Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng mua bán tài sản số 07/2023/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 07/2023/DS-ST NGÀY 21/04/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN VÀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN

Ngày 21 tháng 04 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 100/2023/TLST- DS ngày 14 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 03 năm 2023, quyết định hoãn phiên tòa số 30/2023/QĐST-DS ngày 31/03/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Văn Ph.

Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Nông.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L – có mặt.

Địa chỉ: Số 10, Trần H, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông.

Bị đơn: Ông Lang Văn M và bà Nguyễn Thị X – vắng mặt lần 02 không có lý do.

Cùng địa chỉ: Thôn Th, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình làm việc bên nguyên đơn trình bày:

Năm 2018 ông LangVăn M, bà Nguyễn Thị X có mua cám thức ăn chăn nuôi gia gia súc còn nợ số tiền là 29.000.000 đồng. Ngày 26/9/2018, ông Ph còn cho ông M, bà X vay thêm số tiền 20.000.000 đồng.

Đến ngày 03/3/2022, ông Lang Văn M, bà Nguyễn Thị X có ký giấy nhận nợ số tiền 49.000.000 đồng (trong đó nợ tiền mua cám là 29.000.000 đồng, tiền vay là 20.000.000 đồng). Ông Ph đã đến đòi nhiều lần nhưng ông M, bà X cố tình không trả. Trong đơn khởi kiện bên nguyên đơn yêu cầu ông M, bà X trả số tiền gốc là 49.000.000 đồng và tiền lãi của số tiền cho vay 20.000.000 đồng là 16.000.000 đồng, tổng số tiền là 65.000.000 đồng. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có yêu cầu rút một phần về tiền lãi suất chỉ yêu cầu Tòa án tính tiền lãi suất 10%/năm đối với số tiền vay 20.000.000 đồng và rút yêu cầu tính lãi suất chậm trả đến ngày xét xử sơ thẩm.

Bị đơn ông Lang Văn M, bà Nguyễn Thị X vắng mặt từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chấp hành tốt, bị đơn không chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 143, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 244, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 351; khoản 2 Điều 357; khoản 1, Điều 430, Điều 440; khoản 4 Điều 466; khoản 2 Điều 468 của BLDS năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bị đơn phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về Tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Ông Lê Văn Ph khởi kiện ông Lang Văn M, bà Nguyễn Thị X trả số tiền gốc 49.000.000 đồng trong đó tiền nợ do vi phạm hợp đồng mua bán cám chăn nuôi 29.000.000 đồng và tiền vay 20.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng vay tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS). Bị đơn hiện đang cư trú tại thôn Th, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy, Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.

[1.2] Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ đúng theo quy định tại Điều 173 của BLTTDS để thông báo thụ lý vụ án, triệu tập đương sự và các văn bản tố tụng khác cho đương sự. Nguyên đơn chấp hành tốt quy định của BLTTDS, bị đơn không chấp hành quy định của BLDS. Phiên tòa lần thứ nhất và lần thứ 2 bị đơn vắng mặt không có lý do. Như vậy, bị đơn tự ý từ bỏ quyền được tham gia tố tụng, quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình quy định tại Điều 6, Điều 72 của BLTTDS. Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo đúng quy định.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông Lê Văn Ph có bán cám thức ăn chăn nuôi gia súc cho ông Lang Văn M, bà Trần Thị X và cho ông M, bà X vay số tiền 20.000.000 đồng là có thật thể hiện qua việc ngày 03/03/2022, ông M, bà X có ký vào giấy nhận nợ tổng số tiền gốc là 49.000.000 đồng, trong đó nợ tiền mua bán cám là 29.000.000 đồng, tiền vay là 20.000.000 đồng từ ngày 26/9/2018, có lập thành văn bản giấy viết tay có chữ ký của ông M, bà X. Tại thời điểm vay tiền các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và hoàn toàn tự nguyện, nội dung của thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của BLTTDS thì “…2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Bị đơn ông M, bà X đã cố ý trốn tránh, không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án và cũng không phản đối việc nhận nợ đó nên đây là những sự kiện không phải chứng minh.

[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn đề nghị ông Ph yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc 49.000.000 đồng, HĐXX thấy rằng: Ông M, bà X đã vi phạm nghĩa vụ dân sự theo 1 Điều 351 của BLDS năm 2015 “1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ”.

Tại khoản 1 Điều 440 của BLDS quy định: Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng.

Tại khoản 1 Điều 463 BLDS quy định: “1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.…” ông M, bà X đã vi phạm nghĩa vụ dân sự nên ông Ph yêu cầu trả số tiền nợ gốc 49.000.000 đồng là có căn cứ để chấp nhận.

[3] Về yêu cầu lãi suất: Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa án tính lãi suất của số tiền vay 20.000.000 đồng theo quy định của pháp luật là 10%/năm từ ngày vay 26/9/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm, HĐXX xét thấy có căn cứ nên chấp nhận. Tiền lãi suất được tính như sau: 20.000.000 đồng x 10%/năm x 54 tháng 26 ngày = 9.144.000 đồng (làm tròn số).

Từ phân tích trên, HĐXX cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông M, bà X phải trả cho nguyên đơn số tiền gốc 49.000.000 đồng và tiền lãi của số tiền vay 20.000.000 đồng là 9.144.000 đồng. Tổng số tiền phải trả là 58.144.000 đồng.

Áp dụng khoản 2 Điều 357 của BLDS để tính lãi suất chậm thi hành án đối với số tiền chậm thị hành cho đến khi thi hành án xong.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có yêu cầu rút một phần về tiền lãi suất, chỉ yêu cầu Tòa án tính tiền lãi suất 10%/năm đối với số tiền vay 20.000.000 đồng và rút yêu cầu tính lãi suất chậm trả đến ngày xét xử sơ thẩm. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện này là hoàn toàn tự nguyện nên áp dụng khoản 2 Điều 244 của BLTTDS đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện mà nguyên đơn đã rút.

[4] Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút là phù hợp nên chấp nhận.

[5]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật là 58.144.000 đồng x 5% = 2.907.000 đồng (làm tròn).

[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 143, Điều 144; khoản 1 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 205 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng: Khoản 1 Điều 351; khoản 2 Điều 357; khoản 1, Điều 430, Điều 440; khoản 4 Điều 466; khoản 2 Điều 468 của BLDS năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Ph.

Buộc ông Lang Văn M và bà Nguyễn Thị X trả cho ông Lê Văn Ph 58.144.000 đồng (trong đó nợ gốc là 49.000.000 đồng; nợ lãi của số tiền gốc 20.000.000 đồng là 9.144.000 đồng).

Áp dụng khoản 2 Điều 244 của BLTTDS đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện mà nguyên đơn đã rút đối với yêu cầu một phần về tiền lãi suất và lãi suất chậm trả đến ngày xét xử sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

2. Về án phí: Buộc ông Lang Văn M và bà Nguyễn Thị X phải nộp 2.907.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả nguyên đơn 1.625.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003950 ngày 06/10/2022 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.”

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

108
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng mua bán tài sản số 07/2023/DS-ST

Số hiệu:07/2023/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cư Jút - Đăk Nông
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 21/04/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về