằng do anh P không có con, anh P nghe lời ba mẹ trong mọi việc, có tính gia trưởng, luôn cho mình là đúng, vợ chồng thường hay xảy ra cãi vã và chị H bị đánh nhiều lần, từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt. Nay chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn, tiếp tục chung sống với nhau không hạnh phúc nên chị H đã ly thân với anh P từ đầu năm 2023 cho đến nay.
- Về con chung: Chị H xác nhận không có.
- Về tài sản chung và nợ chung: chị H xác nhận không có.
Tại phiên tòa chị H yêu cầu:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H yêu cầu được ly hôn với anh Phú.
- Về con chung: Chị H xác nhận không có, không yêu cầu Toà án giải quyết - Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác nhận không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tòa án có triệu tập anh Hoàng Vũ Anh P để hòa giải hôn nhân và gia đình, nhưng anh Hoàng Vũ Anh P vắng mặt, nên Tòa án đưa vụ kiện ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng hợp lệ.
* Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Mai Thị Kim H .
- Về quan hệ con chung: Chị H trình bày không có.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã giao quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng anh P vắng mặt. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt anh Hoàng Vũ Anh P .
Xét thấy, anh P chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị H tại Tòa án. Tuy nhiên, Tòa án đã tống đạt đầy đủ và hợp lệ các thủ tục theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng anh P vẫn không đến Tòa án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy mối quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh P chung sống với nhau được UBND xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 64, ngày 20/6/2019, nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị H là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, vợ chồng anh chị chung sống với nhau đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Chị H cho rằng do anh P không có con, anh P nghe lời ba mẹ trong mọi việc, tính tình gia trưởng, luôn cho mình là đúng và chị H bị đánh nhiều lần, từ đó dẫn đến vợ chồng thường hay cự cãi, làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt.
Tại phiên tòa, chị H thể hiện rõ quan điểm muốn ly hôn, không muốn đoàn tụ. Mặt khác, chị H và anh P hai bên đã ly thân với nhau từ đầu năm 2023 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, trong phần nghị án Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H được ly hôn với anh Phú.
[3] Về quan hệ con chung: Chị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về tài sản, nữ trang chung, nợ chung: Chị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Trường hợp anh P cho rằng có tài sản chung và có tranh chấp, sẽ khởi kiện thành một vụ kiện khác và sẽ được xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
[5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị H phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Mai Thị Kim H được ly hôn với anh Hoàng Vũ Anh P .
2. Về quan hệ con chung: Chị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về quan hệ tài sản, nữ trang chung, nợ chung: Chị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Mai Thị Kim H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002647 ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T , tỉnh Kiên Giang.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với anh Hoàng Vũ Anh P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tống đạt hợp lệ./.
Bản án về tranh chấp ly hôn số 69/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 69/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tân Hiệp - Kiên Giang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 16/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về