Bản án về tranh chấp ly hôn và nuôi con số 34/2024/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 34/2024/HNGĐ-ST NGÀY 30/09/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 74/2024/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc“Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 74/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Tường V, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai.

Chỗ ở hiện nay: Số C L, thị trấn P, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt

-Bị đơn: Anh Lê Anh N, sinh năm 1993 Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 22/5/2024, bản tự khai, tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Nguyễn Tường V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Anh N tự nguyện tìm hiểu, không ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai vào ngày 25/12/2014. Chị với anh N chung sống được 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh N ghen tuông và đánh đập chị nhiều lần, ngoài ra chị với anh N còn mâu thuẫn về tiền bạc, anh N đưa tiền cho chị để lo cho gia đình, tuy nhiên đến khi vợ chồng cãi nhau thì anh N lại yêu cầu chị trả tiền lại cho anh. Vì vậy từ đầu năm 2023 đến nay, chị về nhà bố mẹ đẻ ở, khi chị về nhà bố mẹ đẻ ở thì anh N vẫn qua chửi bới chị. Do đó, chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Anh N.

Về con chung: Chị và anh N có 01 con chung là Lê Gia K, sinh ngày 20/9/2016.

Ly hôn, chị V có nguyện vọng được nuôi trực tiếp con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị V không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra, chị Nguyễn Tường V không có yêu cầu gì thêm.

Đối với bị đơn là anh Lê Anh N: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng anh N không đến Tòa án làm việc. Do đó, Tòa án không lấy được ý kiến của anh N đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chị Nguyễn Tường V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tống tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Tường V và anh Lê Anh N tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 25/12/2014 theo giấy chứng nhận kết hôn số 53 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai cấp. Nên hôn nhân giữa chị V và anh N là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.

Trong quá trình chung sống, chị V cho rằng chị với anh N sống không hạnh phúc, thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh N ghen tuông và đánh đập chị nhiều lần, ngoài ra chị với anh N còn mâu thuẫn về tiền bạc. Vì vậy từ đầu năm 2023 đến nay, chị về nhà bố mẹ đẻ ở, khi chị về nhà bố mẹ đẻ ở thì anh N vẫn qua chửi bới chị. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên chị làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Anh N.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng và quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ, nhưng anh N không lên Tòa án làm việc và không có ý kiến gửi cho Tòa án cho thấy anh N đã từ bỏ quyền lợi của mình, không muốn hàn gắn tình cảm với chị V và chính quyền địa phương cũng xác nhận từ năm 2022 chị V đã dẫn con về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ tại thôn B, thị trấn P, huyện C. Từ những cơ sở đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa chị V và anh N đã thật sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị V là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh.

- Về con chung: Chị V và anh N có 01 con chung là Lê Gia K, sinh ngày 20/9/2016. Ly hôn, chị V có nguyện vọng được nuôi trực tiếp con chung.

Tại bản tự khai cháu Lê Gia K trình bày: Hiện nay cháu đang ở cùng với mẹ, mẹ là người chăm sóc cháu, cháu mong muốn được ở cùng với mẹ.

Xét yêu cầu của chị V và cháu K thấy rằng: Hiện con chung chị V vẫn đang trực tiếp nuôi dưỡng, chị V vẫn đảm bảo cho sự phát triển bình thường về mọi mặt của con. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án anh Lê Anh N không lên Tòa án làm việc, không trình bày ý kiến của mình. Do đó, căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu của chị V.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng tiền nuôi con, nên không xem xét.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung khác: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[3] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Tường V được ly hôn với anh Lê Anh N.

- Về con chung: Giao cháu Lê Gia K, sinh ngày 20/9/2016 cho chị Nguyễn Tường V trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên có khả năng lao động hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lê Anh N không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị Nguyễn Tường V.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: Buộc chị Nguyễn Tường V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng chị V đã nộp tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu án phí, lệ phí Tòa án số: 0008264 ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

122
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn và nuôi con số 34/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:34/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chư Păh - Gia Lai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:30/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về